Tải bản đầy đủ - 97 (trang)
II. CHỦ TRƯƠNG XÃ HỘI HÓA CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG

II. CHỦ TRƯƠNG XÃ HỘI HÓA CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG

Tải bản đầy đủ - 97trang

tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội... Xã hội hoá không có nghĩa

là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước; trái lại,

Nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các

hoạt động này, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh

phí đó” (Phần I).

- Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách

khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá

và thể thao quy định cụ thể về chính sách khuyến khích xã hội hoá. Nghị định 73 đã

nhắc lại quan niệm về xã hội hoá đã được nêu trong Nghị quyết 90/CP, đồng thời

khẳng định rằng: “Cùng với việc củng cố các tổ chức công lập, Nhà nước khuyến

khích phát triển rộng rãi các cơ sở ngoài công lập phù hợp với quy hoạch của Nhà

nước trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, hoạt động không theo mục

đích thương mại hoá” (Điều 2). Nghị định (Điều 4) quy định có ba hình thức ngoài

công lập sau đây:

“1. Bán công: Là cơ sở được thành lập trên cơ sở liên kết giữa tổ chức nhà

nước với các tổ chức không phải tổ chức nhà nước, thuộc mọi thành phần kinh tế

hoặc các cá nhân theo các phương thức: thành lập mới, chuyển toàn bộ hoặc một

phần từ đơn vị công lập để cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, quản lý, điều hành

mọi hoạt động theo quy định của pháp luật.

2. Dân lập: Là cơ sở do tổ chức đứng ra thành lập, được đầu tư bằng vốn

ngoài ngân sách nhà nước (vốn của tổ chức, tập thể, cá nhân) và quản lý điều hành

mọi hoạt động theo quy định của pháp luật. Không lấy vốn, tài sản, kinh phí của

Nhà nước để đầu tư cho các cơ sở dân lập.

3. Tư nhân: Là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình thành lập và quản lý điều hành

mọi hoạt động theo quy định của pháp luật.”

Theo Nghị định 73, “Nhà nước và xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng đối

với các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở ngoài công lập như các sản phẩm và dịch vụ

của cơ sở công lập. Các cơ sở ngoài công lập cũng có một phần trách nhiệm thu

nhận và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng chính sách xã hội như các cơ sở công

lập. Nhà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhân huy động các nguồn lực trong

nhân dân và trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt

động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao theo đúng quy định của pháp luật” (Điều 2 và

3).

Nghị định đã đề ra các chính sách khuyến khích đối với các cơ sở ngoài công

lập về cơ sở vật chất, đất đai, thuế, phí, lệ phí, tín dụng, bảo hiểm, khen thưởng và

phong tặng danh hiệu. Điều 5 quy định “các cơ sở ngoài công lập được ưu tiên thuê



47



nhà, cơ sở hạ tầng của Nhà nước”; Điều 7 quy định “UBND tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương căn cứ vào thẩm quyền, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và khả

năng quỹ đất ở địa phương để giao đất hoặc cho cơ sở ngoài công lập thuê đất làm

cơ sở hoạt động. Nhà nước giao đất ổn định lâu dài và không thu tiền sử dụng đất

đối với đất được giao để xây dựng bệnh viện, cơ sở y tế, trường học, sân vận động,

nhà thi đấu... theo quy định của Chính phủ”. Điều 8 “khuyến khích các tổ chức, cá

nhân có nhà đất cho các cơ sở ngoài công lập thuê”. Nghị định 73 quy định chi tiết

về việc miễn thuế nhà, đất cho các cơ sở ngoài công lập được giao đất sử dụng đúng

mục đích; miễn lệ phí chước bạ, không phải nộp thuế giá trị gia tăng cho các hoạt

động, y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao; quy định bảng thuế suất ưu đãi và chế độ

miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu đối với một số mặt

hàng theo quy định; quy định miễn thuế thu nhập cao cho các cán bộ làm thêm giờ ở

các cơ sở ngoài công lập, cho các cá nhân góp vốn và thu nhập do góp vốn do cơ sở

ngoài công lập chi trả. Về chính sách nhân lực, Điều 18 của Nghị định 73 quy định

“người lao động trong các cơ sở ngoài công lập được Nhà nước xét tặng giấy khen,

bằng khen, huân chương, huy chương, phong tặng các danh hiệu cao quý như đối

với người lao động trong các cơ sở công lập và được hưởng tiền thưởng theo mức

quy định của Nhà nứoc từ nguồn ngân sách nhà nước”.

Nghị định 73 dành cả Chương III để quy định về quản lý tài chính của các cơ

sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công. Điều 19 quy định: “Các cơ sở ngoài công

lập tổ chức thu phí, thu tiền dịch vụ, thu do bán sản phẩm và các khoản thu khác để

bù đắp chi phí theo quy định của Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền”. Điều

20 quy định: “Kết quả tài chính hàng năm của các cơ sở ngoài công lập được xác

định trên cơ sở chênh lệch giữa tổng số thu và tổng số chi của đơn vị trong năm tài

chính sau khi hoàn thành nghĩa vụ thu nộp cho ngân sách nhà nước theo quy định

của pháp luật. Thu nhập của đơn vị được trích lại một phần để bổ sung nguồn vốn,

chi tăng cường cơ sở vật chất, giảm mức thu phí, trợ cấp một phần kinh phí cho các

đối tượng chính sách; chi khen thưởng và phúc lợi cho những người lao động trong

đơn vị và các đối tượng trực tiếp hợp tác với đơn vị. Số còn lại được phân phối theo

tỷ lệ vốn góp của Nhà nước, tập thể và cá nhân tham gia cơ sở ngoài công lập.

Phần thu nhập có được từ nguồn vốn góp của Nhà nước được để lại cho cơ sở để

tiếp tục đầu tư”.

- Nghị định 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ về sản xuất và

cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, cho phép doanh nghiệp thuộc mọi thành phần

kinh tế và hợp tác xã đều được tham gia sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ

công ích theo các phương thức đấu thầu, đặt hàng hoặc giao kế hoạch. Theo Nghị

định này, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và hợp tác xã tham gia sản

xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thì “được Nhà nước thanh toán theo



48



giá hoặc phí đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận” và “được hỗ trợ

và tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích theo

quy định của Nhà nước” (Điều 6). Nghị định cũng quy định các loại dịch vụ công

ích mà các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và hợp tác xã tham gia cung

ứng như: xuất bản, vệ sinh môi trường công cộng, vận tải công cộng, bưu chính phổ

cập, bưu chính bắt buộc, cấp điện cho vùng sâu vùng xa, thoát nước đô thị,... (Phụ

lục B và C).

- Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh

xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao nhằm thống

nhất nhận thức, chủ trương và làm rõ cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm đẩy

mạnh xã hội hoá trong bốn lĩnh vực nêu trên. Nghị quyết 05 khẳng định rõ: “Thực

hiện xã hội hoá nhằm hai mục tiêu lớn: thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật

chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn

hoá, thể dục thể thao; thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối

tượng chính sách, người nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục, y tế, văn hoá,

thể dục thể thao ở mức độ ngày càng cao” (Phần II, Mục 1). Nghị quyết cũng đề cập

đến những nội dung chính của cơ chế xã hội hoá như đổi mới cơ chế quản lý của

Nhà nước, chuyển đổi các cơ sở công lập, phát triển mạnh các cơ sở ngoài công

lập... (những nội dung này sẽ được làm rõ hơn dưới đây).

Qua soát xét các văn bản trên đây, có thể kết luận rằng xã hội hoá cung ứng

dịch vụ công thực chất là sự đòi hỏi các cơ quan nhà nước xem xét lại chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn của mình để chuyển dần một số chức năng dịch vụ xã hội cho

cơ quan, tổ chức phi nhà nước hoặc cá nhân thực hiện. Cụ thể hơn, cơ chế xã hội

hoá hàm ý hai nội dung rất quan trọng: (i) đổi mới hoạt động của các cơ quan nhà

nước (các cơ sở công lập) trong việc cung ứng dịch vụ công; và (ii) huy động các

chủ thể ngoài nhà nước (các cơ sở ngoài công lập) tham gia cung ứng dịch vụ công.

Gắn liền với hai nội dung trên là yêu cầu tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước

và phát huy vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng và giám sát các cơ sở

cung ứng dịch vụ công. Mục tiêu của các hoạt động xã hội hoá dịch vụ công là

nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội

tham gia cung ứng dịch vụ công, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để toàn xã hội,

đặc biệt là các đối tượng chính sách và người nghèo, tiếp cận với các dịch vụ công

có chất lượng cao. Đẩy mạnh xã hội hoá cung ứng dịch vụ công là xu hướng tất yếu

trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta.

Nội dung cụ thể của cơ chế xã hội hoá được thể hiện ở những điểm chính sau

đây:



49



- Thứ nhất, chuyển đổi các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công đang hoạt

động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ

cung ứng dịch vụ công không bao cấp tràn lan và không nhằm lợi nhuận. Các cơ sở

này có đầy đủ quyền tự chủ về tổ chức và quản lý; thực hiện đúng mục tiêu và

nhiệm vụ; hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu-chi; thường xuyên nâng cao chất

lượng dịch vụ; đảm bảo quyền lợi và cơ hội tiếp cận bình đẳng của người thụ

hưởng; v.v. Gắn liền với việc chuyển đổi là sự đổi mới chế độ thu phí dịch vụ. Mức

phí quy định theo nguyên tắc đủ trang trải các chi phí cần thiết, có tích luỹ để đầu tư

phát triển và xoá bỏ mọi khoản thu khác. Người thụ hưởng có quyền lựa chọn cơ sở

cung ứng dịch vụ phù hợp với từng lĩnh vực.

- Thứ hai, chuyển các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công sang hình thức

dân lập, tư nhân hoặc sang doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận hoặc

cơ chế lợi nhuận. Tài sản nhà nước sẽ được chuyển giao (giao, bán hoặc cho thuê)

cho các chủ thể ngoài nhà nước. Quyết định chuyển giao do các cơ quan có thẩm

quyền quyết định.

- Thứ ba, khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ công ngoài

công lập với các loại hình dân lập, tư nhân và doanh nghiệp (cả trong nước và nước

ngoài). Quyền sở hữu của các cơ sở này được xác định theo Bộ luật Dân sự. Các cơ

sở này có thể hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận hoặc cơ chế lợi nhuận. Theo cơ

chế phi lợi nhuận thì ngoài phần được dùng để đảm bảo lợi ích hợp lý của nhà đầu

tư, phần để tham gia thực hiện các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, trợ

giúp người nghèo, còn lại phần lớn lợi nhuận được dùng để đầu tư phát triển. Theo

cơ chế lợi nhuận thì lợi nhuận có thể được chia cho các cá nhân và phải chịu thuế.

Vai trò chủ đạo của Nhà nước được thực hiện thông qua việc tiếp tục tăng

đầu tư từ ngân sách đi đôi với phát huy các khả năng đầu tư, đóng góp kinh phí

trong xã hội, hoàn thiện thể chế và đổi mới quản lý vĩ mô. Cụ thể hơn, Nhà nước có

các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai, nhân lực,… đối với các cơ sở công

lập được chuyển đổi và các cơ sở ngoài công lập mới thành lập. Nhà nước tạo môi

trường phát triển, môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật để

thúc đẩy các cơ sở công lập cũng như ngoài công lập phát triển cả về quy mô và

chất lượng. Đồng thời, Nhà nước tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, phát huy

vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, đặc biệt là các hội nghề nghiệp trong

việc giám sát hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụ công được xã hội hoá.

Những nội dung trình bày trên đây đã cơ bản làm rõ cơ chế xã hội hoá cung

ứng dịch vụ công. Cơ chế mới này khác rõ rệt với cơ chế bao cấp. Áp dụng cơ chế

xã hội hoá, Nhà nước trút bỏ được gánh nặng bao cấp dai dẳng từ nhiều năm nay.

Một mặt hoạt động của các cơ quan nhà nước đã được giảm tải do một số công việc



50



do cơ quan nhà nước đảm nhận được chuyển sang cho các chủ thể phi nhà nước.

Mặt khác, việc xã hội hoá góp phần giảm biên chế, tinh gọn bộ máy nhà nước, qua

đó giảm chi cho ngân sách nhà nước. Các cơ sở công lập nếu không chuyển đổi sang

các hình thức dân lập, tư nhân hay doanh nghiệp thì được quyền tự chủ về tổ chức

và quản lý, tự hạch toán chi phí, cân đối thu - chi, không lệ thuộc vào ngân sách nhà

nước. Điều này đòi hỏi các cơ sở công lập đổi mới tư duy, áp dụng một cách thích

đáng tư duy kinh tế vào công tác quản lý để sử dụng có hiệu quả vốn nhà nước đầu

tư cho phúc lợi xã hội và các nguồn vốn được huy động theo pháp luật.

Cơ chế xã hội hoá cũng khác rõ rệt với cơ chế hoàn toàn thương mại hoá theo

thị trường. Điểm khác biệt nổi bật là tính chất hoạt động phi lợi nhuận của các cơ sở

cung ứng dịch vụ công (cả nhà nước và ngoài nhà nước). Một trong những mục tiêu

chủ yếu của việc thực hiện xã hội hoá cung ứng dịch vụ công của Đảng và Nhà nước

ta là thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo sự tiếp cận với dịch vụ công của các đối

tượng chính sách, người nghèo,... Do vậy, Nhà nước đặc biệt khuyến khích phát

triển các cơ sở phi lợi nhuận. Ngay cả đối với các cơ sở hoạt động vì mục đích lợi

nhuận, Nhà nước rất đề cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở này, đồng thời có các

chính sách khuyến khích để đảm bảo việc phục vụ xã hội có hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm chưa được làm rõ. Về vấn đề sở hữu, hiện

chưa có quy định rành mạch về sở hữu của một số loại hình cơ sở cung ứng dịch vụ

công như cơ sở bán công hoặc cơ sở công lập được chuyển đổi về hình thức nhưng

không được chuyển đổi về sở hữu (giao, cho thuê). Do vậy, vẫn còn dư địa cho bao

cấp. Về tính chất hoạt động, hiện cũng chưa phân định rõ sự khác biệt giữa các hoạt

động có tính chất lợi nhuận và phi lợi nhuận của các cơ sở cung ứng dịch vụ. Điều

đó trên thực tế đã góp phần gây ra tình trạng thương mại hoá quá mức trong một số

lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hoá,…

III. NHỮNG NHẬN THỨC KHÔNG ĐÚNG VỀ CƠ CHẾ XÃ HỘI HÓA

CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG

Do hàm ý tương đối rộng của khái niệm “xã hội hoá”, cho nên đã có những

cách hiểu khác nhau dẫn đến những nhận thức không đúng về cơ chế này. Đây là

một trong những nguyên nhân quan trọng hạn chế kết quả xã hội hoá cung ứng dịch

vụ công ở nước ta trong những năm qua.

III.1. Coi xã hội hoá là tư nhân hoá

Với ý nghĩa chung nhất, xã hội hoá cung ứng dịch vụ công tức là sự chuyển

giao một số dịch vụ công từ khu vực nhà nước sang khu vực ngoài nhà nước (khu

vực tư nhân), do vậy có ý kiến cho rằng xã hội hoá chính là tư nhân hoá. Xét từ góc

độ nội dung của cơ chế xã hội hoá, việc chuyển các cơ sở công lập thành các cơ sở



51



ngoài công lập và khuyến khích phát triển các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch

vụ công dễ gây ra cách hiểu lầm lẫn là tư nhân hoá. Cách hiểu này càng được củng

cố hơn khi tư nhân, nhất là dưới hình thức doanh nghiệp, được phép tham gia cung

ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, điều khác biệt cơ bản với tư nhân hoá là xã hội hoá

vẫn nhấn mạnh trách nhiệm và đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành của Nhà nước đối với

việc cung ứng các dịch vụ công. Đối với các cơ sở ngoài công lập, Nhà nước luôn

luôn khuyến khích hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận, được hiểu là lợi nhuận thu

được không chia hết cho các cá nhân mà chủ yếu dùng để đầu tư phát triển, thực

hiện các chính sách xã hội, trợ giúp người nghèo. Do vậy, việc hoạt động theo cơ

chế hoàn toàn thương mại hoá là hạn chế. Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không

nhỏ các cơ sở công lập không chuyển đổi sở hữu mà chỉ đổi mới cơ chế hoạt động,

cho nên không thể coi là tư nhân hoá.

Trên thực tế, trong những năm qua, chính nhận thức không đúng trên đã gây

ra những hệ quả tiêu cực trong một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hoá. Không ít

nơi đã xảy ra hiện tượng thương mại hoá tràn lan và không lành mạnh trong các lĩnh

vực này. Thí dụ, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là hiện tượng dạy thêm, học

thêm tràn lan, trong trường thì dạy hời hợt, ngoài trường thì dạy nhồi nhét, thu tiền

học cao, dạy và học chạy theo bằng cấp, thi cử, v.v. Trong lĩnh vực y tế là hiện

tượng giá thuốc chữa bệnh tăng cao bất hợp lý, sự lạm dụng kỹ thuật khám, chữa

bệnh đắt tiền ở các cơ sở y tế ngoài công lập, v.v. Những hiện tượng này được dư

luận xã hội hết sức quan tâm, bởi vì chúng có liên quan đến đời sống của đông đảo

người dân và là những vấn đề rất nhạy cảm. Có không ít người nghèo đáng ra được

Nhà nước trợ giúp lại không thể tiếp cận được với các dịch vụ công, hoặc nếu tiếp

cận được thì phải chịu những khoản chi phí vượt quá khả năng thực tế của mình.

Việc làm rõ hàm ý nội dung của cơ chế xã hội hoá sẽ góp phần khắc phục được

nhận thức sai lầm này.

III.2. Coi xã hội hoá chỉ là sự đóng góp tiền của, vật chất của nhân dân trong

điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp

Như phân tích trên đây, việc thực hiện xã hội hoá cung ứng các dịch vụ công

góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa khoản kinh phí bao cấp quá lớn về dịch vụ công

với ngân sách nhà nước còn rất hạn hẹp. Điều này có nghĩa là, thông qua xã hội hoá,

các khoản chi phí cho dịch vụ công được chia sẻ giữa ngân sách nhà nước với các

nguồn lực khác của xã hội, và trong chừng mực nào đó nó đòi hỏi có sự đóng góp

của nhân dân. Từ đây dẫn đến cách hiểu sai cho rằng xã hội hoá chỉ là biện pháp huy

động sự đóng góp thích đáng tiền của và phương tiện vật chất của nhân dân trong

điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp, thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân

dân cùng làm”. Tuy nhiên, như phân tích trong Phần III.1, cơ chế xã hội hoá không

đơn giản và đơn thuần như vậy. Chủ trương chung tại Nghị quyết 90/CP (1997) đã



52



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. CHỦ TRƯƠNG XÃ HỘI HÓA CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG

Tải bản đầy đủ ngay(97 tr)

×