Tải bản đầy đủ - 97 (trang)
III. NHỮNG NHẬN THỨC KHÔNG ĐÚNG VỀ CƠ CHẾ XÃ HỘI HÓA CUNG ỨN

III. NHỮNG NHẬN THỨC KHÔNG ĐÚNG VỀ CƠ CHẾ XÃ HỘI HÓA CUNG ỨN

Tải bản đầy đủ - 97trang

ngoài công lập và khuyến khích phát triển các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch

vụ công dễ gây ra cách hiểu lầm lẫn là tư nhân hoá. Cách hiểu này càng được củng

cố hơn khi tư nhân, nhất là dưới hình thức doanh nghiệp, được phép tham gia cung

ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, điều khác biệt cơ bản với tư nhân hoá là xã hội hoá

vẫn nhấn mạnh trách nhiệm và đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành của Nhà nước đối với

việc cung ứng các dịch vụ công. Đối với các cơ sở ngoài công lập, Nhà nước luôn

luôn khuyến khích hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận, được hiểu là lợi nhuận thu

được không chia hết cho các cá nhân mà chủ yếu dùng để đầu tư phát triển, thực

hiện các chính sách xã hội, trợ giúp người nghèo. Do vậy, việc hoạt động theo cơ

chế hoàn toàn thương mại hoá là hạn chế. Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không

nhỏ các cơ sở công lập không chuyển đổi sở hữu mà chỉ đổi mới cơ chế hoạt động,

cho nên không thể coi là tư nhân hoá.

Trên thực tế, trong những năm qua, chính nhận thức không đúng trên đã gây

ra những hệ quả tiêu cực trong một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hoá. Không ít

nơi đã xảy ra hiện tượng thương mại hoá tràn lan và không lành mạnh trong các lĩnh

vực này. Thí dụ, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là hiện tượng dạy thêm, học

thêm tràn lan, trong trường thì dạy hời hợt, ngoài trường thì dạy nhồi nhét, thu tiền

học cao, dạy và học chạy theo bằng cấp, thi cử, v.v. Trong lĩnh vực y tế là hiện

tượng giá thuốc chữa bệnh tăng cao bất hợp lý, sự lạm dụng kỹ thuật khám, chữa

bệnh đắt tiền ở các cơ sở y tế ngoài công lập, v.v. Những hiện tượng này được dư

luận xã hội hết sức quan tâm, bởi vì chúng có liên quan đến đời sống của đông đảo

người dân và là những vấn đề rất nhạy cảm. Có không ít người nghèo đáng ra được

Nhà nước trợ giúp lại không thể tiếp cận được với các dịch vụ công, hoặc nếu tiếp

cận được thì phải chịu những khoản chi phí vượt quá khả năng thực tế của mình.

Việc làm rõ hàm ý nội dung của cơ chế xã hội hoá sẽ góp phần khắc phục được

nhận thức sai lầm này.

III.2. Coi xã hội hoá chỉ là sự đóng góp tiền của, vật chất của nhân dân trong

điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp

Như phân tích trên đây, việc thực hiện xã hội hoá cung ứng các dịch vụ công

góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa khoản kinh phí bao cấp quá lớn về dịch vụ công

với ngân sách nhà nước còn rất hạn hẹp. Điều này có nghĩa là, thông qua xã hội hoá,

các khoản chi phí cho dịch vụ công được chia sẻ giữa ngân sách nhà nước với các

nguồn lực khác của xã hội, và trong chừng mực nào đó nó đòi hỏi có sự đóng góp

của nhân dân. Từ đây dẫn đến cách hiểu sai cho rằng xã hội hoá chỉ là biện pháp huy

động sự đóng góp thích đáng tiền của và phương tiện vật chất của nhân dân trong

điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp, thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân

dân cùng làm”. Tuy nhiên, như phân tích trong Phần III.1, cơ chế xã hội hoá không

đơn giản và đơn thuần như vậy. Chủ trương chung tại Nghị quyết 90/CP (1997) đã



52



khẳng định: “Xã hội hoá là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về

nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội”. Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải,

trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP

(ngày 26/7/2005), đã khẳng định: “Cần nhấn mạnh rõ ràng, xã hội hoá là huy động

sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn xã hội để đáp ứng tốt hơn nhu cầu

ngày càng cao của dân về giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao, thực hiện tốt

hơn công bằng xã hội trong các lĩnh vực này”. Như vậy, các nguồn lực đóng góp

của nhân dân bao gồm cả nhân lực (trí tuệ, tinh thần và thể chất), vật lực và tài lực,

chứ không chỉ riêng tiền của và vật chất. Hơn thế nữa, xã hội hoá cung ứng dịch vụ

công không phải chỉ xuất phát từ điều kiện hạn hẹp của ngân sách nhà nước, cũng

không phải chỉ nhằm mục tiêu giải quyết tình trạng hạn hẹp của ngân sách nhà nước.

Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào, thì vẫn phải thực

hiện xã hội hoá, bởi vì giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao là sự nghiệp lâu dài

của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng với nguồn lực to lớn của toàn dân.

Nhận thức không đúng trên đây cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình

trạng thương mại hoá quá mức trong một số lĩnh vực dịch vụ công. Do quan niệm

xã hội hoá là sự đóng góp về tiền của và vật chất, cho nên các chủ thể tham gia đóng

góp thường xuất phát từ lợi ích vật chất, tức là coi việc tham gia cung ứng dịch vụ

công như một hoạt động kinh doanh thực sự chứ không phải vì sự phát triển của

ngành và vì phúc lợi của xã hội. Trong một số trường hợp, sự phân chia quyền lợi

không rõ ràng đã gây ra những đổ vỡ, làm tổn hại đến xã hội. Những vụ tiêu cực

trong một số trường đại học dân lập xảy ra trong thời gian qua là thí dụ điển hình.

III.3. Coi xã hội hoá chỉ được thực hiện trong các tổ chức ngoài nhà nước cung

ứng dịch vụ công, còn các tổ chức của nhà nước cung ứng dịch vụ công thì

không cần thực hiện xã hội hoá

Nhận thức này bắt nguồn từ một hàm ý của xã hội hoá là cho phép sự tham

gia cung ứng dịch vụ công của các chủ thể ngoài nhà nước (hay ngoài công lập).

Tuy nhiên, đây chỉ là một trong số các nội dung của xã hội hoá. Như trên đã khẳng

định, cơ chế xã hội hoá hàm ý hai nội dung rất quan trọng là: (i) đổi mới hoạt động

của các cơ quan nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công; và (ii) huy động các

chủ thể ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công. Vì vậy, nếu hiểu xã hội

hoá chỉ được thực hiện trong các tổ chức ngoài nhà nước cung ứng dịch vụ công mà

không đề cập đến sự đổi mới hoạt động của các tổ chức của Nhà nước là thiên lệch,

không đầy đủ và có thể bóp méo những mục tiêu của xã hội hoá. Nghị quyết 90/CP

(1997) khẳng định: “Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng

lớn nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh

và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá. Ở mỗi địa phương, đây là

cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các cơ



53



quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp

đóng tại địa phương và của từng người dân… Bên cạnh việc củng cố các tổ chức

của Nhà nước, cần phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc

các cá nhân tiến hành trong khuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà

nước”. Trên thực tế, việc đổi mới hoạt động của các tổ chức của nhà nước có tầm

quan trọng không kém việc khuyến khích sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà

nước.

Nhận thức không đúng nêu trên là nguyên nhân quan trọng dẫn tới hệ quả có

tính hai mặt sau đây: một mặt là sự phát triển tràn lan và có phần thiếu lành mạnh

của các cơ sở ngoài công lập trong một số lĩnh vực dịch vụ công; mặt khác là sự

chậm trễ trong việc đổi mới quản lý tại các cơ sở công lập. Nghị quyết số

05/2005/NQ-CP có nhận định: “Trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao,

các cơ sở công lập chiếm tỷ trọng lớn vẫn áp dụng cơ chế quản lý như các cơ quan

hành chính nên đã không phát huy được tính năng động, tự chủ và trách nhiệm”. Hệ

quả chung là tốc độ xã hội hoá diễn ra chậm so với tiềm năng và chỉ tiêu định hướng

của Nghị quyết 90/CP.

IV. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG

IV.1. Đánh giá thành tựu

Tính đến nay, cơ chế xã hội hoá cung ứng các dịch vụ công đã được thực

hiện hơn 8 năm ở nước ta, chủ yếu trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, và thể

dục thể thao. Nhìn lại quá trình thực hiện hơn 8 năm này, có thể rút ra một số đánh

giá chung về thành tựu như sau:

- Cơ chế mới đã góp phần tạo ra sự thay đổi cơ bản về nhận thức của xã hội,

nâng cao ý thức trách nhiệm, xây dựng cộng đồng trách nhiệm của người dân và mở

rộng sự tham gia của người dân chăm lo cho các lĩnh vực dịch vụ công được thực

hiện. Nó từng bước nâng cao nhận thức của các chủ thể khác nhau trong xã hội về

xu hướng xã hội hoá, các mục tiêu của xã hội hoá, các nội dung của cơ chế xã hội

hoá cũng như các giải pháp để thực hiện. Đây là cơ sở quan trọng để tạo ra sự thống

nhất của xã hội đối với cơ chế xã hội hoá cung ứng dịch vụ công.

- Tiềm năng và nguồn lực xã hội đã bước đầu được huy động cho phát triển

một số lĩnh vực dịch vụ công; tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống cho hàng trăm

nghìn người.

- Khu vực công lập đã có những đổi mới về phương thức hoạt động. Khu vực

ngoài công lập phát triển với những loại hình và phương thức hoạt động mới, da

dạng, phong phú, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao dân chí, chăm

sóc, bảo vệ sức khoẻ và cải thiện đời sống văn hoá cho nhân dân.



54



- Xã hội hoá đã góp phần thực hiện công bằng xã hội thông qua việc tạo thêm

cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ, tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước ưu tiên

đầu tư cho những vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, những người thuộc

diện chính sách, trợ giúp người nghèo, những người sống trong các vùng khó khăn.

Trong năm lĩnh vực thực hiện xã hội hoá theo Nghị quyết 90/CP, Nghị định

73/1999/NĐ-CP và Nghị quyết 05/2005/NQ-CP, những thành tựu quan trọng được

thể hiện ở những nội dung dưới đây.

IV.1.1. Lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề

IV.1.1.1. Giáo dục và đào tạo

Ngay từ trước khi có chủ trương xã hội hoá, vào cuối những năm 1980 và

đầu những năm 1990, Đảng và Nhà nước ta đã khởi xướng công cuộc cải cách về

giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công

lập tồn tại song song với hệ thống của Nhà nước. Cho đến khi Chính phủ ban hành

Nghị quyết 90/CP (1997), nước ta đã có một hệ thống các cơ sở giáo dục ngoài công

lập ở tất cả các cấp học. Đây là tiền đề rất quan trọng cho việc đẩy mạnh xã hội hoá

giáo dục và đào tạo trong những năm tiếp theo. Thực hiện Nghị quyết 90/CP, công

tác xã hội hoá giáo dục và đào tạo đã đi vào chiều sâu và đã đem lại những đóng góp

đáng kể cho phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà.

- Một là, nhận thức của xã hội về vai trò của giáo dục và xã hội hoá giáo dục

đã có những chuyển biến cơ bản. Giáo dục và đào tạo được coi là động lực để phát

triển kinh tế- xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục và đào

tạo được đặt lên vị trí quốc sách hàng đầu. Trong số các giải pháp phát triển giáo

dục và đào tạo, thì xã hội hoá được coi là một giải pháp mang tính chiến lược, nhằm

huy động mọi nguồn lực của xã hội cho phát triển giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập

của các tầng lớp nhân dân và đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Hai là, đổi mới và nâng cao chất lượng các trường công lập. Hệ thống giáo

dục công lập được phát triển mạnh trong toàn quốc với đầy đủ các cấp bậc học và

trình độ đào tạo từ mần non đến sau đại học. Với việc Nhà nước tăng chi ngân sách

cho giáo dục và đẩy mạnh thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX)

về phát triển giáo dục và đào tạo, hệ thống các trường công lập đã được tăng cường

đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, đổi

mới nội dung chương trình. Mạng lưới cơ sở giáo dục đã được mở rộng đến khắp

các xã, phường trên cả nước, góp phần xoá xã trắng về giáo dục mầm non, củng cố

vững chắc kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Quy hoạch mạng lưới

các trường đại học đã được triển khai tích cực. Các vùng khó khăn như Tây Bắc,



55



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. NHỮNG NHẬN THỨC KHÔNG ĐÚNG VỀ CƠ CHẾ XÃ HỘI HÓA CUNG ỨN

Tải bản đầy đủ ngay(97 tr)

×