1. Trang chủ >
  2. Kinh Tế - Quản Lý >
  3. Quản lý nhà nước >

Hợp tác kỹ thuật và tiến trình Đổi Mới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (294.76 KB, 57 trang )


19
này, LHQ nhận được sự trợ giúp về tài chính của các nhà tài trợ song phương thông qua các Quỹ uỷ thác nhiều hơn hiện nay. Cũng trong giai đoạn này, một số NGO đ bắt đầu hoạt
động tại Việt Nam.
Trong giai đoạn ngay sau khi Liên Xô tan r, HTKT được cung cấp chủ yếu từ Hệ thống LHQ và một số ít các nhà tài trợ song phương như ốt-xtrây-lia, Thuỵ Điển và Phần Lan là
những nước đ liên tục giúp đỡ Việt Nam từ những năm 70. Một thành tựu quan trọng của các hoạt động HTKT trong Chương trình quốc gia lần thứ
III của LHQ 1987-1991 là việc chuẩn bị và ấn hành Báo cáo về tình hình kinh tế của Việt Nam , đánh giá quốc tế đầu tiên được xuất bản lúc ®ã vỊ triĨn väng cđa nỊn kinh tÕ ViƯt
Nam trong thời kỳ Đổi Mới. Một loạt các Nghiên cứu tổng quan ngành và Quy hoạch tổng thể
4
cũng đ được chuẩn bị, với sự hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế dài hạn và ngắn hạn. Những tài liệu này đ đóng góp có hiệu quả vào việc soạn thảo các kế hoạch phát triển kinh tế
dài hạn của Việt Nam và cho việc tổ chức Hội nghị lần thứ nhất các nhà tài trợ cho Việt Nam được triệu tập tại Pa-ri tháng 11 năm 1993.

2. Hợp tác kỹ thuật và tiến trình Đổi Mới


Việc thực hiện chủ trương Đổi Mới và hội nhập quốc tế đối với nền kinh tế Việt Nam đ đặt đất nước trước những đòi hỏi to lớn là phải hiểu biết và điều chỉnh cho phù hợp với những
điều kiện mới. Những đòi hỏi nảy sinh từ tiến trình Đổi Mới và được HTKT đáp ứng bao gồm:
a Nhu cầu chung cần hiểu biết cơ chế kinh tế mới, bao gồm kiến thức và kinh nghiệm quốc tế có liên quan đến việc quản lý một nền kinh tế theo định hướng thị trường;
b Nhu cầu điều chỉnh các thể chÕ cho phï hỵp víi nỊn kinh tÕ míi; c Nhu cầu xây dựng các bộ luật cơ bản nhằm hỗ trợ cho nền kinh tế mới;
d Nhu cầu đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho các bộ và cơ quan chủ yếu; e Nhu cầu nghiên cứu tác động của Chính sách mở cửa, vị trÝ míi cđa ViƯt Nam trong
nỊn kinh tÕ qc tÕ, thâm nhập vào các lĩnh vực mới trong các cơ cấu và các hình thức liên kết mới ở cấp toàn cầu, vùng và tiểu vùng;
f Nhu cầu điều chỉnh không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà ở cả các lĩnh vực x hội. Đối với hầu hết những hoạt động như vậy, rõ ràng đ có sự chuyển giao khá nhiều kiến
thức. Mặc dù rất khó định lượng các kết quả, nhưng qua quan sát nền kinh tế Việt Nam vào thời điểm năm 1989 và một thập kỷ sau đó cho thấy đ có những thay đổi sâu sắc trong chính
sách, luật pháp và các thiết chế khác. Trong khi tiến trình Đổi Mới này được các nhà chức trách Việt Nam khởi xướng và kiểm soát, thì trong quá trình thực hiện cụ thể người Việt Nam
đ tiếp thu được nhiều điều bổ ích từ những cơ hội được nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới.
4
Nghiên cứu tổng thể ngành Nông nghiệp, Năng lượng, Giao thông vận tải, Lâm nghiệp, Ngư nghiệp , và Giáo dục. Quy hoạch tổng thể cho Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, ngành Du lịch, Hàng không
20
Một bài học rút ra từ kinh nghiệm của những năm đầu về hiệu quả của HTKT là một mức độ hỗ trợ HTKT rất khiêm tốn có thể mang lại hiệu quả to lớn, nếu hoạt động HTKT hỗ
trợ trực tiếp cho một chương trình đổi mới được quốc gia đề ra và rõ ràng do quốc gia làm chủ. Những thành tựu đầy ấn tượng của tiến trình Đổi Mới đ đạt được trong những năm
1989-1993 khi nguồn trợ giúp từ bên ngoài cho Việt Nam là rất khiêm tốn.
Việt Nam cũng đứng trước một nhu cầu hết sức thiết thực là phải làm quen với các thủ tục rất đa dạng và thường rất phức tạp, nhưng lại rất cần thiết cho việc thực hiện các chương
trình viện trợ của nhiều nhà tài trợ mới đến Việt Nam. Đ có sự gia tăng nhanh chóng các dự án HTKT độc lËp nh»m chun giao kiÕn thøc vỊ c¸c tËp qu¸n kinh tế và luật pháp, nghiên
cứu những vấn đề then chốt về chính sách kinh tế, tăng cường năng lực quốc gia trong quá trình thực hiện các chương trình viện trợ.
Cùng với việc tăng thêm số lượng các nhà tài trợ, thay đổi tính chất và mở rộng quy mô các hoạt động của họ, đ xuất hiện nhu cầu tăng cường năng lực điều phối và quản lý viện trợ.
Tốc độ tăng viện trợ, cả về con số tuyệt đối và số lượng các nhà tài trợ, đ làm cho khả năng quản lý của Chính phủ khó mà đáp ứng được yêu cầu điều phối viện trợ một cách hiệu quả.
Điều đó cũng đặt chính cộng đồng các nhà tài trợ trước sức ép phải điều phối những hoạt động của mình.

3. Những xu hướng lớn trong hợp tác kỹ thuật và các nguồn viện trợ khác từ năm


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

×