Tải bản đầy đủ - 119 (trang)
Nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân chủ quan

Tải bản đầy đủ - 119trang

thành một bất lợi lớn của Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh tác động tới hoạt động của Ngân hàng.
- Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Lào còn hạn chế, giá trị
kim ngạch khơng cao đã tác động không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan


- LC hàng nhập: Trong trời gian qua do Ngân hàng liên doanh Lào - Việt chi nhánh Hà Nội còn là một Ngân hàng mới thành lập, chưa được sự tin cậy của các
doanh nghiệp và ít những doanh nghiệp lớn biết đến. Phần lớn các doanh nghiệp tham gia dịch vụ này thường là các doanh nghiệp có nhu cầu vay tín dụng để thanh tốn
nhưng do điều kiện và tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này đến với Ngân hàng không đủ điều kiện để cho vay. Đối với các doanh nghiệp lớn hoạt
động kinh doanh có hiệu quả hầu như quen thuộc với Ngân hàng lớn khác và có khả năng cho vay với số tiền lớn như: Ngân hàng ngoại thương Lào, Ngân hàng phát triển
Lào và các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. - LC hàng xuất: Lào là một đất nước nhỏ bé, dân số còn ít, hàng hố phục vụ
trong đời sống hàng ngày của nhân dân chủ yếu kể cả nhỏ đến to đều là hàng nhập khẩu của các nước xung quanh như: Thailand, Việtnam, Trung quốc, đối với hàng
xuất khẩu của Lào chủ yếu là gỗ và các lâm sản, nhưng mấy năm gần đây Chính phủ hạn chế khai thác gỗ của các doanh nghiệp, còn các hàng hố khác cũng không đáng
kể nên làm cho danh số này quá ít. - Hệ thống máy móc cơng nghệ ngân hàng phục vụ dịch vụ thanh toán hoạt
động chưa ổn định: Cơng nghệ thanh tốn hiện tại ảnh hưởng khơng nhỏ đến chất lượng thanh toán của Ngân hàng liên doanh Lào -Việt, cụ thể: trong khâu xử lý, duyệt
điện thanh tốn bằng điện SWIFT, TELEX đơi lúc còn chậm trễ vì do lỗi đường truyền, các phần mềm của một số nghiệp vụ hiện nay chưa đáp ứng được tính chất của
công việc gây trở ngại cho nhân viên khi thực hiện nghiệp vụ của mình. - Lực lượng cán bộ đã có tuy được đào tạo cơ bản nhưng hầu hết lại là các cán
bộ mới có trình độ chun mơn nhất định, chưa có kinh nghiệm thực tế, vẫn thiếu những cán bộ nhân viên giỏi, chưa đáp ứng được cho yêu cầu phát triển như trình độ
ngoại ngữ, tin học sự am hiểu về pháp luật cũng như khả năng thu thập, phân tích xử
65
lý các thơng tin còn yếu kém. Đó cũng là yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng liên doanh Lào - Việt.
- Từ khi thành lập đến nay, bộ phận thanh toán quốc tế của ngân hàng vẫn phục thuộc vào phòng kinh doanh và chỉ có hai cán bộ phụ trách, điều này làm cho hoạt
động thanh toán quốc tế của ngân hàng gặp nhiều hạn chế. - Công nghệ ngân hàng mặc dù được đầu tư nhiều nhưng ở chừng mức nào đó
vẫn chưa đủ đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là các dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ cao, các dịch vụ này thường
đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn, bao gồm cả chi phí đầu tư về phần mềm, ứng dụng cũng như cơ sở vật chất. Trước đây, Ngân hàng chỉ có 01 máy ATM do đó chưa thể đáp
ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng, bên cạnh đó, nhiều khi còn bị lỗi phần mềm khơng có máy nào thay thế vì vậy, điều đó đã ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.
Đến nay, Ngân hàng đã đầu tư thêm 4 máy ATM để phục vụ cho hoạt động thanh toán rút tiền tự động, điều này nó giúp và giải quyết các vẫn đề thường gặp trước đây.
- Hoạt động thanh toán bằng phương thức dịch vụ thanh toán chứng từ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng chưa được quan tâm thích đáng so với các Ngân hàng
thương mại lớn khác. Cơng tác thanh tốn quốc tế này tại Ngân hàng liên doanh Lào - Việt nói chung và NHLD Lào Việt chi nhánh Hà Nội nói riêng là một hoạt động còn
mới mẻ do vậy Ngân hàng chưa thực sự thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp trong nước cũng như các Ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh gay gắt
của các tổ chức tín dụng lớn trên địa bàn với những lợi thế về quy mơ, uy tín và các quan hệ truyền thống ảnh hưởng rất lớn đến các dịch vụ thanh toán này của Ngân
hàng.
66

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THANH TOÁN


PHỤC VỤ CÁC DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH LÀO - VIỆT CHI NHÁNH HÀ NỘI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 3.1. Cam kết mở cửa lĩnh vực dịch vụ Ngân hàng của Việt Nam khi gia
nhập WTO
Khi gia nhập vào WTO, Việt Nam đã tiến hành đàm phán đa phương và đặt ra cam kết trong lĩnh vực dịch vụ Ngân hàng như sau:

Về cam kết mở cửa thị trường định vụ:
Về diện cam kết, trong Hiệp định thương mại song phương BTA với Hoa Kỳ ta đã cam kết 8 ngành dịch vụ khoảng 65 phân ngành. Trong thoả thuận WTO, ta cam
kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110 ngành. Về mức độ cam kết, với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có những ngành nhạy cảm như bảo hiểm,
phân phối, du lịch… ta giữ được mức độ cam kết gần như trong BTA. Riêng viễn thơng, ngân hàng và chứng khốn, để sớm kết thúc đàm phán, ta đã có một số bước
tiến nhưng nhìn chung khơng q xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này.
Cam kết chung cho các ngành dịch vụ về cơ bản như BTA. Trước hết, cơng ty nước ngồi khơng được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ phi điều
đó được ta cho phép trong từng ngành cụ thể. Ngồi ra, cơng ty nước ngồi tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20 cán bộ quản lý
của cơng ty phải là người Việt Nam. Cuối cùng, ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp
với mức mở cửa thị trường ngành đó. Riêng ngân hàng ta chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài mua tối đa 30 cổ phần.
 Cam kết mở cửa dịch vụ Ngân hàng:
Trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, ta đồng ý cho thành lập ngân hàng con 100
67

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguyên nhân chủ quan

Tải bản đầy đủ ngay(119 tr)

×