Tải bản đầy đủ - 82 (trang)
II./ Các nguồn huy động vốn:

II./ Các nguồn huy động vốn:

Tải bản đầy đủ - 82trang

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NGHIỆP



CHUYÊN ĐỀ TỐT



II.1.1.Khấu hao tài sản cố định:

Tài sản cố định là những tư liếu lao động tham gia vào nhiều quá trình sản

xuất. Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn dần và chuyển dần giá trị

vào giá thành sản phẩm. Hao mòn tài sản cố định là một quá trình mang tính khách

quan, phụ thuộc vào nhân tố như chất lượng của bản thân tài sản cố định, các yếu

tố tự nhiên, cường độ sử dụng tài sản cố định,…Trong quá trình sử dụng tài sản cố

định doanh nghiệp phải xác định độ hao mòn của chúng để chuyển dần giá trị hao

mòn vào giá trị của sản phẩm được sản sản xuất ra từ tài sản cố định đó. Việc xác

định mức khấu hao tài sản cố định phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố định

đó cũng như ý muốn chủ quan của con người. Đối với các doanh nghiệp Nhà Nước

trong quá trình khấu hao tài sản cố định phụ thuộc vào ý đồ của Nhà Nước thông

qua quy định, chính sách cụ thể của cơ quan tài chính trong từng thời kỳ. Các

doanh nghiệp khác có thể tự lựa chọn thời hạn sử dụng và phương pháp tính khấu

hao cụ thể. Trong chính sách tài chính cụ thể ở từng thời kỳ, doanh có thể lựa chọn

và điều chỉnh khấu hao tài sản cố định và coi đây là công cụ điều chỉnh cơ cấu vốn

bên trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần chú ý rằng việc điều chỉnh khấu hao không

thể diễn ra một cách tuỳ tiện, không có kế hoạch mà phải dựa trên các kế hoạch tài

chính dài hạn và ngắn hạn đã xác định. Mặt khác, cần chú ý rằng điều chỉnh tăng

khấu hao tài sản cố định sẽ dẫn đến tăng chi phí kinh doanh khấu hao tài sản cố

định trong giá thành sản phẩm nên luôn khống chế bởi giá bán sản phẩm.

II.1.2./ Tích luỹ tái đầu tư:

Tích luỹ tái đầu tư luôn được các doanh nghiệp coi là nguồn tự cung ứng tài

chính quan trọng vì nó có ưu điểm cơ bản sau:

- Doanh nghiệp có thể hoàn toàn chủ động.

- Giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng.

- Giúp các doanh nghiệp tăng thêm tiềm lực tài chính làm giảm tỉ lệ nợ/vốn.

- Càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện chưa

tạo được uy tín với các nhà cung ứng tài chính.



16



NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NGHIỆP



CHUYÊN ĐỀ TỐT



Quy mô tự cung ứng vốn tích luỹ tái đầu tư tuỳ thuộc vào hai nhân tố chủ

yếu là tổng số lợi nhuận thu được trong từng thời kỳ kinh doanh cụ thể và chính

sách phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Tổng số lợi nhuận cụ thể thu

được trong từng thời kỳ phụ thuộc vào quy mô kinh doanh, chất lượng hoạt động

kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ đó. Chính sách phân phối lợi

nhuận trước hết tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp.

II.2./ Các phương thức cung ứng từ bên ngoài:

II.2.1./Cung ứng vốn từ ngân sách Nhà Nước:

Với hình thức cung ứng từ ngân sách Nhà Nước doanh nghiệp sẽ nhận được

lượng vốn xác định từ ngân sách Nhà Nước cấp. Thông thường hình thức này

không đòi hỏi nhiều điều kiện ngặt nghèo đối với doanh nghiệp được cấp vốn như

các hình thức vốn huy động khác nhau.

Tuy nhiên, càng ngày hình thức cung ứng vốn từ ngân sách Nhà Nước đối

với các doanh nghiệp ngày càng thu hẹp cả về quy mô vốn và phạm vi cung cấp

vốn. Hiện nay, đối với tượng được cung cấp vốn theo hình thức này thường phải là

các doanh nghiệp Nhà Nước xác định duy trì để đóng vai trò điều tiết nền kinh tế;

các dự án đầu tư ở lĩnh vực sản xuất hàng hoá công cộng, hoạt động công ích mà

tư nhân không muốn và không có khả năng đầu tư; các dự án lớn có tầm quan

trọng đặc biệt do Nhà Nước đầu tư.

II.2.2./ Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu:

Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu là hình thức doanh nghiệp được cung

ứng trực tiếp từ thị trường chứng khoán. Khi có cầu về vốn và lựa chọn hình thức

này, doanh nghiệp tính toán và phát hành cổ phiếu, bán trên thị trường chứng

khoán. Hình thức cung ứng vốn này có đặc trưng cơ bản là tăng vốn không làm

tăng nợ của doanh nghiệp bởi những người chủ sở hữu cổ phiếu thành những cổ

đông của doanh nghiệp. Vì lẽ này nhiều nhà quản trị học coi hình thức gọi hình

thức hùn vốn qua phát hành cổ phiếu là nguồn cung ứng vốn nội bộ.

Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp được phép khai thác nguồn vốn

này mà chỉ những doanh nghiệp được phát hành cổ phiếu (công ty cổ phần, doanh

nghiệp Nhà Nước có quy mô lớn).



17



NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NGHIỆP



CHUYÊN ĐỀ TỐT



Hình thức huy động vốn qua phát hành cổ phiếu có ưu điểm rất lớn là tập

hợp được lượng vốn ban đầu và dễ tăng vốn trong quá trình kinh doanh, quyền sở

hữu vốn tách khỏi quản trị một cách một tương đối nên bộ máy quản trị doanh

nghiệp được toàn quyền sử dụng vốn có hiệu quả nguồn vốn này.

Bên cạnh đó, hình thức gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu có hạn chế là

doanh nghiệp phải có nghĩa vụ khai háo thông tin tài chính theo luật doanh nghiệp;

Khi thừa vốn không hoặc chưa sử dụng đến doanh nghiệp không hoàn trả lại được

vì vậy, khi có nhu cầu gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu đòi hỏi doanh nghiệp

phải tính toán, cân nhắc. Mặt khác, hình thức huy động vốn này có thể làm cổ tức

giảm cho nên doanh nghiệp phải có quy mô lớn hứa hẹn lợi nhuận cao mới dễ bán

cổ phiếu trên thị trường.

II.2.3.Vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn :

Hình thức vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn là hình thức

cung ứng vốn trực tiếp từ công chúng: doanh nghiệp phát hành lượng vốn cần thiết

dưới hình thức trái phiếu thường có kỳ hạn xác định và bán cho công chúng. Khác

với hình thức phát hành cổ phiếu, hình thức phát hành cổ phiếu với đặc điểm là

tăng vốn và tăng nợ của doanh nghiệp.

Vay vốn bằng phát hành trái phiếu có những ưu điểm chủ yếu là: có thể thu

hút một lượng vốn lớn cần thiết, chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp hơn so với

vay ngân hàng, không bị người cung ứng kiểm soát chặt chẽ như vay ngân hàng và

doanh nghiệp có thể lựa chọn trái phiếu thích hợp với yêu cầu của mình.

Tuy nhiên, hình thức huy động từ phát hành trái phiếu cũng có những hạn

chế nhất định. Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp nắm chắc kỹ thuật tài chính để

tránh áp lực nợ đến hạn trả và vẫn có lợi nhuận, đặc biệt khi nền kinh tế suy thoái,

lạm phát cao. Chi phí kinh doanh phát hành cổ phiếu khá cao vì doanh nghiệp cần

trợ giúp của một (một số) ngân hàng thương mại. Doanh nghiệp phải tính toán thoả

mãn điều kiện: Tài sản cố định phải nhỏ hơn tổng số vốn và nợ dài hạn của doanh

nghiệp. Mặt khác, không phải mọi doanh nghiệp mà chỉ những doanh nghiệp nào

thoả mãn điều kiện theo luật định mới được phép phát hành trái phiếu.

II.2.4./ Vay vốn từ ngân hàng thương mại:

Vay vốn từ ngân hàng thương mại là hình thức doanh nghiệp vay vốn dưới

hình thức ngắn hạn, trung hạn, dài hạn từ các ngân hàng thương mại, đây là mối

quan hệ tín dụng giữa một bên cho vay và một bên đi vay.



18



NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NGHIỆP



CHUYÊN ĐỀ TỐT



Với hình thức vay vốn từ ngân hàng thương mại doanh nghiệp có thể huy

động được một lượng vốn lớn, đúng hạn và có thể mời các ngân hàng cùng tham

gia thẩm định dự án nếu có cầu vay đầu tư lớn. Bên cạnh đó để có thể vay vốn từ

ngân hàng thương mại đòi hỏi doanh nghiệp phải có uy tín lớn, kiên trì đàm phán,

chấp nhận các thủ tục ngặt nghèo. Trong quá trình sử dụng vốn, doanh nghiệp phải

tính toán trả nợ ngân hàng theo đúng kế hoạch. Mặt khác, khi doanh nghiệp vay

vốn ở các ngân hàng thương mại có thể bị ngân hàng thương mại đòi hỏi quyền

kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian cho vay, chẳng hạn;

- Ngân hàng cho vay có thể khống chế giá trị TSCĐ để tránh “ngâm vốn”,

tránh rủi ro;

- Doanh nghiệp sẽ không được vay thêm dài hạn nếu không có sự đồng ý của

ngân hàng cho vay;

- Doanh nghiệp không được đem thế chấp tài sản nếu không có sự đồng ý

của ngân hàng cho vay;

- Ngân hàng cho vay có áp đặt cơ chế kiểm soát chi phối hoạt động đầu tư để

phòng ngừa doanh nghiệp sử dụng vốn bừa bãi;

- Ngân hàng cho vay có thể đòi hỏi can thiệp vào sự thay đổi ban lãnh đạo

của doanh nghiệp;…

II.2.5./Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp:

Trong hoạt động kinh doanh do đặc điểm quá trình cung ứng hàng hoá và

thanh toán không thể khi nào cũng phải diễn ra đồng thời nên tín dụng thương mại

tồn tại là một nhu cầu khách quan. Thực chất, luôn diễn ra đồng thời doanh nghiệp

nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền của khách hàng. Nếu số tiền doanh nghiệp

chiếm dụng của khách hàng lớn hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng thì số tiền

dư ra sẽ mang bản chất tín dụng thương mại. Có các hình thức tín dụng thương mại

chủ yếu sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp mua máy móc thiết bị theo phương thức trả chậm. Sẽ

chỉ có hình thức tín dụng này nếu được ghi rõ trong hợp đồng mua bán về giá cả,

số lần trả và số tiền trả mỗi lần, khoảng cách giữa các lần trả tiền. Như thế, doanh

nghiệp có máy móc thiết bị sử dụng ngay nhưng tiền chưa phải trả ngay, số tiền

chưa trả là số tiền mà doanh nghiệp chiếm dụng được của người cung ứng.



19



NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NGHIỆP



CHUYÊN ĐỀ TỐT



Trong môi trường kinh doanh hiện nay, với nhiều mặt hàng thì mua bán chưa

phải trả ngay được coi là chiến lược maketing của người bán cho nên doanh nghiệp

dễ dàng tìm kiếm tín dụng từ loại này. Đặc biệt, khi thị trường có nhiều nhà cung

ứng cạnh tranh với nhau doanh nghiệp càng có lợi thế về giá cả, kỳ hạn trả,… Khi

quá trình này diễn ra một cách thường xuyên thì nguồn chiếm dụng này như là một

nguồn tín dụng trung hoặc dài hạn. Với phương thức tín dụng này doanh nghiệp có

thể đầu tư chiều sâu với vốn ít mà không ảnh hưởng tới tình hình tài chính của

mình. Hình thức tín dụng mua máy móc thiết bị theo phương thức trả chậm lại

càng có ý nghĩa với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu các điều kiện để vay vốn từ

các nguồn khác.

Bên cạnh đó, hình thức mua máy móc thiết bị theo phương thức trả chậm có

những hạn chế nhất định. Chẳng hạn, mua theo phương thức này doanh nghiệp sẽ

phải chịu chi phí kinh doanh sử dụng vốn khá cao. Mặt khác, doanh nghiệp chỉ có

thể mua theo hình thức trả chậm nếu doanh nghiệp có uy tín, có truyền thống tín

dụng sòng phẳng cũng như tình hình tài chính lành mạnh.

Thứ hai, Vốn khách hàng ứng trước.

Trong quá trình kinh doanh, khi ký hợp đồng đặt hàng khách hàng thường

phải đặt cọc trước một số tiền nhất định, số tiền đặt cọc này doanh nghiệp được sử

dụng mặc dù chưa sản xuất và cung cấp sản phẩm (dịch vụ) cho khách hàng. Tuỳ

theo lượng mua hàng của khách hàng, thông thường doanh nghiệp tín dụng từ hai

nguồn:

- Vốn ứng trước của khách hàng lớn,

- Vốn ứng trước của người tiêu dùng.

Thông thường số vốn chiếm dụng này là không lớn. Mặt khác, để sản xuất

hàng hoá hoặc dịch vụ doanh nghiệp phải đặt hàng (nguyên vật liệu,…) nên lại bị

người cấp hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp cũng theo hình thức này nên các

quá trình kinh doanh diễn ra bình thường thì diễn ra bình thì số dư vốn chiếm dụng

này là không lớn.

Tuy nhiên, kinh doanh trong thị trường hiện tại đòi hỏi doanh nghiệp phải

tính toán, cân nhắc rất cẩn thận vì không chỉ tồn tại lượng vốn nhất định khách

hàng chiếm dụng lại khi mua hàng của doanh nghiệp nhiều khi là rất lớn.

II.2.6.Tín dụng thuê mua (leasing):



20



NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NGHIỆP



CHUYÊN ĐỀ TỐT



Trong cơ chế kinh tế thị trường phương thức tín dụng thuê mua được thực

hiện giữa một doanh nghiệp có cầu sử dụng máy móc, thiết bị với một doanh

nghiệp thực hiện chức năng thuê mua diễn ra khá phổ biến. Sở dĩ hình thức thuê

mua diễn ra khá phổ biến vì nó đáp ứng được yêu cầu cơ bản của bên có cầu

(doanh nghiệp muốn thuê mua thiết bị) và bên đáp ứng cầu (doanh nghiệp thực

hiện chức năng thuê mua).

Hình thức tín dụng thuê mua có ưu điểm rất cơ bản là giúp doanh nghiệp sử

dụng vốn đúng mục đích, khi nào doanh nghiệp có cầu về sử dụng máy móc thiết

bị cụ thể mới đặt vấn đề thuê mua và chỉ ký hợp đồng thuê mua trong khoảng thời

gian thích hợp. Doanh nghiệp không chỉ nhận được máy móc thiết bị mà còn nhận

được tư vấn đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật cần thiết từ doanh nghiệp thực hiện

chức năng thuê mua. Doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị có thể tránh được

những tổn thất do mua máy móc thiết bị không đúng được yêu cầu hoặc hay do

mua nhầm. Doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị cần thiết mà không phải đầu tư

một lần với vốn lớn. Mặt khác, doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị có thể giảm

được tỷ lệ nợ/vốn vì tránh phải vay ngân hàng thương mại. Trong quá trình sử

dụng máy móc, thiết bị doanh nghiệp sử dụng có thể thoả thuận tái thuê với doanh

nghiệp có chức năng thuê mua; tức là doanh nghiệp sử dụng bán một phần tài sản

thiết bị cho doanh nghiệp thuê mua rồi lại thuê lại để tiếp tục sử dụng tài sản thiết

bị đó. Với phương thức thuê mua doanh nghiệp sử dụng có thể nhanh chóng đổi

mới tài sản cố định, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.

II.2.7./ Vốn liên doanh, liên kết:

Với phương thức này doanh nghiệp liên doanh, liên kết với một (một số)

doanh nghiệp khác nhằm tạo vốn cho một (một số) hoạt động (dự án) liên doanh

nào đó. Các bên liên doanh ký hợp đồng liên doanh với các hoạt động cụ thể về

phương thức hoạt động, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có giá trị trong một

khoảng thời gian nào đó. Khi hết hạn, hợp đồng liên doanh hết hiệu lực.

Với phương thức liên doanh, liên kết doanh nghiệp có một lượng vốn lớn cần

thiết cho một(một số) hoạt động nào đó mà không làm tăng nợ.Vì vậy, nhiều nhà

quản trị học cho rằng phương thức này có thể được coi là phương thức cung ứng

vốn nội bộ.Trong quá trình hoạt động, các bên liên doanh cùng chia sẻ rủi ro.

Bên cạnh đó, phương thức liên doanh, liên kết cũng có những hạn chế nhất

định. Chẳng hạn, huy động vốn theo phương thức này tất sẽ dẫn đến các bên liên

doanh cùng tham gia kinh doanh và cùng chia sẻ lợi nhuận thu được.

21



NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NGHIỆP



CHUYÊN ĐỀ TỐT



II.2.8./Cung ứng từ sự kết hợp cung và tư trong XD cơ sở hạ tầng (phương thức

BOT):

Phương thức cung ứng vốn từ sự kết hợp công tư trong xây dưng cơ sở hạ

tầng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng cơ sở hạ

tầng. Thực tế, có thể có nhiều hình thức kết hợp khác nhau với cách thức tiến hành

cụ thể khác nhau. Đó là cách thức:

1. Xây dựng – sở hữu- chuyển giao (BOT).

2. Xây dựng – sở hữu- điều hành- chuyển giao (BOOT),

3. Xây dựng – chuyển giao - điều hành (BTO),

4. Xây dựng – sở hữu- điều hành (BOO),

5. Xây dựng- sở hữu- bán (BSO).

Tuỳ theo hoàn cảnh thực tế doanh nghiệp có thể lựa chọn quyết định hình

thức cụ thể thích hợp. Lựa chọn phương thức này, doanh nghiệp phải thoả mãn các

điều kiện nhất định.

II.2.9./Nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp (FDI):

Trong cơ chế kinh tế mở, từ khi có Luật đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp

trong nước còn có thể cung ứng vốn bằng phương thức các doanh nghiệp (tổ chức

kinh tế) nước ngoài đầu tư trực tiếp.

Với nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp doanh nghiệp không chỉ nhận

được vốn mà còn nhận được cả kỹ thuật – công nghệ cũng như phương thức quản

trị tiên tiến. Hơn nữa, doanh nghiệp cũng được chia sẻ thị trường xuất khẩu.

Tuy nhiên, huy động vốn bằng nguồn vốn nước ngoài đầu trực tiếp doanh

nghiệp sẽ chịu sự kiểm soát điều hành của doanh nghiệp (tổ chức kinh tế) cấp vốn.

Mức độ kiểm soát điều hành của doanh nghiệp (tổ chức kinh tế) nước ngoài phụ

thuộc vào tỷ lệ góp vốn của họ. Mặt khác, mà một doanh nghiệp trong nước vấp

phải là doanh nghiệp khó tìm được đối tác nước ngoài thích hợp nhằm phát huy ưu

thế mỗi bên. Vấn đề duy trì mối quân hệ hợp tác trong khoảng thời gian dài là bao

nhiêu cũng là vấn đề các doanh nghiệp cần cân nhắc một cách thận trọng.

II.2.10./ Nguồn vốn ODA:

Cuối cùng là phương thức cung ứng của doanh nghiệp bằng nguồn vốn

ODA. Đối tác mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm và nhận được nguồn vốn này là

các chương trình hợp tác của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ

chức quốc tế khác.



22



NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NGHIỆP



CHUYÊN ĐỀ TỐT



Hình thức cấp vốn ODA có thể là hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc

cho vay có diều kiện ưu đãi về lãi suất và thời gian thanh toán. Nếu doanh nghiệp

được vay từ nguồn vốn ODA có thể chịu mức lãi suất thường trong khoảng 1%1,5%/năm, phí ngân hàng thường là 0,2-0,3%/năm trong thời hạn có thể từ 10-20

năm và có thể được gia hạn thêm.

Hình thức huy động vốn từ nguồn ODA có chi phí kinh doanh sử dụng vốn

thấp. Tuy nhiên, để nhận được nguồn vốn này các doanh nghiệp phải chấp nhận

các điều kiện thủ tục rất chặt chẽ. Đồng thời, doanh nghiệp phải có trình độ quản lý

dự án đầu tư cũng như trình độ phối hợp làm việc với các cơ quan chính phủ và

chuyên gia nước ngoài.

III.Hiệu quả sử dụng vốn và ý nghĩa của nó đối với doanh nghiệp:

III.1.Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn:

Sự phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới và Việt Nam cho thấy muốn

phát triển một doanh nghiệp phải giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản là sản xuất cái

gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Tuy nhiên nếu nguồn tài nguyên là vô

hạn, người ta có thể sản xuất hàng hoá một cách không hạn chế, sử dụng máy móc

nguyên vật liệu bừa bãi… cũng chẳng sao. Song mọi tài nguyên như đất đai,

khoáng sản…lại là một phạm trù hữu hạn đòi hỏi ngày một nhiều và cao hơn, điều

này buộc các doanh nghiệp phải sử dụng một cách có kế hoạch các nguồn lực của

mình để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của

sự phát triển kinh tế chiều sâu, thể hiện trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ

chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.

Công thức tổng quát xác định hiệu quả kinh doanh:

Kết quả đầu ra

Hiệu quả kinh doanh = 

Chi phí đầu vào



Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản

ánh kết quả tổng hợp nhất quá trình sử dụng các loại vốn. Đó là sự tối thiểu hoá

vốn cần sử dụng và tối đa hoá kết quả hay khối lượng nhiệm vụ sản xuất kinh

doanh trong một giới hạn nguồn nhân tài, vật lực, phù hợp với kinh tế hiệu quả nói chung.

23



NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NGHIỆP



CHUYÊN ĐỀ TỐT



Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống chỉ tiêu về khả

năng hoạt động, khả năng sinh lời độ luân chuyển vốn… Nó phản ánh quan hệ

giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền

tệ. Công thức xác định là:

Hv =



G



V



Trong đó:

Hv: hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

G : sản lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ hoặc doanh thu bán hàng

V : vốn sản xuất bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ.

Theo công thức trên, Hv càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn sản xuất

kinh doanh càng cao. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp phải

đảm bảo các điều kiện sau:

- Phải khai thác nguồn lực một cách triệt để, nghĩa là không để nhàn rỗi không sinh

lời.

- Phải sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm.

- Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ, nghĩa là không để vốn bị sử dụng sai

mục đích, không để vốn thất thoát do buông lỏng quản lý.

III.2./ Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong Công ty :

III.2.1./Phương pháp so sánh:

Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh

được của chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính

chất và đơn vị tính toán…) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.

Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian, kỳ phân tích được gọi là kỳ báo cáo

hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể đo bằng giá trị tuyệt đối hoặc số bình quân.

Nội dung so sánh gồm:

+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu

hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, đánh giá sự suy giảm hay sự giảm sút

trong hoạt động sản xuất kinh doanh để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.

+ So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của

doanh nghiệp.



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II./ Các nguồn huy động vốn:

Tải bản đầy đủ ngay(82 tr)

×