Tải bản đầy đủ - 97 (trang)
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG TH

III. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG TH

Tải bản đầy đủ - 97trang

(1) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nghiên cứu lý luận, nâng cao nhận thức

về xã hội hoá; trong đó chú ý làm sáng tỏ những vấn đề chưa rõ ràng và chưa thống

nhất liên quan đến cơ chế xã hội hoá.

(2) Tiếp tục đổi mới chính sách và cơ chế quản lý, đáng chú ý là: hoàn thiện

các quy định về mô hình, quy chế hoạt động của các cơ sở ngoài công lập; chuyển

cơ chế hoạt động của các cơ sở công lập sang cơ chế cung ứng dịch vụ; đổi mới cơ

chế sử dụng ngân sách nhà nước trong các lĩnh vực dịch vụ công; đổi mới các chính

sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai, nhân lực; và đổi mới cơ chế quản lý nhà nước,

(3) Xây dựng quy hoạch phát triển xã hội hoá (được thực hiện ở cấp độ

ngành).

Những giải pháp trên đây không chỉ áp dụng cho các lĩnh vực giáo dục và

đào tạo, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, mà còn có thể áp dụng cho các lĩnh vực

dịch vụ công khác, hay nói cách khác có thể áp dụng cho công tác xã hội hoá cung

ứng dịch vụ công nói chung. Nội dung của chúng đã được đề cập trong Nghị quyết,

ở đây không nhắc lại. Phần này nêu ra những giải pháp vừa cụ thể hoá vừa bổ sung

cho những nội dung giải pháp đã nêu trong Nghị quyết.

III.1. Làm rõ một số vấn đề mang tính lý luận về xã hội hoá cung ứng dịch vụ

công

Để thống nhất nhận thức về chủ trương xã hội hoá cung ứng dịch vụ công,

cần phải làm sáng tỏ nhiều vấn đề mang tính lý luận. Vấn đề đầu tiên cần nghiên

cứu là làm rõ khái niệm về “xã hội hoá dịch vụ công” (có thể kèm theo phần giải

nghĩa để có cách hiểu rõ ràng, thống nhất). Khái niệm này cần được nêu trong các

văn bản có hiệu lực của Đảng và Nhà nước, làm cơ sở quan trọng cho việc cụ thể

hoá một cách có hiệu quả chủ trương, chính sách xã hội hoá dịch vụ công. Bên cạnh

việc đưa ra khái niệm chính thức về “xã hội hoá dịch vụ công”, cần phải làm rõ

thêm những vấn đề dưới đây:

III.1.1. Tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra khỏi hoạt động quản lý nhà

nước15

Việc tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra khỏi hoạt động quản lý nhà

nước là cơ sở quan trọng của xã hội hoá cung ứng dịch vụ công. Hoạt động cung

ứng dịch vụ công khác với hoạt động quản lý nhà nước. Cần phân định rõ hoạt động

của các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp công ích của Nhà nước cung ứng dịch

Thực chất, việc tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra khỏi hoạt động quản lý nhà nước có

nhiều nội dung đồng nghĩa với việc các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công đang theo cơ chế

tương tự như cơ chế hành chính (cơ sở dịch vụ công là đơn vị dự toán ngân sách nhà nước, do cấp

trên quyết định cả kế hoạch hoạt động, nhân sự và kinh phí) chuyển sang cơ chế tự chủ cung ứng

dịch vụ công như quy định trong Nghị quyết 05/2005/NQ-CP.

15



81



vụ công với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, khắc phục tình trạng

cơ quan quản lý nhà nước các cấp can thiệp quá sâu vào hoạt động của các cơ sở

cung ứng dịch vụ công.

Đồng thời với việc tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra khỏi phạm vi

hoạt động hành chính, Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách cho hoạt động

cung ứng dịch vụ công16. Việc áp đặt cơ chế hành chính cho các hoạt động cung ứng

dịch vụ công làm hạn chế hiệu quả, sự năng động của các cơ sở cung ứng dịch vụ

công. Cơ chế hoạt động và quản lý phù hợp làm cho các cơ sở cung ứng dịch vụ

công có thể cạnh tranh lành mạnh với nhau trên thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải để các cơ sở công lập được tự

chủ hoạt động, không bị cản trở bởi mệnh lệnh hành chính của các cơ quan nhà

nước, đồng thời các cơ sở của Nhà nước cung ứng dịch vụ công không thể dựa vào

sự bao cấp, sự ưu đãi của Nhà nước mà phải tự khẳng định mình bằng sự nỗ lực

vươn lên trong môi trường cạnh tranh bình đẳng.

III.1.2. Xác định những lĩnh vực dịch vụ công được xã hội hoá trong giai đoạn từ

nay đến năm 2010

Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ đã nêu ra chủ trương, biện pháp

thực hiện xã hội hoá trong bốn lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, y tế, văn hoá, và thể

dục thể thao. Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều lĩnh vực khác đã, đang và sẽ được xã

hội hoá, vì vậy cũng cần phải có các cơ chế chính sách áp dụng đối với các lĩnh vực

này. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 chúng ta có thể tiến hành xã hội hoá đối

với một số lĩnh vực dịch vụ công sau đây:

- Đối với dịch vụ hành chính công: công chứng.

- Đối với dịch vụ sự nghiệp công: giáo dục và đào tạo, y tế và chăm sóc sức

khoẻ, văn hoá, thể dục thể thao, và khoa học, công nghệ17.

- Đối với dịch vụ công ích: vệ sinh môi trường, quản lý công viên, cây xanh,

cấp nước sạch ở nông thôn, bổ sung nguồn phát triển cấp điện ở nông thôn, vận tải

công cộng.



Ở đây là cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công và một số chính sách khuyến khích thực hiện xã

hội hoá cung ứng dịch vụ công.

16



Sau Nghị quyết 05, Chính phủ đã ban hành một số quy định để thực hiện xã hội hoá trong lĩnh

vực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ, như Quyết định số 214/2005/QĐTTg ngày 30-8-2005 thông qua đề án phát triển thị trường công nghệ, Nghị định số 115-CP ngày 59-2005 về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học, công nghệ.

17



82



Những kết quả đạt được của giai đoạn từ nay đến năm 2010 là tiền đề quan

trọng cho việc tiếp tục mở rộng xã hội hoá trong các giai đoạn tiếp theo.

Việc tiến hành xã hội hoá trong thời gian trước mắt phải đặt trọng tâm vào

các dịch vụ sự nghiệp công vì những lý do dưới đây:

- Lĩnh vực này gồm những hoạt động nhằm bồi dưỡng và phát huy con người

cả về trí tuệ, tinh thần và thể chất, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đáp ứng

nhu cầu và sự quan tâm của toàn xã hội cho tới mọi gia đình. Lĩnh vực này được đổi

mới, phát triển và nâng cao chất lượng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa đất

nước phát triển nhanh và bền vững, tiến cùng thời đại, nâng cao được vị thế trong

hội nhập kinh tế quốc tế.

- Lĩnh vực này có khả năng thu hút sự tham gia của nhiều chủ thể (tổ chức và

cá nhân) ngoài khu vực nhà nước, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài; khác với khu

vực dịch vụ công ích thường đòi hỏi đầu tư lớn về xây dựng kết cấu hạ tầng vượt

quá khả năng hiện nay của khu vực tư nhân, hoặc do yêu cầu về tính pháp lý, về

đảm bảo an toàn và công bằng, nên chưa thể chuyển giao cho các chủ thể phi nhà

nước (như dịch vụ hành chính công, mạng lưới điện, thông tin, đường giao thông

huyết mạch,…).

- Công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước đã bước đầu tách biệt chức

năng quản lý nhà nước với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, nay cần

triển khai tiếp sang sự tách biệt quản lý nhà nước với cung ứng dịch vụ công, coi đó

là một yêu cầu quan trọng và bức bách trong thời gian tới.

III.1.3. Đa dạng hoá các hình thức cung ứng dịch vụ công

Hiện nay, bên cạnh các cơ sở công lập, các cơ sở ngoài công lập cũng tham

gia cung ứng dịch vụ công. Các cơ sở này cung ứng dịch vụ công theo nhu cầu của

xã hội, Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các cơ sở này

theo quy định của pháp luật. Các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công sẽ hoạt động

theo cơ chế mới (một số nội dung sẽ được làm rõ trong phần III.1.4 dưới đây). Đồng

thời, cần tăng cường sự liên kết giữa Nhà nước với các cơ sở ngoài công lập trong

việc cung ứng dịch vụ công thông qua nhiều hình thức, như:

- Nhà nước giao cho cơ sở ngoài công lập tài sản vật chất của Nhà nước (Nhà

nước vẫn giữ quyền sở hữu) và cơ sở này sử dụng tài sản này để cung ứng dịch vụ

công cho xã hội. Đây là hợp đồng giao khoán, thường được ký với một hoặc một số

nhà quản lý tư nhân. Họ tiến hành hoạt động và phân phối dịch vụ công theo yêu

cầu của Nhà nước đưa ra, bảo đảm nộp các khoản thuế và phí theo quy định chung.

Cách làm này có thể được áp dụng cho các lĩnh vực dịch vụ hạ tầng như vận tải,

dịch vụ cảng, dịch vụ điện, cấp thoát nước... Nhà nước vẫn giữ quyền kiểm soát đối



83



với hoạt động của cơ sở ngoài công lập, trong một số trường hợp cụ thể, có thể cung

cấp kinh phí cho các cơ sở này hoạt động; các cơ sở này phải tuân thủ những yêu

cầu của Nhà nước trong hoạt động, bảo đảm cung ứng dịch vụ công cho người dân.

- Nhà nước ký hợp đồng với các cơ sở ngoài công lập cung ứng một loại dịch

vụ công. Các cơ sở ngoài công lập có tài sản riêng, nguồn vốn riêng, đứng ra tổ

chức cung ứng dịch vụ công theo hợp đồng với Nhà nước, trong đó xác định rõ

trách nhiệm, quyền lợi của hai bên. Hình thức này có hiệu quả hơn hình thức hợp

đồng sử dụng tài sản của Nhà nước để cung ứng dịch vụ công.

- Trong một số dịch vụ công ích như cung cấp điện, nước sạch..., cơ sở ngoài

công lập tạo ra sản phẩm ban đầu, và Nhà nước mua lại để hoà vào mạng lưới phân

phối chung, cung ứng điện, nước cho người tiêu dùng.

III.1.4. Làm rõ một số cơ chế hoạt động của các cơ sở công lập sau khi được

chuyển đổi

Việc chuyển đổi các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công đang hoạt động

theo cơ chế sự nghiệp (tương tự như cơ quan hành chính) sang cơ chế tự chủ, tự

chịu trách nhiệm trong môi trường cạnh tranh là một nội dung quan trọng của tiến

trình xã hội hoá cung ứng dịch vụ công. Sự chuyển đổi đó tập trung vào các nội

dung sau đây:

III.1.4.1. Làm rõ quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở công lập cung

ứng dịch vụ công

Mấy điểm quan trọng là:

- Một, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kế hoạch hoạt động:

Cơ sở công lập do Nhà nước thành lập và đầu tư trang thiết bị ban đầu, phải

tuân theo chức năng, nhiệm vụ chung do Nhà nước quy định khi thành lập. Trong kế

hoạch hàng năm của mình, các cơ sở công lập nhận những nhiệm vụ Nhà nước giao

dưới hình thức đơn đặt hàng nhà nước, có kèm theo các điều kiện vật chất (kinh phí,

phương tiện) để thực hiện các đơn đặt hàng đó. Ngoài ra, các cơ sở này phải tự tìm

các nguồn đặt hàng khác từ các khách hàng (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tập

thể, cá nhân) và có quyền ký kết các hợp đồng khách hàng phù hợp với khả năng

của mình. Các cơ sở được tự quyết định lựa chọn đối tác trong hoạt động của mình,

và được tự quyết định kế hoạch đầu tư phát triển từ các nguồn vốn tự có, hoặc vay

từ các tổ chức tín dụng hoặc nguồn khác theo quy định chung.

- Hai, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức nhân sự:

Cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công có quyền tự quyết về tổ chức bộ máy

làm việc theo quy định chung của Nhà nước; có quyền thành lập, sáp nhập, giải thể



84



và quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc phù hợp với chức năng,

nhiệm vụ của toàn cơ sở. Cơ sở có quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các

chức vụ quản lý của mình, trừ một số ít chức danh lãnh đạo; quyền quyết định biên

chế cán bộ và nhân viên của cơ sở phù hợp với khả năng và yêu cầu của cơ sở;

quyền quyết định tuyển dụng và sử dụng cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp

luật liên quan. Cán bộ và nhân viên trong các cơ sở công lập chịu sự điều chỉnh của

quy chế viên chức, tách khỏi biên chế công chức, trừ một số ít chức vụ do cơ quan

hành chính nhà nước tuyển cử.

Nếu cơ sở công lập có từ hai nguồn cung cấp tài chính ổn định trở lên thì

thành lập Hội đồng quản trị để quản lý việc sử dụng vốn, quyết định những vấn đề

quan trọng của cơ sở với tư cách đại diện các chủ sở hữu. Nếu chỉ có một nguồn

cung cấp tài chính thì có thể thành lập Ban kiểm tra để theo dõi diễn biến của các

nguồn thu, chi của đơn vị.

- Ba, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính:

Nguồn tài chính cho các cơ sở công lập bao gồm:

(1) Vốn đầu tư ban đầu do Nhà nước cấp toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại

thuộc nguồn vốn khác.

(2) Vốn hoạt động gồm có: phần do Nhà nước cấp theo hợp đồng giữa cơ sở

công lập và cơ quan đặt hàng của Nhà nước (đơn đặt hàng nhà nước) và phần do

hợp đồng hoặc thoả thuận với các khách hàng khác (tổ chức hay cá nhân, kể cả phí

thu từ người thụ hưởng dịch vụ). Phần nguồn khác: kinh phí tài trợ của các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước; vốn vay tín dụng.

Như vậy, vốn hoạt động của các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công

thường là từ nhiều nguồn nên cách quản lý vốn cũng cần tổ chức theo hình thức hội

đồng hoặc ban có đại diện các nguồn đó cùng tham gia.

Quyền tự chủ về tài chính của các cơ sở công lập bao gồm cả phần thu và

phần chi. Ngoài nhiệm vụ ưu tiên thực hiện các đơn đặt hàng của Nhà nước, các cơ

sở công lập tự thoả thuận về giá trị các hợp đồng với các bên đối tác theo một khung

chung thống nhất trong ngành hoặc trong hiệp hội ngành nghề; chủ động tiếp nhận

các nguồn cung cấp tài chính khác. Cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công được

quyền quyết định nội dung chi và mức chi để bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ đã

ký kết, mức kinh phí chuyên gia trong nước và ngoài nước được mời; được quyền

quyết định việc thành lập quỹ tiền lương của đơn vị sau nộp thuế (theo khung quy

định nếu có) và lập các quỹ theo quy định của pháp luật.

Là những tổ chức có tư cách pháp nhân (trừ những trường hợp không hoạt

động độc lập như trạm xá cơ quan, nhà trẻ của doanh nghiệp...), các cơ sở công lập



85



cung ứng dịch vụ công chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tổ chức thành lập về

các hoạt động của mình và trước các đối tác về các cam kết đã thoả thuận theo quy

định của pháp luật. Cơ sở công lập hoạt động với tư cách tổ chức phi lợi nhuận,

phần thu được, ngoài việc bù đắp chi phí và lập các quỹ theo quy định của Nhà

nước, không được phép chia lãi cho các thành viên; phần còn dư chủ yếu sử dụng

cho yêu cầu phát triển của đơn vị. Trách nhiệm của các cơ sở công lập nên là hữu

hạn; hoạt động theo phương thức hạch toán độc lập, không phải theo cơ chế đơn vị

dự toán như cơ quan hành chính nhưng cũng không theo cơ chế doanh nghiệp lấy

lợi nhuận làm mục tiêu chính. Vì vậy, các cơ sở này không chịu thuế như doanh

nghiệp, song cũng không hoàn toàn được miễn trừ các loại thuế. Chế độ thuế của

các cơ sở này cần được quy định riêng, phù hợp với đặc thù của hoạt động cung ứng

dịch vụ công.

III.1.4.2. Làm rõ cơ chế tài chính của các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công

Vấn đề cơ bản về đổi mới cơ chế tài chính của cơ sở công lập cung ứng dịch

vụ công là chuyển từ chế độ dự toán của cơ quan hành chính sang cơ chế tự hạch

toán hay hạch toán độc lập tương tự như của doanh nghiệp18. Trong bối cảnh những

năm đầu đổi mới, có thể có ba mức hạch toán: một số cơ sở chưa có khả năng thu,

chủ yếu là thực hiện các dịch vụ phục vụ công tác quản lý hành chính, phục vụ cộng

đồng (như văn nghệ quần chúng, cung cấp thông tin...) thì vẫn tiếp tục thực hiện chế

độ dự toán; một số cơ sở có điều kiện tự hạch toán, có thể cân đối thu chi, thì thực

hiện cơ chế hạch toán độc lập đầy đủ (như các viện nghiên cứu, trung tâm đào tạo,

dạy nghề...). Còn lại một số cơ sở nằm ở khoảng giữa, có thu nhưng không đủ chi,

thì áp dụng cơ chế tự hạch toán một phần, lấy thu bù chi và nhận một phần nguồn tài

chính từ ngân sách. Trong quá trình cải cách từng bước, những cơ sở dự toán sẽ

chuyển thể thành cơ sở tự hạch toán một phần, những cơ sở hạch toán một phần sẽ

chuyển thể thành cơ sở tự hạch toán đầy đủ và một số cơ sở hạch toán độc lập có

điều kiện có thể chuyển thể thành doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp hỗn

hợp. Quá trình chuyển hoá từ cơ sở dự toán trên cơ sở lấy thu bù chi sang cơ sở hạch

toán độc lập cần có một thời hạn để hoàn thành, tốt nhất là không vượt quá năm

2010 và cần có thiết kế để thực hiện từng bước.

Vấn đề then chốt trong hạch toán là phải tính đúng, tính đủ; điều này liên

quan trực tiếp đến các vấn đề học phí, viện phí và các loại phí dịch vụ công khác,

thực chất là vấn đề giá của dịch vụ công. Trong giá thành của dịch vụ, cần tính đủ

các loại chi phí, kể cả khấu hao cơ bản, giá đất quy theo thị trường, những ưu đãi

của Nhà nước quy ra giá trị để tính toán. Nhà nước có thể can thiệp trong hai trường

Chú ý, đây là cơ chế hạch toán của doanh nghiệp, không phải là cơ chế hoạt động kinh doanh vì

lợi nhuận của doanh nghiệp.



18



86



hợp: một là, khi giá dịch vụ tính ra cao hơn mặt bằng giá chung, Nhà nước dùng

phần vốn đã hỗ trợ cho cơ sở (bằng nhà cửa, đất đai...) để tính giảm bớt giá đầu vào

và giữ mặt bằng giá ở mức hợp lý; hai là, với các trường hợp cần thực hiện chính

sách công bằng xã hội, không nên bắt các cơ sở phải miễn, giảm phí, gây thất thu và

không công bằng giữa các cơ sở. Nhà nước nên thành lập quỹ riêng để giải quyết,

không để các cơ sở chịu thiệt. Một phần nguồn góp vào quỹ này cũng có thể trích từ

chênh lệch dôi dư của chính những cơ sở cung ứng dịch vụ công hoạt động có lãi

nhưng theo luật không được chia lãi. Cách làm này sẽ bảo đảm cho các cơ sở công

lập cung ứng dịch vụ công hạch toán thực các phần thu, chi của mình.

III.2. Thực hiện các biện pháp, chính sách tạo dễ dàng và khuyến khích đối với

các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công

Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần

nhằm huy động mọi nguồn lực của đất nước vào việc phát triển kinh tế- xã hội.

Trong những năm qua, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước có sự phát triển đáng

kể, song trên thực tế khu vực tư nhân ở nước ta vẫn chưa phát triển. Về môi trường

hoạt động, khu vực này vẫn còn bị hạn chế do các thủ tục hành chính, do quy định

về quyền sử dụng đất, trong việc tiếp cận đến vốn và tín dụng ngân hàng, trong quan

hệ với bộ máy hành chính nhà nước... Trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, khác

với các lĩnh vực sản xuất- kinh doanh thông thường khác, việc tạo điều kiện và hỗ

trợ của Nhà nước là cần thiết, bởi vì đây là các dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm

đảm bảo việc cung ứng cho nhân dân. Nhà nước không chỉ tổ chức và tạo điều kiện

cho các cơ sở ngoài nhà nước cung ứng dịch vụ công, mà Nhà nước còn có trách

nhiệm bảo đảm cung ứng những dịch vụ này trước xã hội, trước công dân. Vì vậy,

Nhà nước không phó mặc các cơ sở ngoài nhà nước tự do hoạt động theo cơ chế thị

trường, mà phải có sự điều tiết, định hướng các cơ sở này hoạt động theo đúng các

mục tiêu của Nhà nước.

Những nội dung chính của các biện pháp, chính sách tạo dễ dàng và khuyến

khích đối với các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công được thể hiện trong

các phần trình bày dưới đây:

III.2.1. Đơn giản hoá các thủ tục thành lập và hoạt động của cơ sở ngoài công

lập cung ứng dịch vụ công theo hướng:

- Thống nhất tiêu chuẩn cũng như thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể,

sáp nhập, chia, tách và đình chỉ hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụ công.

Mặc dù những nội dung đã được quy định trong các văn bản pháp luật đối với từng

lĩnh vực, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, không thống nhất

với nhau. Vấn đề này cần được rà soát lại và quy định thống nhất để không gây

phiền hà không cần thiết. Về nguyên tắc, cấp quản lý nào có thẩm quyền quyết định



87



thành lập cơ sở cung ứng dịch vụ công thì có quyền quyết định giải thể, đình chỉ

hoạt động của các cơ sở đó.

- Quy định cụ thể thời gian xét duyệt, cấp phép thành lập đối với các cơ sở

ngoài công lập cung ứng dịch vụ công. Hiện nay, nhiều thủ tục cấp phép thành lập

các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công chưa được quy định cụ thể thời

gian cấp phép là bao lâu hoặc có quy định thì rất chung chung. Cần có quy định rõ

ràng và có căn cứ thực tiễn về thời hạn xét duyệt, cấp phép của các cơ quan có thẩm

quyền để tránh tình trạng các cơ quan này kéo dài thời hạn một cách tuỳ tiện, làm

mất nhiều thời gian cho các cá nhân, tổ chức xin cung ứng dịch vụ công và hạn chế

những tiêu cực phát sinh trong khâu cấp phép.

- Tăng thời gian cho việc thẩm định, xem xét các tiêu chuẩn và điều kiện

thành lập các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công, đồng thời rút ngắn thời

gian ở khâu cấp phép. Khâu thẩm định là khâu quan trọng nhất trong việc cấp phép

thành lập một cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công. Cần xem xét cụ thể

những tiêu chuẩn, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, cũng như chuyên môn,

tổ chức nhân sự,... của các tổ chức, cá nhân muốn cung ứng dịch vụ công. Cần tăng

thời gian dành cho việc thẩm định đủ tiêu chuẩn và điều kiện đối với cơ sở ngoài

công lập. Đồng thời có các biện pháp thích hợp để giảm thời gian làm các thủ tục

trong các cơ quan hành chính nhà nước.

- Cho phép áp dụng các thủ tục đề ra một cách linh động trong các điều kiện

đặc biệt. Trong quá trình thực hiện, tuỳ theo điều kiện cụ thể mà các cấp thẩm quyền

có thể có những quy định riêng biệt nhằm huy động sự hỗ trợ từ phía xã hội trong

việc cung ứng dịch vụ công tại những nơi mà Nhà nước không đủ khả năng đảm bảo

cung ứng. Các cấp thẩm quyền không được tuỳ tiện nhưng cũng không nên quá

cứng nhắc trong việc xét duyệt cấp phép, đăng ký hành nghề. Cần quan tâm đến một

số lĩnh vực trong điều kiện đặc biệt như ở vùng sâu, vùng xa...

- Trong quá trình hoạt động của các cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ

công, các cơ quan chức năng cần tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các cơ sở này về

những thủ tục như: vay vốn ngân hàng; thuê đất, mặt bằng kinh doanh, nhà cửa;

tuyển dụng lao động... Các cơ quan hành chính nhà nước cần tránh mọi sự phân biệt

đối xử về thủ tục hành chính giữa các cơ sở ngoài công lập và các cơ sở công lập.

III.2.2. Thực hiện các chính sách khuyến khích hỗ trợ đầu tư đối với các cơ sở

ngoài công lập cung ứng dịch vụ công

III.2.2.1. Hỗ trợ về mặt bằng xây dựng và kết cấu hạ tầng

- Nhà nước giao đất và miễn tiền sử dụng đất (theo các quy định của Luật Đất

đai và Luật Đầu tư) để các cơ sở ngoài công lập đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục,



88



đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao... theo các định mức, tiêu chuẩn các loại công

trình đã được ban hành.

- Các cơ sở ngoài công lập được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

được Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đất hợp pháp, quyền sở hữu nhà và tài sản

theo quy định của pháp luật.

- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở ngoài công lập được sử

dụng vốn của cơ sở và vốn huy động hợp pháp để đầu tư xây dựng trường học, bệnh

viện, khu vui chơi giải trí, khu thể thao, bảo tàng, thư viện, nhà văn hoá, rạp hát, rạp

chiếu phim... theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Các địa phương cần có quy hoạch sử dụng quỹ nhà, kết cấu hạ tầng cho các

cơ sở ngoài công lập thuê dài hạn với giá ưu đãi.

III.2.2.2. Hỗ trợ ngân sách và tín dụng đầu tư

Chính phủ cần ban hành các chính sách hỗ trợ ngân sách và tín dụng đầu tư

cho các cơ sở cung ứng dịch vụ công ngoài công lập theo hướng sau đây:

- Ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ một phần tiền (1) đền bù, giải phóng mặt

bằng, (2) xây dựng kết cấu hạ tầng trên diện tích được các cơ quan có thẩm quyền

cấp cho từng dự án xã hội hoá, theo cơ cấu gồm ba nguồn vốn: ngân sách trung

ương bổ sung có mục tiêu, ngân sách địa phương hỗ trợ, và kinh phí trực tiếp của

nhà đầu tư.

- Các cơ sở ngoài công lập được hưởng các chế độ ưu đãi tín dụng của Nhà

nước theo quy định hiện hành để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị

phục vụ nhiệm vụ chuyên môn của mình theo các dự án được cấp có thẩm quyền

quyết định. Các cơ sở giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao... ngoài công

lập được vay ưu đãi tín dụng đầu tư, được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, được bảo lãnh

tín dụng đầu tư từ Quỹ hỗ trợ phát triển...

- Các địa phương tuỳ theo khả năng ngân sách của mình để xem xét, quyết

định việc hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi vay cho các cơ sở ngoài công lập theo

phương thức hỗ trợ lãi suất sau đầu tư. Tỷ lệ và mức hỗ trợ căn cứ vào tính chất hoạt

động của cơ sở vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận.

- Cơ sở ngoài công lập được phép huy động vốn dưới dạng góp cổ phần, vốn

góp từ lao động trong đơn vị, liên doanh, liên kết với các đơn vị, địa phương khác cả

trong và ngoài nước để đầu tư phát triển cơ sở vật chất.

- Có biện pháp khuyến khích các cơ sở ngoài công lập sử dụng lãi trong quá

trình hoạt động để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất.

III.2.2.3. Những hỗ trợ khác



89



Ngoài trợ giúp về mặt bằng, ngân sách và vốn, Nhà nước cũng cần hỗ trợ các

cơ sở cung ứng dịch vụ công ngoài công lập về những mặt sau đây:

- Nhà nước miễn giảm thuế cho những cơ sở ngoài công lập cung ứng các

dịch vụ cần được khuyến khích như: cung cấp nước sạch cho nhân dân, cung cấp

điện cho vùng sâu vùng xa, dịch vụ thu gom và vận chuyển rác thải... Tuỳ theo từng

vùng, từng địa phương mà chính quyền cấp đó xác định cụ thể việc miễn giảm.

- Nhà nước trợ cấp cho những cơ sở ngoài công lập cung ứng dịch vụ công

mà không thu lợi nhuận, song lại rất cần thiết cho xã hội mà Nhà nước không đủ sức

đảm đương hoặc không có hiệu quả, chẳng hạn như: mở lớp học tình thương cho

những trẻ em nghèo khó, khám chữa bệnh cho người nghèo, vận chuyển hành

khách, hàng hoá ở vùng sâu, vùng xa... Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có thể trợ cấp

trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng dịch vụ, thí dụ như Nhà nước trợ cấp khó

khăn cho những học sinh thuộc diện chính sách, phát sổ khám sức khoẻ miễn phí

cho người nghèo...

- Nhà nước cung cấp thông tin cần thiết cho các cơ sở ngoài công lập nhằm

giúp cho các cơ sở này tránh được các rủi ro, bất trắc, giúp họ áp dụng những công

nghệ, những biện pháp cải tiến quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

- Nhà nước hỗ trợ các cơ sở ngoài công lập về nhân lực và đào tạo, bồi dưỡng

nhân lực nhằm tạo ra một đội ngũ lao động có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu

ngày càng cao của xã hội về các dịch vụ công. Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi

cho những người làm việc trong khu vực nhà nước (các cơ sở công lập) được

chuyển sang làm việc tại các cơ sở ngoài công lập. Nhà nước mở các khoá đào tạo,

bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực dịch vụ công cho mọi đối tượng

và các cơ sở ngoài công lập có thể cử người tham gia các khoá học này hoặc nhận

người đã tốt nghiệp từ các khoá học này về làm việc. Nhà nước cần phổ biến các

chủ trương, chính sách, giáo dục pháp luật nhằm giúp cho các cơ sở ngoài công lập

hiểu và hoạt động đúng theo chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

III.3. Các giải pháp đẩy mạnh xã hội hoá cung ứng dịch vụ công trong từng

lĩnh vực

Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy

mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, và thể dục thể thao là rất kịp

thời với kỳ vọng tạo bước chuyển căn bản trong việc thực hiện xã hội hoá cung ứng

các dịch vụ công ở nước ta. Nghị quyết đã làm rõ hơn một số vấn đề về quan điểm

và định hướng chung của công tác xã hội hoá, đồng thời đề ra các định hướng phát

triển xã hội hoá trong bốn lĩnh vực nêu trên, trong đó đáng lưu ý là các chỉ tiêu định

hướng đến năm 2010 (Bảng 6).



90



Bảng 6. Các chỉ tiêu định hướng xã hội hoá trong các lĩnh vực giáo dục- đào

tạo, y tế, văn hoá, và thể dục thể thao đến năm 2010

Lĩnh vực



Chỉ tiêu định hướng đến năm 2010



1. Giáo dục và - Chuyển phần lớn các cơ sở đào tạo và dạy nghề công lập và một phần

các cơ sở giáo dục không đảm nhận nhiệm vụ giáo dục phổ cập sang

đào tạo

hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ. Chuyển tất cả các cơ sở bán

công sang loại hình dân lập hoặc tư thục.

- Tỷ lệ học sinh nhà trẻ ngoài công lập chiếm 80%, mẫu giáo 70%, trung

học phổ thông 40%, trung học chuyên nghiệp 30%, các cơ sở dạy nghề

60%, đại học và cao đẳng khoảng 40%.

- Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.



2. Y tế



- Chuyển hầu hết các các bệnh viện công lập sang hoạt động theo cơ chế

cung ứng dịch vụ; hoàn thành việc chuyển các cơ sở y tế bán công sang

dân lập hoặc tư nhân.

- Các tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế phát triển đều có bệnh viện

ngoài công lập.

3. Văn hoá



Chuyển toàn bộ số cơ sở công lập hiện có thuộc ngành văn hoá sang

hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ.



4. Thể dục thể

thao



- Hoàn thành việc chuyển các cơ sở thể dục thể thao công lập sang hoạt

động theo cơ chế cung ứng dịch vụ; chuyển một số cơ sở công lập có đủ

điều kiện sang loại hình ngoài công lập. Các cơ sở thể dục thể thao ngoài

công lập chiếm khoảng 80- 85% tổng số cơ sở trong toàn quốc.

- Xây dựng hiệp hội, liên đoàn cấp quốc gia với tất cả các môn thể thao;

80% số môn thể thao có hiệp hội hoặc liên đoàn cấp tỉnh. Việt Nam có

đại diện quốc gia trong hầu hết các tổ chức thể thao của khu vực, châu

lục và thế giới.



Nguồn: Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ.

Nghị quyết cũng đã nêu ra một số giải pháp lớn như đã được nêu ở đầu Phần

III nhằm đạt được các chỉ tiêu định hướng nêu trên. Sau khi Nghị quyết

05/2005/NQ-CP được Chính phủ ban hành, các Bộ, ngành hữu quan đã triển khai

xây dựng các quy hoạch tổng thể về phát triển xã hội hoá trong ngành mình. Tính

đến nay, trong cả bốn lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, văn hoá, và thể dục thể

thao đều đã có quy hoạch tổng thể về phát triển xã hội hoá. Các quy hoạch này đã cụ

thể hoá thêm các mục tiêu xã hội hoá, đồng thời nêu ra tương đối đầy đủ các giải



91



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG TH

Tải bản đầy đủ ngay(97 tr)

×