1. Trang chủ >
  2. Kinh Tế - Quản Lý >
  3. Quản lý nhà nước >

Hiệu quả hoạt động trong một số lĩnh vực then chốt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (294.76 KB, 57 trang )


39
thông tin thì công việc trở nên kém năng suất và, do đó, dễ làm cho chuyên gia nước ngoài khó chịu và thất vọng.
Trong những tình huống như vậy, mét sù cëi më lín h¬n cđa phÝa ViƯt Nam sẽ góp phần hết sức quan trọng để cải thiện tình hình. Điều đó có thể cần một quan điểm rõ ràng hơn
về chính sách cung cấp thông tin cho các chuyên gia HTKT. Nó cũng cho thấy rằng nếu có những lĩnh vực mà Chính phủ dứt khoát không muốn cung cấp thông tin thì ở đó không nên
khuyến khích việc xây dựng và thực hiện các dự án HTKT.
7. Bảo quản và sử dụng các kết quả hợp tác kỹ thuật: Đoàn chuyên gia tư vấn được biết một ý kiến quan trọng là còn có một khoảng cách lớn
giữa những khuyến nghị được đưa ra trong các báo cáo HTKT và thùc tÕ ¸p dơng cđa ChÝnh phđ. Cã thĨ nói rằng hiệu quả của HTKT còn thấp hơn tiềm năng rất nhiều, bởi vì còn tồn
đọng rất nhiều những sản phẩm HTKT như vậy, dưới hình thức các khuyến nghị và báo cáo, nhưng đến nay vẫn chưa được sử dụng.
Vấn đề này có thể do tính chất thời ®iĨm - ý kiÕn t­ vÊn cã thĨ ®∙ ®­ỵc ®­a ra khi hƯ thèng ra chÝnh s¸ch qc gia chưa sẵn sàng chấp nhận. Nếu đúng như vậy, thì không nên để
mất thành quả lao động mà nên tìm cách sử dụng vào một thời điểm sau này. Điều quan trọng là không nên làm lại các nghiên cứu HTKT một cách không cần thiết. Cần thành lập một thư
viện, hoặc một ngân hàng dữ liệu điện tử, để lưu trữ số lượng rất lớn các kết quả nghiên cứu đ thu được từ chương trình HTKT, để các nhà nghiên cứu, các chuyên gia tư vấn, các cán bộ
và các bên quan tâm khác có thể tiếp cận dễ dàng.

3. Hiệu quả hoạt động trong một số lĩnh vực then chốt


1. Hỗ trợ cải cách trong lĩnh vực quản lý kinh tế: Hợp phần mang tính chiến lược của HTKT đ hỗ trợ nỗ lực đổi mới hệ thống kinh tế và
tạo ra khuôn khổ hành chính và thể chế mới cần thiết để quản lý mô hình kinh tế mới. Chủ đề xuyên suốt báo cáo này là tiến trình Đổi Mới đ thành công vì Chính phủ Việt
Nam kiểm soát được tiến trình này. Những sáng kiến quan trọng ví dụ: gỡ bỏ những biện pháp kiểm soát không cần thiết; nhấn mạnh sự nghiệp xoá đói giảm nghèo và bình đẳng x
hội đều xuất phát từ những quyết định của lnh đạo Việt Nam và phản ánh những ưu tiên của đất nước Việt Nam.
Một số bước đề xuất để hoàn thiện việc quản lý hợp tác kỹ thuật Thực tế quan sát
Bằng chứng Các nguyên nhân
Giải pháp đề xuất
40
Công tác điều phối
Trùng lắp trong nỗ
lực của các nhà tài trợ, lng phí nguồn
lực.
Các hoạt động
HTKT được phân bổ thiếu cân đối.
Thiếu chia sẻ thông tin.
Mối liên kết giữa các bên
liên quan còn yếu kém.
Các nhà tài trợ không cam kết mạnh mẽ đối với công
tác điều phối viện trợ.
Thiếu sự lnh đạo của Chính phủ trong việc
khuyến khích các nhà tài trợ phối hợp với nhau.
Tăng cường chia sẻ thông tin giữa
các nhà tài trợ; củng cố quan hệ thông tin hai chiều giữa các nhà
tài trợ - các cơ quan chính phủ và giữa các đơn vị trong Bộ KHĐT.
Tăng cường mối liên kết giữa các
bên liên quan.
Các nhà tài trợ xác định rõ những lĩnh vực quan tâm của họ.
Xuất bản bản tin hàng tháng về
các hoạt động viện trợ, bao gồm cả việc thông tin về các đoàn vào.
Thiết kế và xây dựng web-site với
các liên kết thích hợp về điều phối viện trợ.
Chiến lược Chương trình quốc gia
Thiếu một chiến
lược quốc gia rõ ràng về HTKT.
Mối quan hệ giữa
các hoạt động HTKT với các
chính sách và ưu tiên của Chính phủ
còn yếu.
Không có chiến
lược rút lui để tránh sự phụ thuộc
viện trợ.
Đội ngũ cán bộ của các cơ quan quản lý viện trợ còn
thiếu và năng lực chưa phù hợp.
Hạn chế của phía Chính
phủ trong nhËn thøc vỊ tÇm quan träng cđa viƯc
sư dơng hiệu quả nguồn viện trợ không hoàn lại.
Nâng cao năng lực phân tích và
quản lý cho Bộ KHĐT; tăng cường đội ngũ và bố trí lại cơ cấu
của Vụ Kinh tế đối ngoại để nâng cao năng lực lập kế hoạch chiến
lược và điều phối viện trợ.
Xây dựng chiến lược HTKT với
các mục tiêu tổng thể và mục tiêu xây dựng năng lực rõ ràng.
Tổ chức điều phối theo ngành
một cách hệ thống hơn thông qua các nhóm công tác liên cơ quan
Chính phủ, song song với các cách tiếp cận theo ngành của các
nhà tài trợ.
Bảo đảm các cuộc họp đối tác
luôn luôn có đại diện cân đối của các bên và có quy môhình thức
tổ chức thích hợp để hoạt động có hiệu quả.
Quản lý chương trình và ý thức làm chủ của
41
quốc gia.
Nhiều ý kiến khác nhau về ý thức
làm chủ của quốc gia.
Thiếu các sáng
kiến trong giai đoạn đầu, đặc biệt
trong chiến lược chương trình và
thiết kế dự án
Các hoạt động tiếp
theo trong giám sát và đánh giá còn
yếu
Một số nhà tài trợ kiểm soát quá mức việc thiết kế
dự án và tuyển chọn chuyên gia.
Phân công việc không phù
hợp giữa các cơ quan chịu trách nhiệm; thiếu chú ý
đến chiến lược; việc ra các quyết định cụ thể bị tập
trung vào cấp trên đến mức không cần thiết.
Thiếu sự phân cấp trách
nhiệm hợp lý và rõ ràng.
Quyền hạn và trách nhiệm giải trình của các cơ quan
quản lý và điều phối viện trợ không được xác định
rõ.
Tinh chỉnh cơ chế điều phối và quản lý viện trợ để làm rõ hơn vai
tròtrách nhiệm của các cơ quan.
Các nhà tài trợ phải công bố đầy đủ và rõ ràng ngân sách của dự
án.
Chính phủ và các nhà tài trợ cùng hợp tác để tuyển chọn chuyên gia
quốc tế. Chuyên gia có trách nhiệm giải trình với phía Việt
Nam.
Phân cấp quản lý rõ ràng cho các
Bộ và địa phương.
Phát triển năng lực quốc gia.
Sự tham gia của
các chuyên giacông ty tư vấn
trong nước trong HTKT còn yếu
Thiếu các chính sách
khuyến khích.
Năng lực được xây dựng nhưng không liên quan tới
công việc được giao.
Thiếu cán bộ có kinh nghiệm và được đào tạo
thích hợp.
Không lựa chọn đúng cơ quan điều hành và các cơ
quan thực hiện, giám đốc và quản đốc dự án.
Năng lực của ngành tư
vấn trong nước còn yếu.
Sử dụng thiếu hiệu quả đội ngũ chuyên gia trong
nước hiện ngày càng tăng.
Chưa có khuôn khổ pháp lý và các biện pháp
khuyến khích để phát triển tư vấn tư nhân.
Các công ty tư vấn chưa
hợp tác được với nhau để phát triển năng lực của
Xây dựng và áp dụng chế độ
khuyến khích tại các cơ quan Chính phủ và cơ quan tài trợ để
động viên và tạo điều kiện cho mọi người làm việc tốt; các nỗ lực
chung để hoàn thiện phương thức quốc gia điều hành dự án NEX.
Chiến lược về sử dụng HTKT để
xây dựng năng lực của các chuyên giatổ chức tư vấn trong
nước nhằm cung cấp các dịch vụ tư vấn, hình thành một ngành
công nghiệp tư vấn có chất lượng cao. Khuyến khích ngành tư vấn
tìm kiếm sự hợp tác để xây dựng năng lực.
Học tập kinh nghiệp quốc tế ví
dụ ấn Độ để xác định mục tiêu và chính sách nhằm từng bước
nâng cao chất lượng và nội dung của các hoạt động tư vấn trong
nước.
Hoàn thiện việc lựa chọn và đào
tạo đội ngũ cán bộ trong nước để
42
ngành tư vấn thực hiện các dự án.
Tuy nhiên, do giai đoạn đầu của tiến trình Đổi Mới đ hoàn thành, cả Chính phủ và các nhà tài trợ cần có cam kết mới để có thể duy trì công việc tăng cường năng lực và đổi mới thể
chế về lâu về dài nhằm củng cố tiến trình Đổi Mới. Hệ thống quản lý của Chính phủ còn đáp ứng quá chậm so với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường đang thay đổi nhanh chóng. Mặc dù
Việt Nam đ đạt được những tiến bộ đáng kể trong công cuộc cải cách kinh tế, một loạt nhiệm vụ phức tạp và khó khăn vẫn còn đó. Cần phải cải tổ nhiều hơn nữa các cơ chế quản lý
kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực như cải cách DNNN, tự do hóa thương mại và cải thiện môi trường điều tiết kinh doanh.
Đảng và Chính phủ cũng nhìn nhận rằng để duy trì được đà tăng trưởng thì cần phải tiếp tục tiến hành những biện pháp cải cách sâu sắc. Thủ tướng Chính phủ đ nhiều lần bày tỏ
quan điểm rõ ràng rằng hệ thống Chính phủ cần phải được tinh giản. Hoạt động của các nhà tài trợ nhằm giúp cải thiện hệ thống quản lý kinh tế và tài chính
bao gồm nỗ lực tăng cường khả năng phân tích của các Bộ quản lý kinh tế, hỗ trợ nâng cao năng lực của kiểm toán nhà nước, giúp Bộ Tài chính nâng cao chất lượng dự thảo Luật Ngân
sách và thực hiện ngân sách, hỗ trợ công tác đào tạo lại cán bộ của Bộ KHĐT, hỗ trợ cải cách ngân hàng vv...
Tiến trình Đổi Mới là do người Việt Nam chỉ đạo. Thực tế đó đôi khi gây ra thất vọng cho phía nhà tài trợ khi họ cảm thấy rằng cải cách trong lĩnh vực này hoặc lĩnh vực khác
không tiến triển nhanh như ý muốn. Tuy nhiên, ngay cả khi những nỗi thất vọng đó là có căn cứ thì cũng cần nhìn nhận rằng sự nghiệp đổi mới có cơ may thành công nhiều hơn khi nó bắt
nguồn từ chính hệ thống của Việt Nam. Nhiệm vụ của HTKT là hỗ trợ cho quá trình xây dựng và thực hiện chính sách của Việt Nam, chứ không thay thế quá trình đó.
Trong giai đoạn đầu của quá trình cải cách, đ đạt được những tiến bộ đáng kể với một nguồn kinh phí viện trợ khiêm tốn. Ví dụ, Chương trình phát triển quản lý do UNDP tài trợ đ
giúp Văn phòng Chính phủ. Với sự hợp tác của Viện phát triển kinh tế thuộc WB với tư cách là cơ quan thực hiện dự án, chương trình này đ giúp Chính phủ về lý thuyết và thực hành của
kinh tế thị trường. Chương trình cũng đ hỗ trợ đào tạo các giảng viên, đào tạo phiên dịch tiếng Anh đồng thời về kinh tế tại Việt Nam cũng như đào tạo về kinh tÕ häc vµ lt häc ë
n­íc ngoµi Xem Hép 3.
ViƯc hỗ trợ hoàn thiện hệ thống kinh tế vẫn là mục tiêu được ưu tiên cao trong HTKT. Một số lĩnh vực cải cách hiện nay cần được hỗ trợ trong một vài năm tới, như cải cách
DNNN, môi trường điều tiết kinh doanh và hệ thống tài chính, ngân hàng. Ngoài ra, cần phải có cam kết của Chính phủ không ngừng tăng cường công tác quản lý kinh tế trong các lĩnh
vực như chi tiêu công cộng, chương trình đầu tư công cộng và quản lý nợ nước ngoài.
Trong một số lĩnh vực nêu trên, cả hai bên cần thống nhất đề ra những mục tiêu rõ ràng hơn để làm cơ sở theo dõi kết quả đạt được ví dụ liên quan tới những bước cải thiện trong
công tác quản lý DNNN. Trong những lĩnh vực khác với mục tiêu chủ yếu là nâng cao chất lượng hoạt động, thì việc xác định các mục tiêu về số lượng có thể khó khăn hơn, song điều
cần thiết là hai bên cần hiểu rõ về các mục tiêu của HTKT.
43
hộp 3 Tăng cường năng lực quản lý: Đào tạo
các nhà làm chính sách và các chuyên gia kinh tế
Là một trong những thử nghiệm đầu tiên nhằm giúp các tổ chức công cộng trong việc xác định vai trò mới của mình trong nền kinh tế thị trường, Văn phòng Chính phủ đ khởi
xướng một cách tiếp cận đa ngành mới mẻ vào năm 1990 trong việc đào tạo một loạt quan chức Chính phủ. Chương trình phát triển quản lý do UNDP tài trợ đ cung cấp số kinh phí
ban đầu là 1.700.000 USD, kể cả 400.000 USD cho cải cách luật pháp và 100.000 USD cho cải cách hành chính. Ngoài ra, hơn 1.000.000 USD vốn đồng tài trợ đ được huy động
từ Cơ quan phát triển quốc tế Thuỵ Điển SIDA, Cơ quan phát triển hải ngoại của Anh Quốc ODA, Công ty dầu lửa Anh Quốc BP và các nhà tài trợ tư nhân khác. Viện phát
triển kinh tế thuộc WB đ hỗ trợ trong việc thực hiện chương trình này.
Chương trình đ huy động sự tham gia của các vị Bộ trưởng, Thứ trưởng và các quan chức cao cấp của các Bộngành tham gia trực tiếp vào những bước cải cách ban đầu. Chương
trình cung cấp những đầu vào cho quá trình hoạch định chính sách thông qua các cuộc trao ®ỉi cÊp cao víi c¸c n­íc kh¸c, mét cc héi thảo chính sách cấp cao cấp Bộ trưởng, đào
tạo và hỗ trợ tư vấn. Thành công của giai đoạn 1 đ đưa đến giai đoạn 2 mà trọng tâm được chuyển từ những người làm chính sách ở cấp trung ương xuống những người làm chính
sách chủ chốt ở cấp tỉnh và thành phố. Giai đoạn 2 đ huy động thêm được nguồn hỗ trợ của Anh Quốc, Cơ quan phát triển quốc tế của Ca-na-đa CIDA và Hà Lan.
Chương trình đ hỗ trợ đào tạo sau đại học ở nước ngoài cho 71 người về các bộ môn kinh tế học, luật thương mại, quản trị kinh doanh và quản trị công cộng ở các nước Anh Quốc
và Hoa Kỳ. Một nét mang tính sáng tạo của chương trình là việc tổ chức đào tạo phiên dịch đồng thời về kinh tế ở Việt Nam. Hoạt động này không chỉ góp phần cải thiện việc
cung cấp các phiên dịch có trình độ cao mà còn góp phần tạo ra năng lực đào tạo phiên dịch cao cấp ở trong nước.
Một cuộc đánh giá độc lập chương trình này, tiến hành vào cuối giai đoạn 1, đ nhận xét: Vấn đề lúc đó là trang bị cho các nhà làm chính sách, giảng viên và cán bộ đào tạo, các
nhà quản lý doanh nghiệp những kiến thức và sự hiểu biết về cơ chế hoạt động của kinh tế thị trường. Những kỹ năng phân tích chính sách kinh tế vĩ mô là đặc biệt thích hợp cho
những người làm chính sách, nhưng những người làm quản lý doanh nghiệp cũng cần hiểu biết những vấn đề liên quan đến chính sách tài khoá, tiền tệ, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ li xuất
và giá cả. Họ cũng cần có khả năng để chớp lấy những thời cơ và khắc phục những vấn đề nảy sinh từ một môi trường kinh tế theo định hướng thị trường và cởi mở hơn. Họ cũng cần
có quyền tự chủ nhiều hơn, kỹ năng phát triển doanh nghiệp tư nhân và những kỹ năng mới khác kế toán, thẩm định tài chính, tiếp thị v.v..., và đây cũng là những vấn đề cần được
giải quyết. Do đó, thời điểm thực hiện chương trình này là hết sức tuyệt vời. Việt Nam cần được cung cấp cơ hội để tiếp thu những kỹ năng, kỹ thuật thích hợp, cũng như để học hỏi
kinh nghiệm của các nước khác.
Dựa vào báo cáo của UNDP tại Việt Nam: Một số bài học trong việc hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ nghèo đói sang thịnh vượng , trang 25.
44
2. Cải cách luật pháp:
Điểm lại quá trình cải cách trong những năm 90, có thể thấy rằng Việt Nam đ thu được nhiều kết quả cơ thĨ. VÝ dơ, trong lÜnh vùc lt ph¸p, HTKT mang lại rất nhiều kết quả cụ thể.
Hàng trăm bộ luật, nghị định, quy chế và quyết định chính sách được ban hành trong thập kỷ vừa qua, là do các cơ quan Việt Nam soạn thảo với những đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp
của HTKT Xem Phụ lục 1: Một số cột mốc trong quá trình cải cách của Việt Nam, Trang 53-56.
Không chỉ có Bộ Tư pháp đóng vai trò là công cụ cho cải cách lập pháp. Ví dụ, trong những năm 1994-1999, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương Viện QLKTTƯ thuộc Bộ KHĐT
đ nhận được 7.234.705 USD cam kết về HTKT, trong đó 3.689.044 USD đ được giải ngân Xem Hộp 4. Với năng lực về thể chế đ được tăng cường khá tốt, Viện QLKTTƯ đ sử
dụng nguồn tài trợ này để góp phần soạn thảo một loạt những bộ luật, nghị định và quy chế quan trọng, như:
Luật Doanh nghiệp tư nhân được thông qua năm 1990, xác lập cơ sở pháp lý cho
việc thành lập quyền sở hữu tư nhân;
Luật Công ty xác lập cơ sở pháp lý cho việc thành lập các công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn;
Các nghị định xác lập quyền của các DNNN trong việc quản lý tài sản, các quy
chế về thành lập và bắt đầu đăng ký các DNNN;
Luật Phá sản thông qua năm 1993;
Luật Hợp tác x thông qua năm 1997, khẳng định sự hỗ trợ của Nhà nước đối với hình thức doanh nghiệp này;
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước thông qua năm 1994 và được sửa đổi năm
1998;
Luật Doanh nghiệp thông qua năm 1999. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng chủ trì thực hiện một số dự án
HTKT góp phần xây dựng một loạt văn bản luật và nghị định quan trọng, như Luật Ngân sách, Luật Ngân hàng Nhà nước, một sè lt th vµ lt tỉ chøc tÝn dơng v.v Những luật
này đóng vai trò rất quan trọng đối với việc triển khai các chính sách về tài chính và tiền tệ.
Quá trình này tiếp tục được triển khai; trong năm 1999 đ đạt được những kết quả đáng kể như Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp và tiến hành một số bước nhằm bi bỏ cơ chế
hai giá trong đó quy định các công ty nước ngoài phải trả mức giá cao hơn đối với một số
45
dịch vụ. Một lĩnh vực ưu tiên khác của Chính phủ là tăng cường công tác phổ biến thông tin về pháp luật cho công chúng từ cấp huyện trở xuống, cũng như tăng cường tính công khai
minh bạch, trách nhiệm giải trình và lấy ý kiến của công dân thông qua Nghị định 29 về thực hiện chế độ dân chủ ở cơ sở.
hộp 4 Dự án tại Viện Quản lý Kinh tế Trung ương
Cải thiện môi trường điều tiết để phát triển kinh doanh Những đặc điểm chủ yếu của dự án
Định hướng theo quy trình và thực hiện tham khảo ý kiến nhằm hỗ trợ cải cách khuôn khổ
điều tiết. Điều này đòi hỏi phải tham khảo ý kiến rộng ri và vận động sự hỗ trợ cho sự nghiệp cải cách. Do đó, khó có thể dự tính trước kết quả cụ thể và lên kế hoạch chi tiết cho
các hoạt động.
Do tính chất không chắc chắn như trên, nên dự án thường được các nhà tài trợ coi là có mức độ rủi ro cao.
Nhưng dự án có tác động tiềm tàng rất to lớn đối với việc tăng kết quả, việc làm và xoá đói
giảm nghèo.
Những kết quả chọn lọc của dự án
Luật Doanh nghiệp bảo vệ tốt hơn quyền sở hữu tài sản, giảm mức độ tuỳ tiện trong xử lý
hành chính và sự can thiệp vào các quyết định kinh doanh, và tạo sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư. Quá trình tham khảo ý kiến đ góp phần vận động sự hỗ trợ và ý thức làm
chủ và có khả năng tạo điều kiện cho việc thực hiện.
Quy chế mới về Thành lập và đăng ký các doanh nghiệp và công ty tư nhân góp phần giảm thiểu các chi phí trong việc thành lập một công ty.
Những sửa đổi đối với Luật Doanh nghiệp Nhà nước nhằm nâng cao tính hiệu quả và trách
nhiệm giải trình của các DNNN.
Những sửa ®ỉi ®èi víi Lt Khun khÝch ®Çu t­ trong n­íc làm rõ ràng hơn những khuyến khích và giảm bớt sự chênh lệch trong những khuyến khích đối với các nhà đầu tư
trong nước so với các nhà đầu tư nước ngoài.
Nghị định về Hợp đồng, Cho thuê và Giải thể cung cấp những giải pháp mới, tạo điều kiện cho việc sắp xếp lại các DNNN quy mô nhỏ.
Nghị định và các quyết định có liên quan đến đầu tư trực tiếp của nước ngoài là những bước
tiến quan trọng nhằm giảm bớt sự phân biệt đối xử về giá cả đối với các nhà đầu tư nước ngoài và bảo vệ quyền của các nhà đầu tư nước ngoài.
Tăng thêm và nâng cao chất lượng của các cuộc thảo luận công khai về sự cần thiết phải cải
cách khuôn khổ điều tiết vì mục tiêu tăng trưởng và bình đẳng.
Các yếu tố góp phần vào thành công của dự án
Các cuộc tham khảo ý kiến rộng ri trong quá trình xây dựng dự án đ diễn ra thuận lợi nhờ
một tiểu dự án thực hiện trước đó về việc cung cấp kinh nghiệm, tăng cường quan hệ và cho phép đánh giá sâu sắc nhu cầu của Cơ quan chủ dự án và những đầu vào mà cơ quan và
chuyên gia bên ngoài cần cung cấp.
Cơ quan chủ dự án cam kết mạnh mẽ đối với dự án, nhìn thấy lợi ích của sự hỗ trợ trước kia và có tầm nhìn rõ ràng sự trợ giúp thêm sẽ có ích như thế nào cho công việc đang được tiến
hành.
46
Dự án được quyết định bởi nhu cầu của cơ quan chủ dự án và được thiết kế xung quanh
việc hỗ trợ tăng cường năng lực nhằm thực hiện hoạt động hàng ngày của cơ quan này. Do vậy, luôn luôn có sự hỗ trợ của các nhân viên đối tác và dự án chỉ tăng thêm ở mức độ tối
thiểu gánh nặng về hành chính cho chủ dự án.
Cơ quan chủ dự án đ xây dựng được quan hệ làm việc rất tốt với cơ quan tài trợ và các chuyên gia nước ngoài, tận dụng tối đa các cơ hội để có sự linh hoạt cần thiết nhằm hỗ trợ
cho chương trình cải cách.
Sự kết hợp sáng tạo giữa chuyên gia trong nước và chuyên gia nước ngoài đ mang lại những kết quả có hiệu quả cao về mặt chi phí.
HTKT đ đóng một vai trò mang tính chiến lược và tích cực, cung cấp những đầu vào cần thiết cho việc phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt cho việc điều chỉnh từng
bước các bộ luật và tập quán pháp luật theo những cách thức phù hợp nhằm phát huy tối đa lợi ích của cơ chế kinh tế mới. HTKT đ cung cấp tư vấn về việc xây dựng những bộ luật mới và
phát triển toàn diện hệ thống pháp luật. Nhiều luật sư Việt Nam đ được tham dự các lớp đào tạo ở trong và ngoài nước.
Chính phủ đ cam kết xây dựng một Nhà nước pháp quyền theo Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, việc xây dựng khuôn khổ pháp lý đáp ứng yêu cầu là một nhiệm vụ vô cùng to
lớn. Mặc dù hàng trăm bộ luật, nghị định, quy chế và quyết định chính sách đ được thông qua, nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Hơn nữa, việc phát triển một khuôn khổ pháp luật có hiệu
quả vượt ra ngoài việc ban hành các văn bản pháp quy đó. Cần phải có một sự chấp nhận và hiểu biết rộng ri đối với vai trò của pháp luật. Cần xây dựng các tập quán để bảo đảm cho
mọi người tiếp cận được với hệ thống pháp luật, kể cả các hệ thống có hiệu lực về tố tụng và xét xử thương mại, thi hành các phán quyết dân sự, và để các cơ quan công quyền nhìn nhận
vai trò của hệ thống tư pháp trong việc kiềm chế những hành động tuỳ tiện của họ.
Phát triển hệ thống pháp luật là một nhiệm vụ đầy thử thách cần tiếp tục được chính phủ chú trọng và các nhà tài trợ ủng hộ trong thời gian tới. Cần có một chiến lược phát triển
pháp luật tổng thể để chỉ đạo quá trình này. Hiện tại, hỗ trợ của các nhà tài trợ trong lĩnh vực pháp luật còn thiếu sự phối hợp và manh mún, có nhiều điều luật còn không rõ ràng, không
đầy đủ và thiếu nhất quán dẫn đến nhiều khó khăn trong việc áp dụng và thi hành luật pháp.
Cần tiếp tục hỗ trợ khâu giáo dục về luật pháp cũng như tăng cường công tác đào tạo luật sư, quan tòa, công tố viên, cán bộ thi hành luật dân sự và các cán bộ thi hành luật. Ngoài
ra, cần cải thiện hệ thống quản lý pháp luật; hiện tại, các hình thức khuyến khích còn chưa đầy đủ để các quan tòa và các cán bộ thi hành luật một cách trung thực và khách quan.
3. Quản lý quốc gia và cải cách hành chính:
Trong một vài năm lại đây, quản lý quốc gia đ được bổ sung thêm vào vốn thuật ngữ về hoạt động phát triển. Cũng giống như mốt ăn mặc, thuật ngữ này đ được sử dụng một
cách thái quá, đôi khi chỉ thuần tuý là từ đồng nghĩa của quản lý hành chính có hiệu quả. Trong một số trường hợp, thuật ngữ này lại được sử dụng để nói về một loạt những vấn đề
không được xác định rõ ràng về sự vận hành của x hội. Trong khuôn khổ HTKT, quản lý quốc gia có thể được định nghĩa là cách thức thực hiện quyền lực trong quản lý phát triển.
Nó có liên quan đến việc quản lý quá trình phát triển, kể cả khu vực công cộng và khu vực tư nhân. Những yếu tố căn bản của quản lý quốc gia có liên quan đến:
47
Sự vận hành và năng lực của khu vực công cộng;
Các quy chế và các thiết chế tạo nên khuôn khổ để Chính phủ vận hành và để tiến
hành các hoạt động kinh doanh; và
Các tập quán quyết định trách nhiệm giải trình về hiệu quả hoạt động và cách thức để các công dân có thể phản ánh quan điểm của mình và làm thay đổi hiệu quả hoạt
động của Chính phủ ví dụ: dân chủ ở cơ sở. Như vậy, quản lý qc gia” nãi vỊ m«i tr­êng thĨ chÕ trong đó các công dân tác
đông qua lại với nhau và với Chính phủ. Khi đánh giá trợ giúp kỹ thuật, các vấn đề về quản lý quốc gia nảy sinh ở hai khía cạnh
khác nhau. Một mặt hiệu quả của tất cả các dự án HTKT, kể cả những dự ¸n cã mơc tiªu mang tÝnh kü tht theo nghÜa hẹp, phụ thuộc vào chất lượng của công tác quản lý quốc gia.
Mặt khác việc cải thiện quản lý quốc gia cũng đ trở thành một mục tiêu quan trọng của HTKT. Quản lý quốc gia tốt là một công cụ quan trọng để có thể đạt được tăng trưởng.
Một bộ máy hành chính có năng lực và trong sạch và một hệ thống pháp lý hoạt động tốt sẽ góp phần cắt giảm các chi phí giao dịch, do đó làm cho đầu tư trở nên hiệu quả hơn.
Việc vận hành một cách hiệu quả của nền kinh tế đòi hỏi phài có một chính phủ hoạt động có hiệu lực và các thiết chế pháp lý thích hợp, và những yếu kém trong những lĩnh vực này có
thể làm chậm tốc độ tăng trưởng. Xét theo nghĩa đó, quản lý quốc gia tốt là một đầu vào cũng cần thiết như đầu tư vào cơ sở hạ tầng trong nỗ lực tìm kiếm tốc độ tăng trưởng cao - trong
một số trường hợp thậm chí còn quan trọng hơn, bởi vì các khoản đầu tư có thể trở nên không có hiệu quả khi không có quản lý quốc gia tốt.
Để cải thiện quản lý quốc gia ở Việt Nam, cần điều chỉnh vai trò của nhiều tổ chức thuộc Nhà nước và các thiết chế công cộng để chúng hoạt động có hiệu lực hơn trong môi
trường kinh tế mới. Củng cố và làm sâu sắc thêm tiến trình Đổi Mới đòi hỏi phải có nhiều cải tiến về công tác quản lý hành chính công.
Việc các tổ chức Nhà nước và các cơ sở dịch vụ cung cấp cho công chúng các dịch vụ mang tính chuyên nghiệp, với những thủ tục đơn giản hơn và theo một cách thức minh bạch
hơn có tầm quan trọng to lớn, và Đảng cũng như Chính phủ đ khẳng định dành ưu tiên cao cho việc cải thiện nền hành chính công. Đây là một lĩnh vực then chốt đối với việc củng cố
tiến trình Đổi Mới và là một lĩnh vực mà HTKT có thể hỗ trợ, đặc biƯt trong viƯc chia xỴ kinh nghiƯm qc tÕ vỊ cải cách hành chính và kiến thức về các cách tiếp cận hiện đại trong hành
chính công. Tuy nhiên, việc thực hiện HTKT một cách hiệu quả trong lĩnh vực này có vẻ như không dễ dàng gì.
Nhiều cải cách quan trọng trong giai đoạn đầu đòi hỏi việc xóa bá c¸c biƯn ph¸t kiĨm so¸t - mét lÜnh vực rất khó khăn để đưa ra các quyết định chính trị nhưng việc thực hiện lại
đơn giản hơn. Nhiều biện pháp cải cách trong giai đoạn đầu được thực hiện thông qua một thông báo ví dụ việc xóa bỏ kiểm soát giá cả. HTKT đóng vai trò cung cấp bằng chứng về
các giải pháp thành công trong việc thay thÕ cho hƯ thèng kiĨm so¸t kinh tÕ tËp trung hiện tại, thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm quốc tế. HTKT còn cung cấp tư vấn về các biện pháp thực
hiện cụ thể.
48
Ngược lại, có một số cải cách hành chính cần thiết hiện nay về nguyên tắc thì dễ nhất trí hơn, nhưng việc thực hiện lại rất phức tạp. Những lĩnh vực hóc búa như vậy bao gồm việc
thay đổi chế độ khuyến khích công chức trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp, thay đổi chương trình đào tạo của các cơ quan đào tạo về hành chính, và việc công chức ở lứa tuổi trung niên
phải chấp nhận các khái niệm mới về vai trò và chức năng của mình, cũng như phải học hỏi các cách tiếp cận mới trong công việc. Có nhiều phương án lựa chọn từ kinh nghiệm quốc tế
để tổ chức lại rất nhiều thiết chế, và thế là có nhiều ý kiến tư vấn khác nhau được đưa ra. Mét sè c¸n bé ViƯt Nam cho r»ng cã nhiỊu cán bộ giỏi về chuyên môn như kỹ sư, nhưng trình
độ chuyên môn thường không đi đôi với năng lực quản lý.
Rất khó hiểu một cách tường tận quy trình hoạch định chính sách hiện nay, không chỉ đối với những người bên ngoài mà ngay cả những người bên trong bộ máy. Phân công trách
nhiệm thường rất lơ mơ, và việc quyết định phải thông qua nguyên tắc nhất trí đ gây chậm trễ cho quá trình ra quyết định. Đến giai đoạn thực hiện, khi từng cơ quan riêng biệt có thể có
tiếng nói quyết định thi việc hợp tác và phối hợp giữa các cơ quan này lại trở nên khó khăn.
Trong điều kiện đặc thù của cơ chế chịu trách nhiệm tập thể ở Việt Nam, có thể tốn kém rất nhiều thời gian để xây dựng được sự nhất trí ủng hộ những sáng kiến mới. Quá trình
từ khi soạn thảo Luật Doanh nghiệp mới cho đến khi được Quốc hội thông qua là cả một qung thời gian dài và đó là một minh chứng. Xây dựng sự nhất trí là một bước đi cần thiết
nhằm đảm bảo ý thức làm chủ quốc gia đối với chương trình cải cách. Song điều này thực sự khó khăn trong cải cách hành chính, bởi vì bộ máy hành chính được đặt trước yêu cầu phải
tự đổi mới bản thân mình.
Cũng là điều hợp lý khi Việt Nam mong muốn kiểm soát quá trình cải cách cũng như mong muốn có đủ thời gian để nghiên cứu các giải pháp thay thế và tự mình xác định mô
hình thích hợp nhất trong hoàn cảnh của riêng mình. Song giờ đây các nhà tài trợ tỏ ra không hài lòng về tốc độ đổi mới chậm trong lĩnh vực này. Mặc dù các nhà chức trách Việt Nam đ
đưa ra những tín hiệu rõ ràng rằng họ muốn theo đuổi những mục tiêu cải tổ Chính phủ một cách sâu rộng, vượt ra ngoài phạm vi cải thiện hành chính thông thường, song những cam kết
về chính trị chưa được chuyển thành những mục tiêu rõ ràng về CCHC.
Để cho những khoản viện trợ HTKT lớn trong lĩnh vực CCHC mang lại hiệu quả cao hơn, phía Việt Nam cần cương quyết hơn trong việc quyết định phương hướng và tốc độ đổi
mới. Những cam kết đổi mới táo bạo trong lĩnh vực kinh tế giờ đây cũng cần được thể hiện trong lĩnh vực CCHC. Sau khi phía Việt Nam đ làm rõ những mục tiêu CCHC, thì HTKT có
thể phát huy tác dụng trong việc hỗ trợ thực hiện những thay đổi cần thiết.
Việc tiếp tục quá trình cải cách là mối quan tâm chung của Chính phủ và các nhà tài trợ, nhưng vai trò chủ đạo trong quá trình này phải do phía Việt Nam nắm giữ. Các nhà tài
trợ có thể hỗ trợ cho quá trình Đổi Mới, nhưng chỉ khi nào các nhà chức trách Việt Nam có sự cam kết đổi mới như vậy.
Tuy nhiên, ngay cả khi các mục tiêu đ được làm rõ, thì tính chất của quá trình CCHC cũng có ảnh hưởng tới thiết kế của chương trình hỗ trợ. Rất nhiều nhiệm vụ xây dựng thể chế
quan trọng đòi hỏi nhiều thời gian, nhiều thay đổi tận gốc rễ trong các hệ thống quản lý, trong tập quán và hiểu biết ví dụ như cải cách hành chính công, hoặc cần phải có những b­íc ®i
49
®ång bé trong nhiỊu lÜnh vùc vÝ dơ nh­ cải cách ngân hàng đòi hỏi phải cải thiện cả ngành ngân hàng cũng như sự hiểu biết và khả năng tài chính của các khách hàng. Trong nhiều
trường hợp, cần có khuôn khổ pháp lý thích hợp. Những biện pháp cải cách này không thể thực hiện trọn vẹn được trong chu kỳ của một dự án HTKT thông thường hay trong thời hạn
của một khoản vay. Điều này ảnh hưởng đến thiết kế của các chương trình hỗ trợ.
Mặc dù tiến độ CCHC còn quá chậm, song đ đạt được một số chuyển biến, trong đó có vai trò tham gia của HTKT. Số lượng các Bộ đ giảm từ 27 xuống còn 22 trong năm 1995.
Các luật và sắc lệnh đ được Quốc hội thông qua và đi vào cuộc sống, giảm bớt các thủ tục hành chính ở cấp trung ương cũng như ở địa phương. Toà án Hành chính đ được thiết lập và
Quy chế Công chức đ được ban hành. Chế độ một cửa, một con dấu đ được thực hiện ở một số tỉnh và thành phố.
Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một Chiến lược về CCHC để định ra những bước đi cần thiết cho việc thay đổi vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế ngày càng theo định hướng thị
trường nhiều hơn. Chính phủ hiện đang soạn thảo một chiến lược như vậy và, nếu được xây dựng tốt, chiến lược này sẽ tạo khuôn khổ cho việc c¶i thiƯn hiƯu qu¶ cđa HTKT trong lÜnh
cùc CCHC.
Nãi chung, HTKT được thực hiện từ trước đến nay nhằm tăng cường thể chế có nguy cơ bị chỉ trích là thiếu trọng tâm. Giờ đây, có thể cần phải thực hiện các hoạt động chung mang
tính hệ thống nhằm cung cấp một lộ trình cho công cuộc CCHC dài hạn hơn, với một trình tự các mục tiêu, tạo khuôn khổ cho các dự án HTKT phục vụ tăng cường năng lực. Cần phải nỗ
lực nhiều hơn để thiết lập mối liên kết giữa các dự án.
Một số mục tiêu về tăng cường năng lực và phát triển thể chế chỉ có thể được thực hiện thông qua một quá trình đổi mới diễn ra trong nhiều năm, vượt ra ngoài thời hạn của các dự
án. Trong những lĩnh vực như cải cách công chức, hoạch định chính sách kinh tế và cải cách ngành tài chính công, tăng cường năng lực sẽ cần một trình tự các giai đoạn, trong đó mỗi
giai đoạn sau cần được xây dựng trên nền tảng của các nỗ lực trước đó. Tuy thế, mỗi giai đoạn đó vẫn nên được coi là một quá trình có những mục tiêu rõ ràng, kể cả thời điểm chấm
dứt hỗ trợ HTKT.
4. Đào tạo nâng cao năng lực:
Đào tạo là một hoạt động quan trọng trong nhiều dự án HTKT. Khi chuẩn bị bản báo cáo này, Đoàn chuyên gia tư vấn có đặt ra một số câu hỏi về hiệu quả sử dụng các kiến thức
và kỹ năng đ được đào tạo của các cơ quan ViÖt Nam. Mét sè ý kiÕn cho r»ng l∙nh đạo một số cơ quanngành không muốn áp dụng các biện pháp để phát huy tối đa năng lực của các
nhân viên được đào tạo. Vì vậy, khi thiết kế các hoạt động đào tạo, cả hai bên nên định rõ các bước đi cần thiết để sử dụng một cách tốt nhất kiến thứckỹ năng tiếp thu được qua đào tạo.
Các hoạt động hỗ trợ việc tăng cường năng lực trong những năm 90 thường được hướng vào những kết quả tức thời ví dụ: nhân viên quốc gia làm quen với thủ tục của các nhà tài trợ;
tạo cơ hội cho những nhóm lớn các công chức tìm hiểu các nguyên lý chung của kinh tế thị trường. Đối với những nhu cầu như vậy, có thể sử dụng các cơ chế khá tốn kém để đạt được
50
những kết quả nhanh chóng ví dụ: sử dụng chuyên gia nước ngoài để tổ chức các lớp đào tạo cho cán bộ chuyên môn, và phương thức đó là thích hợp.
Trong những năm 90, cộng đồng tài trợ đ tổ chức rất nhiều hoạt động đào tạo tăng cường năng lùc ë nhiỊu c¬ quan chđ chèt cđa ViƯt Nam ví dụ: đào tạo về quản lý và điều
phối viện trợ ở Bộ KHĐT; các chương trình đào tạo khác tại Bộ Tài chính, Viện Chiến lược phát triển, Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Tổ chức Cán bộ Chính
phủ, Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ Giao thông và Vận tải, Văn phòng Kiểm toán Nhà nước, Văn phòng xét thầu v.v . Những hoạt động này đ thu được những kết
quả và tác động đáng hài lòng, góp phần đạt được những thành tựu như được đề cập ở các phần khác của báo cáo này.
Việt Nam cũng đ nhận được sự trợ giúp quan trọng trong lĩnh vực cao học dưới hình thức các khoá học ngắn hạn và các khoá đào tạo dài hạn, ở các cơ sở đào tạo tại Việt Nam
cũng như ở nước ngoài. Xét theo nhiều chỉ số, đào tạo đ được thực hiện thành công. Sinh viện Việt Nam theo học các khoá đào tạo ở nước ngoài đ học tập tốt và tuyệt đại đa số đ trở
về nước sau khi hoàn thành chương trình học tập. Không chỉ các khoá đào tạo về kỹ năng cụ thể đạt được thành tích đáng kể, đào tạo ở những lĩnh vực chung như kỹ năng ngoại ngữ
cũng đạt được tiến bộ to lớn. Hiệu quả chung của các hoạt động HTKT trong công tác đào tạo đ mở ra cho Việt Nam những nguồn tri thức mới nói riêng và nâng cao sù hiĨu biÕt vỊ m«i
tr­êng kinh tÕ qc tÕ nói chung.
Ngoài các chương trình đào tạo chính thức đóng vai trò mở đường, thì các gia đình Việt Nam cũng đ tự cố gắng tiếp tục móc nối các cơ hội đào tạo quốc tế cho con em mình. Việc
chuyển giao kiến thức đ có tác động to lớn đối với việc nâng cao năng lực của Việt Nam và năng lực đó sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả về lâu về dài.
Sau khi đ đáp ứng được nhiều nhu cầu đào tạo trước mắt, thì có thể chuyển trọng tâm theo hướng chú trọng hơn tới nhiệm vụ dài hạn là nâng cao năng lực của Việt Nam trong công
tác đào tạo và cung cấp các dịch vụ tư vấn. Trong cả hai lĩnh vực này, cần phải đổi mới về phía cung nâng cao kiến thức và kỹ năng cho cán bộ của các cơ quan đào tạo, nghiên cứu và
tư vấn cũng như về phía cầu sử dụng một cách tích cực và hợp lý năng lực đ được tạo ra. Về phía cầu, một yêu cầu hết sức quan trọng được đặt ra là các Bộ và các cơ quan khác cần
phải sẵn sàng sử dụng các cơ sở dịch vụ đào tạo và tư vấn độc lập tức là không thuộc quyền quản lý của họ.
5. Hợp tác kỹ thuật ở cấp tỉnh và địa phương
Chính phủ và cộng đồng các nhà tài trợ hiện đang chuyển trọng tâm sang các nhu cầu phát triển ở cấp tỉnh, huyện và làng x. Điều này sẽ tác động đến thiết kế của các dự án
HTKT đơn giản hóa và đòi hỏi nhiều nỗ lực để xây dựng năng lực tiếp nhận viện trợ cung cấp cho cấp tỉnh và địa phương. HTKT trong thời gian tới nên chú trọng nhiều hơn đến vấn đề
xây dựng năng lực quản lý dự án cho các cấp này.
Những yếu điểm trong khả năng thiết kế và thực hiện các chương trình phát triển cấp tỉnh và địa phương có thể gây khó khăn cho các chương trình phát triển của các nhà tài trợ,
khi các chương trình này có mục tiêu ủng hộ sự phát triển theo hướng phân cấp quản lý và ưu tiên xóa đói giảm nghèo. Chính phủ đ ý thức được tính cấp bách của việc phải nâng cao năng
51
lực cho cấp tỉnh, nhưng việc này đòi hỏi thời gian. Trong khi đó, các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế sao cho phù hợp với tình hình hiện tại ở các cấp này.
Kinh nghiệm cho thấy đối với các dự án ở cấp tỉnh, các nhà tài trợ cần xây dựng các cách tiếp cận mới để thực hiện dự án. Nên thực hiện vấn đề này trên cơ sở các kinh nghiệm
rút ra từ các dự án hỗ trợ cấp tỉnh đ được thực hiện. Một khía cạnh cải cách khác ngày càng trở nên quan trọng là sự phối hợp và phân chia
trách nhiệm giữa các cấp chính quyền. Hiện nay Chính phủ và các nhà tài trợ đang chú trọng đến công tác phát triển nông thôn và cải thiện cơ hội kinh tế cho người nghèo, trong đó tập
trung vào nhu cầu phát huy các sáng kiến của cấp cơ sở và cải thiện các cơ chế cung cấp dịch vụ và lập kế hoạch đầu tư cho chính quyền cấp tỉnh và địa phương. Điều này sẽ mang lại
những thách thức mới cho công tác thiết kế và thực hiện HTKT.
Phân cấp quản lý chương trình viện trợ xuống cấp tỉnh và địa phương là một mục tiêu rất chính đáng, xuất phát từ nhu cầu mở rộng sự phát triển ra ngoài phạm vi các trung tâm
chính của sự tăng trưởng trong thời gian gần đây và nhu cầu xóa đói giảm nghèo và đảm bảo công bằng x hội. Tuy nhiên, sẽ có những vấn đề khá gay go về khả năng tiếp nhận và quản
lý viện trợ, đặc biệt ở các tỉnh kém phát triển hơn thuộc diện đối tượng thụ hưởng đặc biệt của việc phân cấp quản lý. Muốn phân cấp quản lý tốt, cần đào tạo cán bộ cấp tỉnh về các vấn đề
quản lý viện trợ và quán triệt cho các cấp lnh đạo địa phương về tiềm năng và yêu cần của viện trợ nước ngoài. Cấp trung ương cũng cần được nâng cao năng lực theo dõi và đánh giá
các chương trình đ được phân cấp quản lý.
Các nhà tài trợ cũng cần điều chỉnh lại thủ tục chuẩn bị và phương thức thực hiện dự án sao cho phù hợp với thực tế ở địa phương. Đoàn chuyên gia tư vấn rất ngạc nhiên khi gặp phải
một thực trạng là trong khi thiết kế rất nhiều dự án ở cấp tỉnh, nhiều khó khăn đ nảy sinh do việc áp đặt một mô hình dự án cứng nhắc vào môi trường thể chế mà những người xây dựng
dự án còn hiểu biết quá ít. Cần thiết kế các nội dung của dự án cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ của cơ quan tiếp nhận viện trợ. Ví dụ, một điều không có mấy giá trị thực tiễn nếu
bổ sung vào nội dung dự án cấp tỉnh hoạt động nghiên cứu các chính sách được thực hiện ở cấp tỉnh nhưng lại phải chờ quyết định của các cơ quan Trung ương.
Phương thức thiết kế dự án như nêu trong Văn kiện dự ¸n phỉ biÕn cđa c¸c tỉ chøc thc LHQ, hc theo phương thức Khung lôgic được một số nhà tài trợ sử dụng, cho thấy
các kết quả chi tiết của dự án có thể dự đoán trước và liên quan tới các đầu vào cụ thể được huy động vào những thời điểm nhất định. Đây là một cách tiếp cận có trình tự và hệ thống rất
thích hợp với nhiều loại dự án. Tuy nhiên, đối với một dự án nhằm hỗ trợ cho quá trình cải cách trong giai đoạn ban đầu, thì rất khó đoán trước các kết quả dự án, đặc biệt đối với một
đoàn công tác ngắn ngày tham gia xây dựng dự án. áp dụng một mô hình định sẵn thường không phục vụ tốt cho việc tạo ra sự thay đổi về thể chế. Phương thức cải cách của Việt Nam
thường là thông qua kiểm nghiệm thực tiễn từng bước, theo đó các biện pháp cải cách mới được tiến hành trên cơ sở những bài học kinh nghiệm thu được.
Điều này cho thÊy khi thiÕt kÕ dù ¸n trong c¸c lÜnh vùc như CCHC ở cấp tỉnh và địa phương, nội dung thiết kế dự án cần mang tính linh hoạt. Nên khuyến khích cố vấn trưởng và
Giám đốc dự án tham gia vào việc thiết kế các hợp phần chi tiết của dự án trong quá trình thực hiện, với sự đồng ý của Ban Điều hành dự án.
52
Đoàn chuyên gia tư vấn còn nhận thấy việc sử dụng chuyên gia nước ngoài ở cấp tỉnh còn nhiều khó khăn. Những kinh nghiệm không mấy tốt đẹp trong lĩnh vực này như chi phí
quá cao mà hiệu quả lại hạn chế cho thấy rằng khả năng cung cấp chuyên gia quốc tế có kiến thức chuyên môn và kỹ năng cá nhân phù hợp với công tác ở cấp tỉnh có thể còn hạn chế.
Ngoài ra, cần phải cố gắng nhiều hơn để giúp các chuyên gia nước ngoài nắm được điều kiện thực tế tại địa phương trước khi nhận nhiệm vụ.
Cần chú trọng hơn nữa tới việc tăng cường năng lực đào tạo cán bộ cấp tỉnh cũng như tíi viƯc sư dơng chuyªn gia trong n­íc cho mơc đích này. Do Việt Nam có nhiều tỉnh nên nếu
bố trí chuyên gia quốc tế làm việc chuyên trách cho từng tỉnh thì rất tốn kém. Thay vào đó nên xây dựng năng lực đào tạo lại cán bộ cấp tỉnh thông qua các lớp tổ chức ở Trung ương
hoặc ở từng vùng cũng như tăng cường sử dụng chuyên gia trong nước để thực hiện các công việc tại thực địa. Sự hỗ trợ của chuyên gia quốc tế có lẽ tốt nhất nên thông qua các chuyến
viêng thăm ngắn hạn của các cố vấn không thường trú. Nên tiến hành trao đổi kinh nghiệm nhiều hơn giữa các tỉnh đ tiếp nhận dự án.
6. Sự tham gia của cấp cơ sở
Sự ủng hộ rộng ri của quần chúng nhân dân là nền tảng cho thành công của quá trình Đổi Mới. Muốn tiếp tục phát triển thắng lợi cần phải đáp ứng được nhu cầu của cơ sở và huy
động được sự ủng hộ rộng ri của nhân dân cho các hoạt động phát triển. Các nhà lnh đạo Việt Nam đ nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này. Chính phủ đ thể hiện mong
muốn tăng cường và làm rõ các cơ chế khiếu nại của công dân về các vấn đề, trong đó có vấn đề lạm dụng chức quyền và tham nhũng.
Các nhà tài trợ đ cố gắng khuyến khích sự tham gia của người dân vào các hoạt động phát triển bằng cách hỗ trợ cho các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quần chúng. Trong
những năm gần đây, số lượng các tổ chức này đ tăng lên đáng kể, cùng với sự hỗ trợ rộng ri từ phía các nhà tài trợ cho việc nâng cao năng lực các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong
lĩnh vực phát triển, các loại hình tổ chức phi lợi nhuận khác ví dụ như các hiệp hội chuyên môn, các quỹ, các tổ chức từ thiện, và các tổ chức ở cấp cộng đồng. Chính phủ đ được giới
thiệu hàng loạt các tập quán tốt của quốc tế trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho các tổ chức phi lợi nhuận, và Chính phủ cũng có ý định hoàn thành việc soạn thảo một bộ luật về
các hiệp hội.
53
phần V: Các lĩnh vực đối thoại trong tương lai
Việt Nam và cộng đồng tài trợ cần tiến hành đối thoại một cách hệ thống hơn để xác định chiến lược HTKT trong tương lai. Các lĩnh vực cùng quan tâm có thể bao gồm:
Vai trò và tổ chức của Nhà Nước đang trong quá trình liên tục điều chỉnh để phù
hợp với môi trường kinh tế mới, trong đó vai trò của Nhà Nước chuyển từ can thiệp trực tiếp sang xây dựng chính sách và khuôn khổ pháp lý. Cần phải tiếp cận
với kinh nghiệm của các nước có hệ thống thể chế khác.
Cần xây dựng một khuôn khổ pháp lý tổng thể để nền kinh tế thị trường có thể
hoạt động có hiệu quả hơn.
Khi phân cấp quản lý các chương trình của Chính phủ và chương trình viện trợ, cần tăng cường năng lực và trách nhiệm giải trình của các cấp địa phương đi đôi
với việc xây dựng năng lực của cán bộ địa phương để họ có thể thực hiện tốt nhiều nhiệm vụ hơn. Giao quyền quyết định nên kết hợp với việc nâng cao năng lực thực
hiện các quyết định cho các cán bộ địa phương. Điều này đòi hỏi phải đầu tư cho công tác đào tạo cán bộ.
Cần tăng cường trách nhiệm giải trình về quản lý tài chính công ở tất cả các cấp,
và như vậy cần phát triển hơn nữa hệ thống kế toán và kiểm toán công cộng.
Cần tăng cường hiểu biết cho người dân về quá trình cải cách, thông qua nâng cao nhận thức về các biện pháp cải cách được áp dụng và khuyến khích họ có ý kiến
phản hồi về chất lượng và mức độ cung cấp dịch vụ. Kinh nghiƯm qc tÕ cã thĨ sÏ cã Ých trong lĩnh vực này.
Cần nghiên cứu tác động của việc áp dụng các phương thức cung cấp dịch vụ khác
ví dụ việc x hội hóa dịch vụ công cộng
Nên cã ý thøc cè g¾ng më réng HTKT trong thêi gian tới đây sang những lĩnh vực sẽ trở nên quan trọng hơn ví dụ hai lĩnh vực quan tâm của phía Việt Nam là a
nhu cầu học hỏi kiến thức để quản lý quá trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, đối với cả Chính phủ và khu vực kinh doanh và b xây dựng
thượng tầng thể chế - bao gồm cả khuôn khổ pháp lý - để tạo ra một nền kinh tế tri thøc”.
phơ lơc I:
Mét sè mèc quan träng trong qu¸ trình đổi mới ë ViÖt nam: 1986-1998
54
Năm Biện pháp cải cách
1986 Đại hội Đảng VI tuyên bố tiến hành
công cuộc Đổi Mới
1987
Luật Đầu tư nước ngoài- bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa
Luật Đất đai cho phép tư nhân sử dụng đất được cấp trong nông nghiệp
1988 Lập ra hệ thống ngân hàng 2 cÊp;
Lt Th Xt NhËp khÈu ®­a hƯ thèng th quan vào thực hiện;
Các hộ nông dân được trao quyền sử dụng lâu dài đất nông nghiệp;
Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân trở thành chính sách của nhà nước;
Luật Đất đai quy định quyền sử dụng đất nông nghiệp không được phép
chuyển nhượng; Nghị định về quản lý ngoại hối cho
phép tự do hoá việc cầm giữ ngoại hối, mở tài khoản ngoại tệ, thanh toán
các mặt hàng nhập khẩu và thanh toán nợ nước ngoài bằng các khoản chuyển
nhượng;
Phá giá trong thương mại và tỷ giá chuyển đổi thanh toán vô hình;
Nới lỏng những hạn chế về thành lập các tổ chức kinh doanh nước ngoài,
xoá bỏ độc quyền ngoại thương của nhà nước.
1989 Xóa bỏ hầu hết các hình thức bao cấp
trực tiếp cho sản xuất, huỷ bỏ kiểm soát giá - chấm dứt chế độ hai giá;
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ra đời cho phép các pháp nhân ký kết hợp đồng;
Các nhà sản xuất hàng xuất khẩu được phép bán hàng cho mọi công ty thương
mại nước ngoài hoạt động hợp pháp; Bi bỏ hạn ngạch, ngoại trừ đối với 10
mặt hàng xuất khẩu và 14 mặt hàng nhập khẩu Sau đó giảm xuống còn 7
và 12 mặt hàng;
Thống nhất hệ thống tỷ giá hối đoái; Cho phép mua bán vàng trong lnh
thổ Việt Nam;
Li suất thực ngân hàng lớn hơn 0; Bi bỏ trợ cấp ngân sách cho xuất
khẩu.
1990 Ban hành Thuế tiêu thụ đặc biệt;
Ban hành Thuế doanh thu và Thuế lợi tức;
Sửa đổi luật Đầu tư nước ngoài ; Luật Doanh nghiệp tư nhân ra đời tạo
cơ sở pháp lý cho quyền sở hữu tài sản cá nhân duy nhất.
Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh về các HTX tín dụng và Tổ
chức tài chính được ban hành, không cho phép NHNN thực hiện chức năng
thương mại và chuyển NHNN thành ngân hàng trung ương;
Luật Công ty tạo cơ sở pháp lý cho CT trách nhiệm hữu hạn và CT cổ
phần .
1991 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự ;
Các nghị định thiết lập quyền quản lý Khai trương Trung tâm giao dịch
ngoại hối tại NHNN;
55
tài sản của DNNN, đưa ra các quy định về việc thành lập DNNN, bắt đầu
xem xét lại đăng ký kinh doanh dẫn tới quá trình hợp lý hoá nhiều DNNN;
Các công ty tư nhân được phép tham gia trực tiếp vào thương mại quốc tế.
Ban hành Quy chế thành lập khu chế xuất;
Ngân hàng Nông nghiệp Việt nam được phép cho vay tới hộ gia đình.
1992 Hiến pháp mới cho phép cá nhân thực
hiện quyền sở hữu đối với các tài sản sinh lợi và tài sản cá nhân;
Sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài, giảm bớt phân biệt đối xử giữa liên doanh và
doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài và đưa ra khái niệm Xây dựng, Vận
hành, Chuyển giao BOT đối với các dự án kết cấu hạ tầng;
Việc ký kết Hiệp định thương mại với Liên minh Châu Âu xác lập hạn
ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU và dành ưu đi thuế quan cho một
số hàng hoá nhập khẩu từ EU;
Tiến hành chương trình thí điểm cổ phần hoá DNNN;
1993 Luật Đất đai mới cho phép chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp và dùng quyền sử dụng đất
nông nghiệp để thế chấp;
Luật Phá sản và Luật Bảo vệ môi trường được ban hành;
Nới lỏng giấy phép chuyên chở hàng hoá xuất khẩu- ban hành 6 giấy phép
tháng đối với 22 mặt hàng xuất khẩu;
Ra đời hệ thống miễn thuế 90 ngày đối với hàng hoá đầu vào phục vụ sản
xuất hàng xuất khẩu;
1994 Thành lập Toà án Kinh tế;
Luật Lao ®éng b¶o vƯ qun cđa ng­êi sư dơng lao ®éng và người lao động,
điều chỉnh hợp đồng, bảo hiểm nhân thọ và lập ra cơ chế trọng tài;
Luật Khuyến khích Đầu tư trong nước chi tiết hoá vai trò của các cấp chính
quyền trong việc cấp giấy phép và đưa ra c¸c biƯn ph¸p khun khÝch cho c¸c
tỉ chøc trong nước; Chỉ giữ lại giấy phép nhập khẩu đối
với 15 mặt hàng; Thành lập thị trường giao dịch ngoại
hối liên ngân hàng; Thí điểm việc thành lập các Tổng
công ty khi bắt đầu quá trình sáp nhập các DNNN;
Tiếp tục nới lỏng thủ tục cấp giấy phép chuyên chở hàng hoá xuất khẩu
và bi bỏ hoàn toàn tất cả các mặt hàng ngoại trừ gạo, gỗ và đầu thô.
1995 Thành lập Tổng cục quản lý vốn và tài
sản Nhà nước thuộc Bộ Tài chính và cải thiện sự giám sát và quản lý
DNNN;
Luật DNNN củng cố các văn bản pháp quy đ có về DNNN;
Chỉ còn áp dụng hạn ngạch xuất khẩu đối với mặt hàng gạo;
Tăng thuế xuất khẩu đối với 11 sản phẩm;
Chỉ còn áp dụng hạn nghạch nhập
56
Ban hành Bộ luật Dân sự đặt nền tảng cho kinh tế thị trường. Tạo ra sự bảo
vệ, ít nhất về mặt pháp lý, quyền sở hữu công nghiệp;
Giảm số lượng các Bộ, trao cho Bộ KHĐT vai trò chủ đạo trong phê duyệt
và giám sát hoạt động đầu tư nước ngoài.
khẩu đối với 7 mặt hàng; Việt Nam gia nhập ASEAN và phê
chuẩn các nghị định thư về tư cách thành viên AFTA;
Giảm suất thuế doanh thu từ 18 xuống 11;
Xoá bỏ yêu cầu về giấy phép nhập khẩu chuyến đối với một loạt mặt
hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất;
1996
Xoá bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động tín dụng;
Luật Ngân sách Nhà nước chính thức hoá các thủ tục chi tiêu ngân sách và
quy định cụ thể nghĩa vụ chi tiêu của các cấp chính quyền;
Luật Đầu tư nước ngoài mới giảm phạm vi miễn thuế nhập khẩu đối với
các dự án đầu tư nước ngoài, làm rõ sự đối xử đối với một số loại hình đầu tư;
Luật Khoáng sản đưa ra khuôn khổ cho việc khai thác tài nguyên khoáng
sản; Ban hành các quy chế cụ thể hoá các
chế độ theo Bộ luật Dân sự về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp;
Phê chuẩn Chương trình đầu tư công cộng đầu tiên;
Xoá bỏ thuế đối với ngoại tệ gửi vào Việt Nam;
Theo Nghị định về chính sách xuất nhập khẩu năm 1996, chỉ còn 6 mặt
hàng phải quản lý bằng hạn ngạch nhập khẩu;
1997 Ra đời Nghị định phân phối hạn ngạch
xuất khẩu gạo cho Uỷ ban Nhân dân tỉnh và các bộ ngành trực thuộc trung
ương, từ đó cho phép khu vực tư nhân xuất khẩu trực tiếp. Xóa bỏ mọi hạn
chế về buôn bán nội địa mặt hàng gạo;
Luật NHNN Việt nam quy định rõ vai trò và chức năng của NHNN, nhưng
vẫn không trao cho NHNN qun tù chđ trong chÝnh s¸ch tiỊn tƯ;
Lt HTX khẳng định Chính phủ tiếp tục ủng hộ loại hình doanh nghiệp
này;
Luật Thuế Giá trị gia tăng ra đời, thay thÕ thuÕ doanh thu b»ng thuÕ gÝa trÞ
gia tăng từ năm 1999; Cấm nhập khẩu đường. Tăng số mặt
hàng quản lý bằng hạn ngạch để bảo đảm cân đối quốc gia;
Luật Các tổ chức tín dụng tạo cơ sở cho việc giám sát và điều hành hệ
thống ngân hàng;
Tạm thời cấm nhập khẩu một số mặt hàng tiêu dùng, sau đó lệnh cấm này
được xoá bỏ; Một số Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh và
khu công nghiệp được phép xét duyệt dự án đầu tư nước ngoài;
57
Luật Thuế thu nhập Công ty ra đời nhằm thực hiện thuế Công ty từ năm
1999 thay cho thuế lợi tức;
1998 Cho phép mua bán ngoại hối có kỳ hạn
và chuyển đảo; Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài được phép xuất khẩu những hàng hoá không được quy định trong
giấy phép đầu tư;
Thuế suất tối đa của thuế quan giảm xuống còn 60;
Lịch trình không chính thức cắt giảm thuế quan tới năm 2006 theo CEPT
được ban hành;
Những khuyến khích đối với đầu tư trong nước được mở rộng và các thủ
tục áp dụng được đơn giản hóa. Quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch
và giấy phép được thay bằng thuế quan;
Các doanh nghiệp tư nhân được cấp hạn ngạch nhập khẩu phân bón và
xuất khẩu gạo;
Các doanh nghiệp trong nước được phép xuất khẩu trực tiếp không cần
giấy phép;
Nguồn: Chính sách phát triển công nghiệp và cải cách doanh nghiệp Viện QLKTTƯ 1998. Dự án hỗ trợ kỹ thuật số 2696-VIE của Ngân hàng phát triển Châu á.

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

×