Tải bản đầy đủ - 97 (trang)
CHỦ TRƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HOÁ CUNG ỨNG DỊCH VỤ

CHỦ TRƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HOÁ CUNG ỨNG DỊCH VỤ

Tải bản đầy đủ - 97trang

huy các nguồn lực xã hội, nâng cao chất lượng và hiệu quả cung ứng dịch vụ công,

đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của người dân và cộng đồng”. Đề án đã đề

ra những quan điểm, nguyên tắc và phương hướng đổi mới quản lý dịch vụ công ở

nước ta như sau:

- Thứ nhất, quan điểm và nguyên tắc đổi mới:

+ Đổi mới quản lý dịch vụ công trên cơ sở nhận thức sâu sắc về nền hành

chính phục vụ; đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong đảm bảo cung ứng dịch vụ

công, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của người dân và xã hội.

+ Đảm bảo công bằng xã hội, đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tối thiểu cho tất cả

mọi người, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ nhu cầu đa dạng, phong phú của

các tầng lớp nhân dân.

+ Phân biệt rõ tổ chức và hoạt động dịch vụ công với quản lý hành chính nhà

nước và quản lý sản xuất, kinh doanh. Xác lập cơ chế quản lý phù hợp với đặc điểm,

tính chất của mỗi loại hình.

+ Nhà nước tiếp tục tăng cường đầu tư cho các dịch vụ công, nhưng không

bao cấp tràn lan. Tập trung ưu tiên đầu tư ngân sách cho các dịch vụ công trọng

điểm, phục vụ người nghèo, vùng sâu, vùng xa.

+ Đẩy mạnh xã hội hoá các dịch vụ công, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã

hội tham gia cung ứng dịch vụ công, đa dạng hoá các chủ thể cung ứng dịch vụ

công.

+ Đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức cung ứng dịch

vụ công. Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý và cung ứng dịch vụ công.

+ Xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong quản lý và tổ chức

cung ứng dịch vụ công. Đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền địa phương các cấp.

+ Đảm bảo nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận trong hoạt động cung

ứng dịch vụ công, trước hết là đối với các cơ sở công lập.

- Thứ hai, phương hướng đổi mới:

+ Quan tâm thực hiện cuộc cải cách mạnh mẽ, cơ bản trong lĩnh vực dịch vụ

công, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và với sự chuyển đổi vai trò, chức năng

của Nhà nước.

+ Đổi mới hệ thống thể chế, chính sách về tổ chức và cung ứng dịch vụ công

trên cơ sở phân biệt và xác định rõ các loại dịch vụ công: dịch vụ công do Nhà nước

phải chịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng; dịch vụ công mà Nhà nước hỗ trợ; dịch vụ

công có thể chuyển giao cho thị trường và xã hội.



78



+ Tách bạch các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công với cơ quan hành chính nhà

nước. Sắp xếp lại các tổ chức cung ứng dịch vụ công, hình thành mạng lưới các tổ

chức cung ứng dịch vụ công đồng bộ trong cả nước.

+ Xây dựng cơ chế về tổ chức không vì mục tiêu lợi nhuận.

+ Đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở cung ứng

dịch vụ công.

+ Hoàn thiện cơ chế trợ giúp người nghèo và bộ phận cận nghèo, đối tượng

chính sách. Xác định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc đảm

bảo cung ứng dịch vụ công.

+ Đẩy mạnh xã hội hoá và đa dạng hoá phương thức cung ứng dịch vụ công,

tạo ra sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch vụ công.

+ Đổi mới cơ chế phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ công,

chính sách nhân sự của các cơ sở cung ứng dịch vụ công, tạo sự năng động trong

hoạt động dịch vụ công.

+ Cơ cấu lại chi tiêu ngân sách nhà nước theo hướng quan tâm đầu tư thích

đáng cho việc cung ứng các loại dịch vụ công thiết yếu, phục vụ người dân vùng

khó khăn, miền núi, hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách...

+ Thay đổi chế độ thu phí, lệ phí.

+ Tăng cường kiểm tra, thanh tra, đảm bảo công khai, minh bạch trong quản

lý và tổ chức cung ứng dịch vụ công.

Như vậy, các quan điểm, nguyên tắc và phương hướng đổi mới trên đây đều

nhấn mạnh đến việc đẩy mạnh xã hội hoá cung ứng dịch vụ công, coi đó là một nội

dung rất quan trọng của công cuộc đổi mới quản lý dịch vụ công nói chung. Đây là

điểm rất cần chú ý đối với các chủ thể có liên quan, nhất là các cơ quan chức năng

của Nhà nước, trong quá trình hoạch định và thực thi các chủ trương, chính sách và

biện pháp đổi mới và phát triển dịch vụ công.

II. CHỦ TRƯƠNG ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG

THỜI GIAN TỚI

Những nội dung cơ bản của chủ trương xã hội hoá cung ứng dịch vụ công đã

được đề cập tại Nghị quyết 90/CP (1997), Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính

phủ và một số văn bản quan trọng khác của Đảng và Nhà nước, tuy nhiên mức độ đề

cập còn tương đối khái quát và giới hạn trong một số lĩnh vực dịch vụ công nhất

định. Trong thời gian tới, chủ trương xã hội hoá dịch vụ công cần nhấn mạnh hơn

đến những nội dung sau đây:



79



- Thứ nhất, xã hội hoá dịch vụ công là nội dung đặc biệt quan trọng trong chủ

trương đổi mới cung ứng và quản lý dịch vụ công nói chung. Đó là một xu hướng tất

yếu không thể đảo ngược trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế của nước ta. Đây cần được coi là tư tưởng cơ bản

trong việc hoạch định các chính sách, biện pháp thực hiện xã hội hoá.

- Thứ hai, việc thực hiện xã hội hoá trong một số lĩnh vực như giáo dục và

đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao,... được chú trọng thực hiện trước tiên, sau đó

lan toả ra các lĩnh vực dịch vụ công khác, tạo nên một chương trình cải cách sâu

rộng. Nếu theo cách phân loại dịch vụ công thành (1) dịch vụ hành chính công, (2)

dịch vụ sự nghiệp công và (3) dịch vụ công ích, thì có thể thực hiện xã hội hoá đối

với phần lớn dịch vụ sự nghiệp công, nhiều dịch vụ công ích và một số ít dịch vụ

hành chính công. Việc mở rộng xã hội hoá sang nhiều lĩnh vực dịch vụ cần được

thực hiện theo cách tiếp cận “tuần tự”, tránh tình trạng thực hiện ồ ạt, tràn lan, có

nguy cơ gây ra những hậu quả tiêu cực. Tuy nhiên, cần quán triệt quan điểm rằng,

lĩnh vực dịch vụ công ngày càng được mở rộng xã hội hoá, và việc “mở cửa” cho sự

tham gia của các cơ sở ngoài công lập cần mở rộng tối đa phù hợp với bối cảnh kinh

tế - xã hội trong từng thời điểm.

- Thứ ba, việc xã hội hoá dịch vụ công phải được thực hiện trong mối quan

hệ gắn kết với những cải cách kinh tế- xã hội khác như: phát triển các thành phần

kinh tế; phát triển thị trường; hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường dân chủ; đẩy

mạnh sự tham gia của người dân... hướng đến mục tiêu đẩy nhanh sự phát triển toàn

diện của đất nước.

- Thứ tư, Nhà nước khuyến khích các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần

khác nhau, nhất là các chủ thể phi nhà nước, tham gia vào hoạt động xã hội hoá

cung ứng dịch vụ công. Nhà nước tạo môi trường phát triển, môi trường cạnh tranh

lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật để thúc đẩy các cơ sở công lập và ngoài công

lập phát triển cả về quy mô và chất lượng. Đồng thời, Nhà nước tăng cường hoạt

động thanh tra, kiểm tra trong quá trình xã hội hoá cung ứng dịch vụ công nhằm hạn

chế những tác động tiêu cực.

III. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG

THỜI GIAN TỚI

Nhiều giải pháp về thực hiện xã hội hoá dịch vụ công nói chung và trong một

số lĩnh vực cụ thể đã được đề cập trong các văn bản của Nhà nước, trong đó đáng

chú ý là Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ đã nêu ra ba nhóm giải pháp

quan trọng, bao gồm:



80



(1) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nghiên cứu lý luận, nâng cao nhận thức

về xã hội hoá; trong đó chú ý làm sáng tỏ những vấn đề chưa rõ ràng và chưa thống

nhất liên quan đến cơ chế xã hội hoá.

(2) Tiếp tục đổi mới chính sách và cơ chế quản lý, đáng chú ý là: hoàn thiện

các quy định về mô hình, quy chế hoạt động của các cơ sở ngoài công lập; chuyển

cơ chế hoạt động của các cơ sở công lập sang cơ chế cung ứng dịch vụ; đổi mới cơ

chế sử dụng ngân sách nhà nước trong các lĩnh vực dịch vụ công; đổi mới các chính

sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai, nhân lực; và đổi mới cơ chế quản lý nhà nước,

(3) Xây dựng quy hoạch phát triển xã hội hoá (được thực hiện ở cấp độ

ngành).

Những giải pháp trên đây không chỉ áp dụng cho các lĩnh vực giáo dục và

đào tạo, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, mà còn có thể áp dụng cho các lĩnh vực

dịch vụ công khác, hay nói cách khác có thể áp dụng cho công tác xã hội hoá cung

ứng dịch vụ công nói chung. Nội dung của chúng đã được đề cập trong Nghị quyết,

ở đây không nhắc lại. Phần này nêu ra những giải pháp vừa cụ thể hoá vừa bổ sung

cho những nội dung giải pháp đã nêu trong Nghị quyết.

III.1. Làm rõ một số vấn đề mang tính lý luận về xã hội hoá cung ứng dịch vụ

công

Để thống nhất nhận thức về chủ trương xã hội hoá cung ứng dịch vụ công,

cần phải làm sáng tỏ nhiều vấn đề mang tính lý luận. Vấn đề đầu tiên cần nghiên

cứu là làm rõ khái niệm về “xã hội hoá dịch vụ công” (có thể kèm theo phần giải

nghĩa để có cách hiểu rõ ràng, thống nhất). Khái niệm này cần được nêu trong các

văn bản có hiệu lực của Đảng và Nhà nước, làm cơ sở quan trọng cho việc cụ thể

hoá một cách có hiệu quả chủ trương, chính sách xã hội hoá dịch vụ công. Bên cạnh

việc đưa ra khái niệm chính thức về “xã hội hoá dịch vụ công”, cần phải làm rõ

thêm những vấn đề dưới đây:

III.1.1. Tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra khỏi hoạt động quản lý nhà

nước15

Việc tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra khỏi hoạt động quản lý nhà

nước là cơ sở quan trọng của xã hội hoá cung ứng dịch vụ công. Hoạt động cung

ứng dịch vụ công khác với hoạt động quản lý nhà nước. Cần phân định rõ hoạt động

của các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp công ích của Nhà nước cung ứng dịch

Thực chất, việc tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra khỏi hoạt động quản lý nhà nước có

nhiều nội dung đồng nghĩa với việc các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công đang theo cơ chế

tương tự như cơ chế hành chính (cơ sở dịch vụ công là đơn vị dự toán ngân sách nhà nước, do cấp

trên quyết định cả kế hoạch hoạt động, nhân sự và kinh phí) chuyển sang cơ chế tự chủ cung ứng

dịch vụ công như quy định trong Nghị quyết 05/2005/NQ-CP.

15



81



vụ công với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, khắc phục tình trạng

cơ quan quản lý nhà nước các cấp can thiệp quá sâu vào hoạt động của các cơ sở

cung ứng dịch vụ công.

Đồng thời với việc tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra khỏi phạm vi

hoạt động hành chính, Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách cho hoạt động

cung ứng dịch vụ công16. Việc áp đặt cơ chế hành chính cho các hoạt động cung ứng

dịch vụ công làm hạn chế hiệu quả, sự năng động của các cơ sở cung ứng dịch vụ

công. Cơ chế hoạt động và quản lý phù hợp làm cho các cơ sở cung ứng dịch vụ

công có thể cạnh tranh lành mạnh với nhau trên thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải để các cơ sở công lập được tự

chủ hoạt động, không bị cản trở bởi mệnh lệnh hành chính của các cơ quan nhà

nước, đồng thời các cơ sở của Nhà nước cung ứng dịch vụ công không thể dựa vào

sự bao cấp, sự ưu đãi của Nhà nước mà phải tự khẳng định mình bằng sự nỗ lực

vươn lên trong môi trường cạnh tranh bình đẳng.

III.1.2. Xác định những lĩnh vực dịch vụ công được xã hội hoá trong giai đoạn từ

nay đến năm 2010

Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ đã nêu ra chủ trương, biện pháp

thực hiện xã hội hoá trong bốn lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, y tế, văn hoá, và thể

dục thể thao. Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều lĩnh vực khác đã, đang và sẽ được xã

hội hoá, vì vậy cũng cần phải có các cơ chế chính sách áp dụng đối với các lĩnh vực

này. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 chúng ta có thể tiến hành xã hội hoá đối

với một số lĩnh vực dịch vụ công sau đây:

- Đối với dịch vụ hành chính công: công chứng.

- Đối với dịch vụ sự nghiệp công: giáo dục và đào tạo, y tế và chăm sóc sức

khoẻ, văn hoá, thể dục thể thao, và khoa học, công nghệ17.

- Đối với dịch vụ công ích: vệ sinh môi trường, quản lý công viên, cây xanh,

cấp nước sạch ở nông thôn, bổ sung nguồn phát triển cấp điện ở nông thôn, vận tải

công cộng.



Ở đây là cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công và một số chính sách khuyến khích thực hiện xã

hội hoá cung ứng dịch vụ công.

16



Sau Nghị quyết 05, Chính phủ đã ban hành một số quy định để thực hiện xã hội hoá trong lĩnh

vực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ, như Quyết định số 214/2005/QĐTTg ngày 30-8-2005 thông qua đề án phát triển thị trường công nghệ, Nghị định số 115-CP ngày 59-2005 về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học, công nghệ.

17



82



Những kết quả đạt được của giai đoạn từ nay đến năm 2010 là tiền đề quan

trọng cho việc tiếp tục mở rộng xã hội hoá trong các giai đoạn tiếp theo.

Việc tiến hành xã hội hoá trong thời gian trước mắt phải đặt trọng tâm vào

các dịch vụ sự nghiệp công vì những lý do dưới đây:

- Lĩnh vực này gồm những hoạt động nhằm bồi dưỡng và phát huy con người

cả về trí tuệ, tinh thần và thể chất, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đáp ứng

nhu cầu và sự quan tâm của toàn xã hội cho tới mọi gia đình. Lĩnh vực này được đổi

mới, phát triển và nâng cao chất lượng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa đất

nước phát triển nhanh và bền vững, tiến cùng thời đại, nâng cao được vị thế trong

hội nhập kinh tế quốc tế.

- Lĩnh vực này có khả năng thu hút sự tham gia của nhiều chủ thể (tổ chức và

cá nhân) ngoài khu vực nhà nước, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài; khác với khu

vực dịch vụ công ích thường đòi hỏi đầu tư lớn về xây dựng kết cấu hạ tầng vượt

quá khả năng hiện nay của khu vực tư nhân, hoặc do yêu cầu về tính pháp lý, về

đảm bảo an toàn và công bằng, nên chưa thể chuyển giao cho các chủ thể phi nhà

nước (như dịch vụ hành chính công, mạng lưới điện, thông tin, đường giao thông

huyết mạch,…).

- Công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước đã bước đầu tách biệt chức

năng quản lý nhà nước với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, nay cần

triển khai tiếp sang sự tách biệt quản lý nhà nước với cung ứng dịch vụ công, coi đó

là một yêu cầu quan trọng và bức bách trong thời gian tới.

III.1.3. Đa dạng hoá các hình thức cung ứng dịch vụ công

Hiện nay, bên cạnh các cơ sở công lập, các cơ sở ngoài công lập cũng tham

gia cung ứng dịch vụ công. Các cơ sở này cung ứng dịch vụ công theo nhu cầu của

xã hội, Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các cơ sở này

theo quy định của pháp luật. Các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công sẽ hoạt động

theo cơ chế mới (một số nội dung sẽ được làm rõ trong phần III.1.4 dưới đây). Đồng

thời, cần tăng cường sự liên kết giữa Nhà nước với các cơ sở ngoài công lập trong

việc cung ứng dịch vụ công thông qua nhiều hình thức, như:

- Nhà nước giao cho cơ sở ngoài công lập tài sản vật chất của Nhà nước (Nhà

nước vẫn giữ quyền sở hữu) và cơ sở này sử dụng tài sản này để cung ứng dịch vụ

công cho xã hội. Đây là hợp đồng giao khoán, thường được ký với một hoặc một số

nhà quản lý tư nhân. Họ tiến hành hoạt động và phân phối dịch vụ công theo yêu

cầu của Nhà nước đưa ra, bảo đảm nộp các khoản thuế và phí theo quy định chung.

Cách làm này có thể được áp dụng cho các lĩnh vực dịch vụ hạ tầng như vận tải,

dịch vụ cảng, dịch vụ điện, cấp thoát nước... Nhà nước vẫn giữ quyền kiểm soát đối



83



với hoạt động của cơ sở ngoài công lập, trong một số trường hợp cụ thể, có thể cung

cấp kinh phí cho các cơ sở này hoạt động; các cơ sở này phải tuân thủ những yêu

cầu của Nhà nước trong hoạt động, bảo đảm cung ứng dịch vụ công cho người dân.

- Nhà nước ký hợp đồng với các cơ sở ngoài công lập cung ứng một loại dịch

vụ công. Các cơ sở ngoài công lập có tài sản riêng, nguồn vốn riêng, đứng ra tổ

chức cung ứng dịch vụ công theo hợp đồng với Nhà nước, trong đó xác định rõ

trách nhiệm, quyền lợi của hai bên. Hình thức này có hiệu quả hơn hình thức hợp

đồng sử dụng tài sản của Nhà nước để cung ứng dịch vụ công.

- Trong một số dịch vụ công ích như cung cấp điện, nước sạch..., cơ sở ngoài

công lập tạo ra sản phẩm ban đầu, và Nhà nước mua lại để hoà vào mạng lưới phân

phối chung, cung ứng điện, nước cho người tiêu dùng.

III.1.4. Làm rõ một số cơ chế hoạt động của các cơ sở công lập sau khi được

chuyển đổi

Việc chuyển đổi các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công đang hoạt động

theo cơ chế sự nghiệp (tương tự như cơ quan hành chính) sang cơ chế tự chủ, tự

chịu trách nhiệm trong môi trường cạnh tranh là một nội dung quan trọng của tiến

trình xã hội hoá cung ứng dịch vụ công. Sự chuyển đổi đó tập trung vào các nội

dung sau đây:

III.1.4.1. Làm rõ quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở công lập cung

ứng dịch vụ công

Mấy điểm quan trọng là:

- Một, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kế hoạch hoạt động:

Cơ sở công lập do Nhà nước thành lập và đầu tư trang thiết bị ban đầu, phải

tuân theo chức năng, nhiệm vụ chung do Nhà nước quy định khi thành lập. Trong kế

hoạch hàng năm của mình, các cơ sở công lập nhận những nhiệm vụ Nhà nước giao

dưới hình thức đơn đặt hàng nhà nước, có kèm theo các điều kiện vật chất (kinh phí,

phương tiện) để thực hiện các đơn đặt hàng đó. Ngoài ra, các cơ sở này phải tự tìm

các nguồn đặt hàng khác từ các khách hàng (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tập

thể, cá nhân) và có quyền ký kết các hợp đồng khách hàng phù hợp với khả năng

của mình. Các cơ sở được tự quyết định lựa chọn đối tác trong hoạt động của mình,

và được tự quyết định kế hoạch đầu tư phát triển từ các nguồn vốn tự có, hoặc vay

từ các tổ chức tín dụng hoặc nguồn khác theo quy định chung.

- Hai, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức nhân sự:

Cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công có quyền tự quyết về tổ chức bộ máy

làm việc theo quy định chung của Nhà nước; có quyền thành lập, sáp nhập, giải thể



84



và quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc phù hợp với chức năng,

nhiệm vụ của toàn cơ sở. Cơ sở có quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các

chức vụ quản lý của mình, trừ một số ít chức danh lãnh đạo; quyền quyết định biên

chế cán bộ và nhân viên của cơ sở phù hợp với khả năng và yêu cầu của cơ sở;

quyền quyết định tuyển dụng và sử dụng cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp

luật liên quan. Cán bộ và nhân viên trong các cơ sở công lập chịu sự điều chỉnh của

quy chế viên chức, tách khỏi biên chế công chức, trừ một số ít chức vụ do cơ quan

hành chính nhà nước tuyển cử.

Nếu cơ sở công lập có từ hai nguồn cung cấp tài chính ổn định trở lên thì

thành lập Hội đồng quản trị để quản lý việc sử dụng vốn, quyết định những vấn đề

quan trọng của cơ sở với tư cách đại diện các chủ sở hữu. Nếu chỉ có một nguồn

cung cấp tài chính thì có thể thành lập Ban kiểm tra để theo dõi diễn biến của các

nguồn thu, chi của đơn vị.

- Ba, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính:

Nguồn tài chính cho các cơ sở công lập bao gồm:

(1) Vốn đầu tư ban đầu do Nhà nước cấp toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại

thuộc nguồn vốn khác.

(2) Vốn hoạt động gồm có: phần do Nhà nước cấp theo hợp đồng giữa cơ sở

công lập và cơ quan đặt hàng của Nhà nước (đơn đặt hàng nhà nước) và phần do

hợp đồng hoặc thoả thuận với các khách hàng khác (tổ chức hay cá nhân, kể cả phí

thu từ người thụ hưởng dịch vụ). Phần nguồn khác: kinh phí tài trợ của các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước; vốn vay tín dụng.

Như vậy, vốn hoạt động của các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công

thường là từ nhiều nguồn nên cách quản lý vốn cũng cần tổ chức theo hình thức hội

đồng hoặc ban có đại diện các nguồn đó cùng tham gia.

Quyền tự chủ về tài chính của các cơ sở công lập bao gồm cả phần thu và

phần chi. Ngoài nhiệm vụ ưu tiên thực hiện các đơn đặt hàng của Nhà nước, các cơ

sở công lập tự thoả thuận về giá trị các hợp đồng với các bên đối tác theo một khung

chung thống nhất trong ngành hoặc trong hiệp hội ngành nghề; chủ động tiếp nhận

các nguồn cung cấp tài chính khác. Cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công được

quyền quyết định nội dung chi và mức chi để bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ đã

ký kết, mức kinh phí chuyên gia trong nước và ngoài nước được mời; được quyền

quyết định việc thành lập quỹ tiền lương của đơn vị sau nộp thuế (theo khung quy

định nếu có) và lập các quỹ theo quy định của pháp luật.

Là những tổ chức có tư cách pháp nhân (trừ những trường hợp không hoạt

động độc lập như trạm xá cơ quan, nhà trẻ của doanh nghiệp...), các cơ sở công lập



85



cung ứng dịch vụ công chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tổ chức thành lập về

các hoạt động của mình và trước các đối tác về các cam kết đã thoả thuận theo quy

định của pháp luật. Cơ sở công lập hoạt động với tư cách tổ chức phi lợi nhuận,

phần thu được, ngoài việc bù đắp chi phí và lập các quỹ theo quy định của Nhà

nước, không được phép chia lãi cho các thành viên; phần còn dư chủ yếu sử dụng

cho yêu cầu phát triển của đơn vị. Trách nhiệm của các cơ sở công lập nên là hữu

hạn; hoạt động theo phương thức hạch toán độc lập, không phải theo cơ chế đơn vị

dự toán như cơ quan hành chính nhưng cũng không theo cơ chế doanh nghiệp lấy

lợi nhuận làm mục tiêu chính. Vì vậy, các cơ sở này không chịu thuế như doanh

nghiệp, song cũng không hoàn toàn được miễn trừ các loại thuế. Chế độ thuế của

các cơ sở này cần được quy định riêng, phù hợp với đặc thù của hoạt động cung ứng

dịch vụ công.

III.1.4.2. Làm rõ cơ chế tài chính của các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công

Vấn đề cơ bản về đổi mới cơ chế tài chính của cơ sở công lập cung ứng dịch

vụ công là chuyển từ chế độ dự toán của cơ quan hành chính sang cơ chế tự hạch

toán hay hạch toán độc lập tương tự như của doanh nghiệp18. Trong bối cảnh những

năm đầu đổi mới, có thể có ba mức hạch toán: một số cơ sở chưa có khả năng thu,

chủ yếu là thực hiện các dịch vụ phục vụ công tác quản lý hành chính, phục vụ cộng

đồng (như văn nghệ quần chúng, cung cấp thông tin...) thì vẫn tiếp tục thực hiện chế

độ dự toán; một số cơ sở có điều kiện tự hạch toán, có thể cân đối thu chi, thì thực

hiện cơ chế hạch toán độc lập đầy đủ (như các viện nghiên cứu, trung tâm đào tạo,

dạy nghề...). Còn lại một số cơ sở nằm ở khoảng giữa, có thu nhưng không đủ chi,

thì áp dụng cơ chế tự hạch toán một phần, lấy thu bù chi và nhận một phần nguồn tài

chính từ ngân sách. Trong quá trình cải cách từng bước, những cơ sở dự toán sẽ

chuyển thể thành cơ sở tự hạch toán một phần, những cơ sở hạch toán một phần sẽ

chuyển thể thành cơ sở tự hạch toán đầy đủ và một số cơ sở hạch toán độc lập có

điều kiện có thể chuyển thể thành doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp hỗn

hợp. Quá trình chuyển hoá từ cơ sở dự toán trên cơ sở lấy thu bù chi sang cơ sở hạch

toán độc lập cần có một thời hạn để hoàn thành, tốt nhất là không vượt quá năm

2010 và cần có thiết kế để thực hiện từng bước.

Vấn đề then chốt trong hạch toán là phải tính đúng, tính đủ; điều này liên

quan trực tiếp đến các vấn đề học phí, viện phí và các loại phí dịch vụ công khác,

thực chất là vấn đề giá của dịch vụ công. Trong giá thành của dịch vụ, cần tính đủ

các loại chi phí, kể cả khấu hao cơ bản, giá đất quy theo thị trường, những ưu đãi

của Nhà nước quy ra giá trị để tính toán. Nhà nước có thể can thiệp trong hai trường

Chú ý, đây là cơ chế hạch toán của doanh nghiệp, không phải là cơ chế hoạt động kinh doanh vì

lợi nhuận của doanh nghiệp.



18



86



hợp: một là, khi giá dịch vụ tính ra cao hơn mặt bằng giá chung, Nhà nước dùng

phần vốn đã hỗ trợ cho cơ sở (bằng nhà cửa, đất đai...) để tính giảm bớt giá đầu vào

và giữ mặt bằng giá ở mức hợp lý; hai là, với các trường hợp cần thực hiện chính

sách công bằng xã hội, không nên bắt các cơ sở phải miễn, giảm phí, gây thất thu và

không công bằng giữa các cơ sở. Nhà nước nên thành lập quỹ riêng để giải quyết,

không để các cơ sở chịu thiệt. Một phần nguồn góp vào quỹ này cũng có thể trích từ

chênh lệch dôi dư của chính những cơ sở cung ứng dịch vụ công hoạt động có lãi

nhưng theo luật không được chia lãi. Cách làm này sẽ bảo đảm cho các cơ sở công

lập cung ứng dịch vụ công hạch toán thực các phần thu, chi của mình.

III.2. Thực hiện các biện pháp, chính sách tạo dễ dàng và khuyến khích đối với

các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công

Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần

nhằm huy động mọi nguồn lực của đất nước vào việc phát triển kinh tế- xã hội.

Trong những năm qua, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước có sự phát triển đáng

kể, song trên thực tế khu vực tư nhân ở nước ta vẫn chưa phát triển. Về môi trường

hoạt động, khu vực này vẫn còn bị hạn chế do các thủ tục hành chính, do quy định

về quyền sử dụng đất, trong việc tiếp cận đến vốn và tín dụng ngân hàng, trong quan

hệ với bộ máy hành chính nhà nước... Trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, khác

với các lĩnh vực sản xuất- kinh doanh thông thường khác, việc tạo điều kiện và hỗ

trợ của Nhà nước là cần thiết, bởi vì đây là các dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm

đảm bảo việc cung ứng cho nhân dân. Nhà nước không chỉ tổ chức và tạo điều kiện

cho các cơ sở ngoài nhà nước cung ứng dịch vụ công, mà Nhà nước còn có trách

nhiệm bảo đảm cung ứng những dịch vụ này trước xã hội, trước công dân. Vì vậy,

Nhà nước không phó mặc các cơ sở ngoài nhà nước tự do hoạt động theo cơ chế thị

trường, mà phải có sự điều tiết, định hướng các cơ sở này hoạt động theo đúng các

mục tiêu của Nhà nước.

Những nội dung chính của các biện pháp, chính sách tạo dễ dàng và khuyến

khích đối với các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công được thể hiện trong

các phần trình bày dưới đây:

III.2.1. Đơn giản hoá các thủ tục thành lập và hoạt động của cơ sở ngoài công

lập cung ứng dịch vụ công theo hướng:

- Thống nhất tiêu chuẩn cũng như thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể,

sáp nhập, chia, tách và đình chỉ hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụ công.

Mặc dù những nội dung đã được quy định trong các văn bản pháp luật đối với từng

lĩnh vực, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, không thống nhất

với nhau. Vấn đề này cần được rà soát lại và quy định thống nhất để không gây

phiền hà không cần thiết. Về nguyên tắc, cấp quản lý nào có thẩm quyền quyết định



87



thành lập cơ sở cung ứng dịch vụ công thì có quyền quyết định giải thể, đình chỉ

hoạt động của các cơ sở đó.

- Quy định cụ thể thời gian xét duyệt, cấp phép thành lập đối với các cơ sở

ngoài công lập cung ứng dịch vụ công. Hiện nay, nhiều thủ tục cấp phép thành lập

các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công chưa được quy định cụ thể thời

gian cấp phép là bao lâu hoặc có quy định thì rất chung chung. Cần có quy định rõ

ràng và có căn cứ thực tiễn về thời hạn xét duyệt, cấp phép của các cơ quan có thẩm

quyền để tránh tình trạng các cơ quan này kéo dài thời hạn một cách tuỳ tiện, làm

mất nhiều thời gian cho các cá nhân, tổ chức xin cung ứng dịch vụ công và hạn chế

những tiêu cực phát sinh trong khâu cấp phép.

- Tăng thời gian cho việc thẩm định, xem xét các tiêu chuẩn và điều kiện

thành lập các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công, đồng thời rút ngắn thời

gian ở khâu cấp phép. Khâu thẩm định là khâu quan trọng nhất trong việc cấp phép

thành lập một cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công. Cần xem xét cụ thể

những tiêu chuẩn, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, cũng như chuyên môn,

tổ chức nhân sự,... của các tổ chức, cá nhân muốn cung ứng dịch vụ công. Cần tăng

thời gian dành cho việc thẩm định đủ tiêu chuẩn và điều kiện đối với cơ sở ngoài

công lập. Đồng thời có các biện pháp thích hợp để giảm thời gian làm các thủ tục

trong các cơ quan hành chính nhà nước.

- Cho phép áp dụng các thủ tục đề ra một cách linh động trong các điều kiện

đặc biệt. Trong quá trình thực hiện, tuỳ theo điều kiện cụ thể mà các cấp thẩm quyền

có thể có những quy định riêng biệt nhằm huy động sự hỗ trợ từ phía xã hội trong

việc cung ứng dịch vụ công tại những nơi mà Nhà nước không đủ khả năng đảm bảo

cung ứng. Các cấp thẩm quyền không được tuỳ tiện nhưng cũng không nên quá

cứng nhắc trong việc xét duyệt cấp phép, đăng ký hành nghề. Cần quan tâm đến một

số lĩnh vực trong điều kiện đặc biệt như ở vùng sâu, vùng xa...

- Trong quá trình hoạt động của các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ

công, các cơ quan chức năng cần tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các cơ sở này về

những thủ tục như: vay vốn ngân hàng; thuê đất, mặt bằng kinh doanh, nhà cửa;

tuyển dụng lao động... Các cơ quan hành chính nhà nước cần tránh mọi sự phân biệt

đối xử về thủ tục hành chính giữa các cơ sở ngoài công lập và các cơ sở công lập.

III.2.2. Thực hiện các chính sách khuyến khích hỗ trợ đầu tư đối với các cơ sở

ngoài công lập cung ứng dịch vụ công

III.2.2.1. Hỗ trợ về mặt bằng xây dựng và kết cấu hạ tầng

- Nhà nước giao đất và miễn tiền sử dụng đất (theo các quy định của Luật Đất

đai và Luật Đầu tư) để các cơ sở ngoài công lập đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục,



88



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHỦ TRƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HOÁ CUNG ỨNG DỊCH VỤ

Tải bản đầy đủ ngay(97 tr)

×