1. Trang chủ >
  2. Kinh Tế - Quản Lý >
  3. Quản lý nhà nước >

Phân tích hợp tác kỹ thuật theo ngành và theo vùng lãnh thổ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (294.76 KB, 57 trang )


21
Đến năm 1996, cơ sở dữ liệu trong Hệ thèng DCAS cđa UNDP cho thÊy cã 899 dù
¸n HTKT với ngân sách từ 100.000 USD trở lên
7
.
Giải ngân HTKT độc lập đạt mức ổn định trong năm 1997. Tuy nhiên, với mức giải ngân 285 triệu USD, HTKT độc lập vẫn còn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng
mức giải ngân ODA.
Y tế và phát triển nguồn nhân lực tiếp tục nhận được một phần khá lớn HTKT, mỗi lĩnh vực chiếm 18 tổng mức chi tiêu HTKT.
Các dự án HTKT đ góp phần đáng kể vào tiến trình Đổi Mới, tăng cường các dự án đầu tư và nâng cao năng lực tiếp nhận viện trợ. Tuy nhiên, cần thấy rằng giai đoạn cải cách
mạnh mẽ nhất ở Việt Nam là vào các năm 1989-1993, khi viện trợ từ bên ngoài đang giảm xuống và chính sách của Chính phủ là thực hiện nguyện vọng của nhân dân Việt Nam mà
không có sức ép của các nhà tài trợ Xem Hộp 2.

4. Phân tích hợp tác kỹ thuật theo ngành và theo vùng lãnh thổ


Phân bổ hợp tác kỹ thuật theo ngành: Sử dụng số liệu của UNDP phân chia HTKT thành 16 ngànhlĩnh vực khác nhau, phát
triển nguồn nhân lực đ nhận được tỷ trọng cao nhất với 21,4, sau đó là y tế với 17,3, nông nghiệp với 12,1, phát triển kinh tế với 7,8, phát triển kinh tế vùng với 7,7, quản trị
phát triển với 6,6, và quản lý tài nguyên thiên nhiên với 6,2. Do cách phân loại này dựa theo quan niệm của các nhà tài trợ, nó có thể không được vận dụng một cách nhất quán nhưng
vẫn cho thấy bức tranh tổng thể.
Những con số trên đây cho thấy HTKT hỗ trợ quá trình cải cách và phát triển thể thế phát triển nguồn nhân lực, quản lý kinh tế, quản trị phát triển và phát triển x hội y tế, phát
triển x hội, nông nghiệp và phát triển kinh tế vùng đ được Chính phủ cũng như cộng đồng tài trợ dành ưu tiên cao.
Phân bổ hợp t¸c kü tht theo vïng l∙nh thỉ: Sè liƯu hiƯn có về phân bổ HTKT theo vùng lnh thổ cần được xử lý một cách thận
trọng. Nhiều Dự án phục vụ toàn quốc có thể được thực hiện ở một số tỉnhthành nên khó có thể dựa vào số liệu hiện có để phân tích sự phân bổ chi tiêu theo vùng lnh thổ của các dự án
này. Thậm chí cả các Dự án phục vụ trung ương mà chi tiêu chủ yếu được thực hiện tại Hà Nội, cũng mang lại lợi ích gián tiếp cho cấp tỉnh, do đó không thể đo lường tác động của
chúng theo vùng l∙nh thỉ.
Tû träng HTKT trùc tiÕp cung cÊp cho c¸c tỉnh đ tăng lên đáng kể trong năm 1998 với 48 tổng mức HTKT so với 38 trong năm 1995. Sau đây là sự phân bổ HTKT tính theo
đầu người 1994-1998 cung cÊp cho 7 vïng l∙nh thỉ cđa ViƯt Nam vµ hai thµnh phè lín:
7
LÊy sè liƯu tõ DCAS từ 1994 đến 1999.
22
Vùng núi phía Bắc 10,27 USD
Đồng bằng sông Hồng 5,62 USD
Duyên hải Bắc Trung bộ 9,89 USD
Duyên hải Nam Trung bộ 5,45 USD
Tây Nguyên 7,58 USD
Miền Đông Nam bộ 4,79 USD
Đồng bằng sông Cửu Long 2,88 USD
Hà Nội 20,08 USD
Thành phố Hồ Chí Minh 7,05 USD
hộp 2
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về hiệu quả của viện trợ và Việt Nam
WB vừa tiến hành nghiên cứu về hiệu quả viện trợ. Báo cáo nghiên cứu Đánh giá viện trợ 1998 tập trung chủ yếu vào tầm quan trọng trung tâm của môi trường chính sách và thể chế
trong việc quyết định viện trợ có hiệu quả hay không. Những nội dung chủ yếu của báo cáo là hiệu quả viện trợ đòi hỏi phải đúng thời cơ và phải có sự kết hợp hài hoà giữa tiền bạc và ý
tưởng. Đôi khi ý tưởng còn quan trọng hơn cả tiền bạc. Một số kết luận của công trình nghiên cứu là:
Viện trợ phát huy hiệu quả trong một môi trường chính sách tốt.
Các thể chế và chính sách kinh tế có hiệu quả là điều kiện then chốt để xoá đói giảm
nghèo nhanh chóng và các dự án phát triển nên tăng cường các thể chế và chính sách để có thể cung cấp các dịch vụ một cách hiệu quả.
Đóng góp quan trọng nhất của các dự án không phải là tăng thêm kinh phí cho một
ngành nào đó mà là góp phần cải thiện việc cung cấp dịch vụ thông qua tăng cường các thể chế của ngành và địa phương.
Có thể khuyến khích cải cách ngay cả trong những môi trường khó khăn - nhưng điều
đó đòi hỏi phải kiên nhẫn và tập trung vào ý tưởng, không phải là tiền bạc - khả năng làm việc của các nhà tài trợ trong những môi trường như vậy bị hạn chế bởi nền văn
hoá duyệt và chi vốn không coi trọng các hoạt động có quy mô nhỏ và cần nhiều nhân lực.
Sự hỗ trợ từ bên ngoài cho cải cách chính sách và thể chế đòi hỏi nhiều nhân lực của
các cơ quan tài trợ, dẫn đến mức giải ngân thấp. Sự hỗ trợ thành công giúp các nước đang cải cách phát triển và thử nghiệm các ý tưởng của mình.
Công trình nghiên cứu nhìn nhận rằng hoạt động viện trợ cần được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của đất nước và của ngành. Sự phân bổ chi tiêu không thôi không bảo đảm sự thành
công, bởi vì chất lượng chi tiêu công cộng cũng quan trọng như số lượng. ở những nước có sự quản lý kinh tế đúng đắn cả về chính sách kinh tế vĩ mô và cung cấp dịch vụ công cộng, có
thể cung cấp thêm viện trợ dưới hình thức hỗ trợ ngân sách, góp phần đơn giản hoá thủ tục
23
hành chính và giảm bớt chi phí hành chính.
Báo cáo này cũng nêu một ví dụ điển hình về kinh nghiệm ở Việt Nam. Báo cáo ghi nhận những thành tựu của công cuộc Đổi Mới trong việc khuyến khích tăng trưởng và xoá đói
giảm nghèo, nhưng cũng cho rằng trong giai đoạn cải cách quan trọng 1989-1993, Việt Nam chỉ được tiếp nhận một khối lượng viện trợ ít ỏi. Trong giai đoạn đó, ý tưởng quan
trọng hơn tiền bạc. Một vai trò chủ chốt của các nhà tài trợ là chia sẻ với người Việt Nam những kinh nghiệm về chính sách kinh tế của các nước trên thế giới cũng như trong khu
vực.
Tác giả chính của công trình nghiên cứu này là ông David Dollar , ng­êi rÊt quen biÕt víi nhiỊu quan chức Việt Nam. Ông là Chuyên viên kinh tế của Ngân hàng Thế giới phụ trách
theo dõi Việt Nam trong những năm đầu của thập kỷ 90.
Có thể giải thích sự chênh lệch giữa Hà Nội và các vùng khác là do các hoạt động phục vụ trung ương mà nhất thiết phải diễn ra ở Thủ đô. Tuy nhiên, khó có thể giải thích sự chênh
lệch giữa các vùng khác trong nước. ở phía Nam, trong khi Thành phố Hồ Chí Minh được cung cấp nguồn HTKT tương đối nhiều thì đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ
dường như đ bị lng quên.
Mức độ HTKT tính theo đầu người tương đối cao ở Tây Nguyên, duyên hải Bắc Trung bộ và Tây Nguyên phản ánh thực tế là các nhà tài trợ cũng như Chính phủ đặc biệt quan tâm
đến những vùng gặp khó khăn và còn lạc hậu này. Đoàn chuyên gia tư vÊn c¶m thÊy sÏ rÊt bỉ Ých nÕu cã thĨ phân tích HTKT theo các hợp
phần của dự án ví dụ: chi tiêu cho chuyên gia nước ngoài, chuyên gia trong nước, thiết bị, đào tạo, tham quan khảo sát v.v . Rất tiếc, không có số liệu để phân tích như vậy, do đó rất
khó đánh giá về mặt định lượng những băn khoăn của phía Việt Nam về tình trạng mất cân đối trong chi tiêu HTKT tức là dành quá nhiều vốn cho các chuyên gia nước ngoài với giá
đắt đỏ.
24
phần iv: những phát hiện

1. Thành công chung của chương trình hợp tác kỹ thuật


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

×