1. Trang chủ >
  2. Kinh Tế - Quản Lý >
  3. Quản lý nhà nước >

Các mối quan tâm của Việt Nam và các nhà tài trợ về hiệu quả của hợp tác kỹ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (294.76 KB, 57 trang )


12
Hỗ trợ xây dựng năng lực bao gồm các hoạt động nhằm tăng cường khả năng quản lý ODA, cải cách hành chính công, phát triển năng lực để làm việc trong môi trường phân cấp
quản lý, và năng lực quản lý và xây dựng chính sách kinh tế. Đánh giá xây dựng năng lực là một việc làm đặc biệt khó khăn, vì nó đòi hỏi những nhận xét liên quan đến sự thay đổi về
hiệu quả của các tổ chức cũng như các cá nhân có liên quan.
c Thúc đẩy các mục tiêu chính sách liên ngành then chốt
Những lĩnh vực quan tâm chung, tác động đến sự lựa chọn mục tiêu HTKT của các nhà tài trợ, bao gồm:
Sự phân bổ HTKT cho xoá đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, hỗ trợ các nhóm
dân tộc thiểu số v.v...;
Các vấn đề về giới;
Quản lý quốc gia;
Bảo vệ môi trường. Nhìn chung, Chính phủ Việt Nam chia xẻ mối quan tâm của các nhà tài trợ và, trong
một số lĩnh vực chính sách Việt Nam thậm chí đ đi trước các nhà tài trợ trong việc hướng trọng tâm vào một số nhiệm vụ then chốt ví dụ, xoá đói giảm nghèo, bình đẳng x hội; giới
v.v.... Tuy nhiên, điều không thể tránh khỏi là có những khác biệt chính đáng trong cách hiểu và xắp xếp thứ tự ưu tiên, và các quan điểm khác nhau về phương pháp nào là hiệu quả
nhất để đạt được các mục tiêu đ thoả thuận.
d Chuẩn bị dự án: Hợp tác kỹ thuật hỗ trợ đầu tư
HTKT hỗ trợ đầu tư là một bộ phận gắn bó hữu cơ của hầu hết các dự án ODA và trong một số trường hợp đ chứng tỏ là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của dự án. Đầu tư
vốn chỉ phát huy tác dụng trong môi trường chính sách phù hợp, hội đủ các kỹ năng cần thiết, và dự án được xác định rõ và thiết kế phù hợp. Mặc dầu kinh phí HTKT thường nhỏ hơn
rất nhiều so với các khoản đầu tư, nhưng đôi khi HTKT có tác động rất lớn đến kết quả thực hiện.
Loại hình HTKT này làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến tác động của HTKT đối với đầu tư, gồm vai trò, tác động và chi phí của các nghiên cứu tiền đầu tư nghiên cứu tiền
khả thi, nghiên cứu khả thi, thiết kế dự án, quy hoạch tổng thể, việc sử dụng chuyên gia tư vấn trong nước và quốc tế. Loại hình HTKT này cũng làm cho các những khoản đầu tư có
hiệu quả hơn.

5. Các mối quan tâm của Việt Nam và các nhà tài trợ về hiệu quả của hợp tác kỹ


thuật
Hiện đang có những câu hỏi được nêu lên, từ phía Việt Nam cũng như các nhà tài trợ, về hiệu quả của chương trình HTKT. Những câu hỏi đó là:
13
Tại kỳ họp của Quốc hội tổ chức tháng 11-121999 tại Hà Nội, một số Đại biểu
Quốc hội đ chất vấn về hiệu quả của viện trợ nước ngoài trong các dự án xây dựng năng lực do một số Bộ thực hiện. Họ cũng đặt câu hỏi về việc giải ngân ODA, hiệu
quả của HTKT trong cải cách hành chính công, trong các công trình xây dựng hạ tầng ví dụ, xây dựng đường xá, cầu cống, các công trình thuỷ lợi nông thôn.
Có một số câu hỏi về chi phí của một số dự án, đặc biệt tại những dự án ở đó chi
phí đ bị bóp méo do các qui định của nhà tài trợ ví dụ về mua thiết vị với các điều kiện ràng buộc. Đồng thời, cũng có những ý kiến băn khoăn về các khoản nợ đến
hạn phải trả của chương trình ODA.
Một số nhà tài trợ cũng đ thể hiện sự dè dặt về hiệu quả của các hoạt động xây
dựng năng lực.
Tại Hội nghị Nhóm tư vấn cho Việt Nam lần thứ 7 tổ chức tại Hà Nội tháng 121999, các đại biểu đ nêu lên sự cần thiết phải tránh bẫy nợ và sự lệ thuộc quá
nhiều vào viện trợ, thể hiện sự chú ý ngày càng tăng đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn viện trợ. Cũng tại Hội nghị Nhóm tư vấn nói trên, Chính phủ đ công nhận
rằng hiệu quả sử dụng ODA cần được nâng cao và chất lượng của các khoản giải ngân ODA cũng quan trọng như số lượng giải ngân.
Trong các cuộc phỏng vấn do Đoàn chuyên gia tư vấn tiến hành, cả các quan chức
Chính phủ và đại diện của các nhà tài trợ đều quan tâm đến sù thiÕu minh b¹ch trong mét sè khÝa c¹nh cđa quá trình HTKT. Kết luận của Hội nghị về quản lý dự án
đầu tư sử dụng vốn ODA do Bộ KHĐT, JBIC, ADB và WB phối hợp tổ chức tại Hải Phòng, tháng 42000, cũng nêu:
Bộ Tài chính đ chỉ ra rằng cần có sự minh bạch hơn về phía các cơ quan tài trợ, đặc biệt trong các lĩnh vực như tuyển chuyên gia và thực hiện hợp đồng. Chính phủ
Việt Nam đang thực hiện các biện pháp sau đây để chống lại nạn tham nhũng: i cải cách luật pháp và thay đổi các quy chế để tăng cường sự minh bạch và giảm tệ
trì trệ và quan liêu, ii cải cách quy chế hành chính, gồm các yêu cầu để khuyến khích tính hiệu quả, củng cố các chuẩn mực đạo đức của công chức v.v...
Cả phía Chính phủ và các nhà tài trợ đều lo ngại rằng việc xác định nội dung và
thiết kế dự án thường bị chi phối quá nhiều bởi các nhà tài trợ, điều đó đ làm giảm ý thức lµm chđ qc gia” vµ cam kÕt cđa phÝa ChÝnh phủ đối với dự án.
Các cán bộ Việt Nam tham gia vào chương trình HTKT nêu một số câu hỏi về vấn
đề thiết kế và quản lý dự án, đặc biệt là sự hoài của họ nghi về việc phân bổ ngân sách dự án quá nhiều cho các chuyên gia nước ngoài; quá ít cho chuyên gia trong
nước và chi phí hành chính, tác nghiệp.
Vấn đề lựa chọn và quản lý cố vấnchuyên gia trong các dự án HTKT cũng được
nêu lên.
14
Chính phủ và các nhà tài trợ đều quan tâm đến tính bền vững của các dự án có
nghĩa là khả năng tiếp tục vận hành các phương tiệnthiết bị và phát huy tác dụng của dự án sau khi dự án đ hoàn thành và tài trợ nước ngoài chấm dứt .
Những mối quan tâm nói trên cho thấy một số khía cạnh trong việc sử dụng ODA nói chung và HTKT nói riêng ở Việt Nam cần được giải quyết một cách cấp bách. Nêu lên những
câu hỏi về hiệu quả và tác động của các dự án HTKT phải được coi là một việc làm bình thường và lành mạnh. Sau một thËp kû ph¸t triĨn nhanh, víi sù xt hiƯn cđa nhiều nhà tài trợ
mới ở Việt Nam và với nhiều cơ quan nhận viện trợ đang thực hiện các chương trình lớn hơn rất nhiều so với các dự án từng có trước đây, thì việc xuất hiện một số vấn đề cần giải quyết là
lẽ đương nhiên.
Nhiều vấn đề nêu lên về hiệu quả viện trợ cho Việt Nam cũng đ được đề cập trên quy mô quốc tế về viện trợ cung cấp cho các nước khác. Là nước xuất phát sau trong lĩnh vực tiếp
nhận viện trợ, Việt Nam có nhiều điều có thể học hỏi để tránh vấp phải những sai lầm mà các nước khác đ mắc phải, làm cho họ bị lệ thuộc quá nhiều vào viện trợ nước ngoài trong ba
thập kỷ vừa qua xem Hộp 1 dưới đây.

6. C¸ch tiÕp cËn cđa b¸o c¸o


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

×