1. Trang chủ >
  2. Kinh Tế - Quản Lý >
  3. Quản lý nhà nước >

C¸ch tiÕp cËn cđa b¸o c¸o

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (294.76 KB, 57 trang )


14
Chính phủ và các nhà tài trợ đều quan tâm đến tính bền vững của các dự án có
nghĩa là khả năng tiếp tục vận hành các phương tiệnthiết bị và phát huy tác dụng của dự án sau khi dự án đ hoàn thành và tài trợ nước ngoài chấm dứt .
Những mối quan tâm nói trên cho thÊy mét sè khÝa c¹nh trong viƯc sư dơng ODA nói chung và HTKT nói riêng ở Việt Nam cần được giải quyết một cách cấp bách. Nêu lên những
câu hỏi về hiệu quả và tác động của các dự án HTKT phải được coi là một việc làm bình thường và lành mạnh. Sau một thập kỷ phát triển nhanh, với sự xuất hiện của nhiều nhà tài trợ
mới ở Việt Nam và với nhiều cơ quan nhận viện trợ đang thực hiện các chương trình lớn hơn rất nhiều so với các dự án từng có trước đây, thì việc xuất hiện một số vấn đề cần giải quyết là
lẽ đương nhiên.
Nhiều vấn đề nêu lên về hiệu quả viện trợ cho Việt Nam cũng đ được đề cập trên quy mô quốc tế về viện trợ cung cấp cho các nước khác. Là nước xuất phát sau trong lĩnh vực tiếp
nhận viện trợ, Việt Nam cã nhiỊu ®iỊu cã thĨ häc hái ®Ĩ tránh vấp phải những sai lầm mà các nước khác đ mắc phải, làm cho họ bị lệ thuộc quá nhiều vào viện trợ nước ngoài trong ba
thập kỷ vừa qua xem Hộp 1 dưới đây.

6. Cách tiếp cận của báo cáo


Một phần những mối nghi ngờ về HTKT đ nảy sinh do khó khăn gặp phải trong việc lượng hoá các kết quả của HTKT. Nhìn chung, đánh giá kết quả của HTKT so với chi tiêu bỏ
ra là một công việc khó khăn, bởi vì chuyển giao kiến thức khó quan sát hơn nhiều so với kết quả của các dự án đầu tư. Hiệu quả của HTKT thường tuỳ thuộc vào chất lượng thay đổi kiến
thức và kỹ năng của con người, những cái đó không dễ đo lường. Hơn nữa, như đ đề cập ở trên, mục tiêu của HTKT cũng được các nhà tài trợ, các cơ quan Chính phủ và những người
thụ hưởng hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Tuy nhiên, HTKT có thể mang lại những lợi ích rất to lớn. Khi được thiết kế và thực hiện tốt, những khoản chi tiêu khiêm tốn về HTKT có thể mang lại tác động hết sức to lớn đối
với hoạt động kinh tế. Hơn nữa, HTKT có hiệu quả thường là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của các dự án đầu tư, góp phần làm cho các khoản đầu tư được lựa chọn, thiết kế
và quản lý tốt
3
. Khi đánh giá tác động của chương trình HTKT, Đoàn chuyên gia tư vấn không thể
không đưa ra những kết luận được dựa vào sự suy xét định tính. Đoàn đ cố gắng đánh giá hiệu quả của chương trình chủ yếu thông qua phân tích các đóng góp của nó cho việc hỗ trợ
quá trình Đổi Mới do Việt Nam tự xây dựng và phát động, cho tăng nhịp độ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo và nâng cao năng lực quốc gia một cách bền vững.
Đoàn chuyên gia tư vấn ®i ®Õn kÕt ln r»ng phÇn lín ngn HTKT ViƯt Nam tiếp nhận chắc chắn đ mang lại hiệu quả cao. Đặc biệt trong những năm đầu của tiến trình Đổi Mới,
những khoản chi tiêu khiêm tốn về HTKT đ tạo nên tác động mạnh mẽ hỗ trợ cho nỗ lực cải cách của đất nước.
3
Hội nghị do Bộ KHĐT, ADB, JBIC, WB và hơn 60 Ban quản lý dự án tổ chức tại Hải Phòng tháng 42000 khuyến nghị rằng cần bao gồm HTKT xây dựng năng lực trong các dự án sử dụng vốn vay nhằm nâng cao năng
lực thực hiện và báo đảm tính bền vững của dự án.
15
Đoàn chuyên gia tư vấn cảm thấy tự tin khi ®­a ra nhËn xÐt chung tÝch cùc nh­ vËy, trên cơ sở quan sát tác động của HTKT, đặc biệt đối với nỗ lực cải cách kinh tế và viƯc cung cÊp
kinh nghiƯm qc tÕ. So víi kinh nghiệm về HTKT đ được ghi nhận ở các nước khác, Đoàn cho rằng HTKT ở Việt Nam là một trong những chương trình thành công nhất Xem Hộp 1.
Nhận xét này được nhận được sự đồng tình của nhiều nhà tài trợ mà Đoàn có dịp tiếp xúc. Tuy nhiên, khó có thể hỗ trợ nhận định tích cực này bằng những dẫn chứng cụ thể. Chỉ một
phần nhỏ của chương trình HTKT đ được đánh giá sâu và hầu hết các nhà tài trợ thậm chí không thể đưa ra nhận xét bao nhiêu phần trăm các dự án của họ được coi là thành công.
16
17
Hộp 1 kinh nghiệm quốc tế: những thất bại của trợ giúp kỹ thuật
Là người đi sau trong việc tiếp nhận viện trỵ, ViƯt Nam cã lỵi thÕ do cã thĨ häc hỏi kinh nghiệm của các nước khác đ từng tiếp nhận viện trợ nhiều thập kỷ qua. Đối với HTKT, nên
quan tâm đến một báo cáo quan trọng về HTKT ở Châu Phi. Mặc dù điều kiện của Châu Phi rất khác biệt, nhiều tổ chức hiện ®ang cung cÊp viƯn trỵ ë ViƯt Nam còng cã các chương trình
quy mô lớn tại Châu Phi và, trong một số trường hợp họ đ xây dựng chính sách viện trợ của mình theo kinh nghiệm ở Châu Phi. Những thất bại về viện trợ ở Châu Phi nên được xem là lời
cảnh báo về nguy cơ của việc chấp nhận các chương trình viện trợ mà không phê phán. Do đó, Hộp này nêu lại một số điểm nổi bật của bản báo cáo trên.
Trong năm 1990, 3,5 tỷ USD viện trợ KTKT được chi tiêu cho các nước vùng Cận Xa-ha-ra, tức là 14 tổng khối lượng viện trợ cho Châu Phi. Cũng trong năm đó, toàn thế giới đ chi tiêu
15 tỷ USD viện trợ. Bản báo cáo nhìn nhận rằng HTKT có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển, tức là
xây dựng những nền kinh tế có hiệu quả cao hơn và tự lực cánh sinh nhiều hơn, thông qua công tác đào tạo con người và xây dựng các thiết chế vững mạnh hơn. Tuy nhiên, báo cáo cũng
là câu trả lời đối với ý kiến phê phán của nhiều người. Các nhà quan sát cho rằng HTKT đ không thực hiện được mục tiêu ở vùng Cận Xa-ha-ra và cần phải có những đổi mới cơ bản, và
báo cáo đồng tình với nhận định trên. Các nhà tài trợ và các chính phủ trong vùng đ tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu để từ đó rút ra những kết luận và khuyến nghị như sau:
I Nguyên nhân làm cho HTKT trở nên kém hiệu quả: Các nhà tài trợ, các nước tiếp nhận viện trợ và các nhà quan sát đều nhất trí ë bèn lÜnh vùc cã vÊn ®Ị nh­ sau:
a Những yếu kém trong công tác thiết kế, thực hiện và theo dõi các dự án HTKT; b Lệ thuộc quá mức vào một mô hình thực hiện HTKT: Mô hình chuyên gia nước ngoài
thường trú kết hợp với nhân viên đối tác, và mô hình này đ chứng tỏ là một công cụ kém hiệu quả trong việc tăng cường năng lực;
c Tính chất trọng cung, hoặc do nhà tài trợ chi phối, của HTKT đ dẫn đến tình trạng sử dụng quá mức và phân bổ không hiệu quả HTKT, ý thức làm chủ quốc gia yếu
kém và do đó sự cam kết quốc gia hạn chế; và d Chế độ đi ngộ và điều kiện làm việc yếu kém trong khu vực công cộng, dẫn đến thiếu
động cơ làm việc, thay đổi nhân viên thường xuyên và một môi trường làm việc trong đó những nỗ lực tăng cường năng lực và phát triển thiết chế không thể phát huy hiệu
quả của mình.
I Đ ề xuất nhằm cải thiện tình hình: Dựa trên việc xác định những vấn đề chủ yếu, một số đề xuất như sau đ được đưa ra nhằm cải thiện tình hình:
a Thực hiện các chương trình hiện nay một cách có hiệu quả hơn; b Thay đổi cơ cấu các mô hình thực hiện, chuyển từ cố vấn dài hạn sang cố vấn ngắn hạn,
sử dụng nhiều hơn chuyên gia tư vấn trong nước và áp dụng nhiều hơn phương thức liên kết giữa các tổ chức ở nước cung cấp viện trợ và nước tiếp nhận viện trợ;
c Tăng cường công tác quản lý HTKT ở nước tiếp nhận viện trợ, thông qua:
Nhà tài trợ tự nguyện chuyển giao thẩm quyền quản lý;
Nâng cao năng lực quản lý tại chỗ với việc đánh giá và quy hoạch HTKT ở nước tiếp nhận;
18
Lập quy hoạch HTKT một cách toàn diện;
Cải thiện môi trường làm việc và khuyến khích nhân viên quốc gia nhưng không
khuyến khích nhân viên của các ban quản lý dự án bằng nguồn kinh phí của nhà tài trợ, vì điều đó làm sai lệch chế độ khuyến khích của chính phủ.
Tuy nhiên, mặc dù nhiều người công nhận tình trạng kém hiệu quả của các phương thức HTKT được sử dụng như báo cáo này và các công trình nghiên cứu khác đ cho thấy, nhưng đến nay
các nhà tài trợ chỉ thay đổi rất ít trong các tập quán của mình. Nguồn: Suy nghĩ lại về Hợp tác kỹ thuật: Cải cách để tăng cường năng lực ở Châu Phi ;
UNDP and Development Alternatives Inc., 1993.
phần iii: tổng quan về quá trình hợp tác kỹ thuật tại việt nam

1. Giai đoạn trước 1994


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

×