1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 128 (trang)
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 128trang

biết của ngƣời nộp thuế, sự đồng tình, chia sẻ trách nhiệm của các ngành, các

cấp, các tổ chức và toàn thể ngƣời dân xã hội.

1.2. Phƣơng thức tuyên truyền.

Các cục Thuế tổ chức tuyển truyền: Đặc biệt coi trọng công tác tuyên

truyền Luật thuế TNCN, thời gian qua các Cục thuế đã triển khai rất nhiều

phƣơng pháp linh hoạt. Ví dụ: Cục Thuế thành phố Hà Nội trong năm 2008

đã thực thi nhiều biện pháp với quyết tâm lớn là đảm bảo ít nhất 90% ngƣời

dân trên địa bàn hiều biết và thực hiện hiệu quả Luật Thuế TNCN. Khó khăn

hơn các luật thuế khác, Luật Thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng và liên

quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tƣợng, vì vậy ngay từ đầu năm 2008, Cục

Thuế thành phố Hà Nội đã chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai công tác

phổ biến, tuyên truyền, tập huấn nội dung luật trên toàn địa bàn. Kết thúc 9

tháng, Cục Thuế đã tổ chức 38 hội nghị với 11.500 lƣợt ngƣời tham dự; đã

cấp phát miễn phí gần 100.000 tờ rơi, 22.000 tập tài liệu tuyên truyền Luật

Thuế TNCN; đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đăng tải 40 tin,

bài phóng sự, ảnh… đặc biệt Cục Thuế đã phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên

giáo Thành ủy, Mặt trận Tổ quốc, Báo Hà Nội mới để đăng tải nhiều bài viết

về các vấn đề liên quan. Đây đƣợc xem là một kênh hữu hiệu để truyển tải

rộng rãi nội dung Luật tới quảng đại quần chúng.



36



Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Có các

chƣơng trình tìm hiểu về Luật thuế TNCN trên các kênh của đài Truyển hình

Việt Nam. Đây quả thực là các chƣơng trình vô cùng bổ ích và phần lớn mọi

ngƣời có thể tham gia theo dõi. ở các chƣơng trình này, các tình huống thuế

TNCN mà mọi ngƣời thắc mắc đƣợc giải đáp rõ ràng giúp cho ngƣời dân nắm

vững đƣợc Luật thuế TNCN cũng nhƣ giải tỏa những vƣớng mắc của họ trong

quá trình tìm hiểu và áp dụng Luật thuế TNCN.



Tuyên truyền về ngày thuế có hiệu lực trên đường phố Tp.HCM



Công tác tuyên truyền hỗ trợ ngƣời nộp thuế đƣợc đặt lên hàng đầu.

Theo đó ngƣời nộp thuế đƣợc hƣởng nhiều quyền lợi từ việc thực hiện cơ chế

37



tự tính, tự khai, tự nộp thuế, đƣợc quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dịch vụ

hỗ trợ về thuế theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”; đƣợc gia hạn nộp

thuế; đƣợc đón tiếp trân trọng, thân thiện gần gũi khi giao dịch với cơ quan

thuế, công chức thuế. Chính điều đó đã là động lực khiến ý thức chấp hành

pháp luật thuế của doanh nghiệp, các hộ kinh doanh, và các cá nhân khi áp

dụng Luật thuế TNCN ngày càng hoàn thiện.

Càng gần ngày Luật Thuế TNCN có hiệu lực công tác tuyên truyền

càng đƣợc quan tâm chú trọng. Tổng cục Thuế đã phối hợp với các cơ quan

thông tấn báo chí đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng nội dung chính sách thuế

TNCN để đông đảo quần chúng nhân dân biết và tự giác thực hiện.



2. ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGÀNH THUẾ.

Năng lực của mỗi cán bộ thuế có ý nghĩa quyết định trong việc kiểm

soát TNCN từ đó để thực thi Luật thuế TNCN. Hiện nay, để triển khai có hiệu

quả Luật thuế TNCN, ngành thuế đã điều chỉnh lại chức năng nhiệm vụ của

các bộ phận trong cơ quan thuế, đồng thời rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ

theo hƣớng tăng cƣờng những cán bộ có năng lực, phẩm chất chính trị tham

gia quản lý thuế TNCN.

2.1. Sắp xếp, đánh giá lại đội ngũ cán bộ ngành thuế.

Việc Luật quản lý thuế chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2007 đã tạo

những bƣớc tiền đề vô cùng thuận lợi khi triển khai áp dụng Luật thuế TNCN

vào cuộc sống.

Luật quản lý thuế đã tạo điều kiện để thay đổi, kiện toàn lại bộ máy quản

lý, theo đó tổ chức bộ máy của 19 Phòng thuộc Văn phòng Cục Thuế và 24 Chi

cục thuế trực thuộc Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh đƣợc chuyển đổi, sắp

xếp lại theo mô hình chức năng, đáp ứng yêu cầu quản lý trong thời kỳ mới.

38



Sau gần 2 năm thực hiện Luật quản lý thuế, công chức viên chức thuế

đƣợc phân loại, đánh giá, sắp xếp, đào tạo, bồi dƣỡng chuyên sâu, chuyên

nghiệp theo chức năng quản lý. Đặc biệt, nhận thức cũng nhƣ trình độ chuyên

môn của mỗi công chức, viên chức thuế đƣợc nâng cao hơn để đảm nhận tốt

nhiệm vụ đƣợc giao đặc biệt là khi Luật Thuế TNCN đƣợc triển khai vào

1/1/2009 vừa qua.

Cũng trong năm 2009, Tổng cục Thuế sẽ có hƣớng dẫn chỉ đạo việc

triển khai sắp xếp, chuyển ngạch thanh tra viên thuế cho cán bộ công chức

làm công tác thanh tra, kiểm tra để đảm bảo thực hiện tốt Luật Quản lý thuế.

2.2. Tập huấn, đào tạo đội ngũ cán bộ.

Ngành thuế đã triển khai tập huấn rất kỹ về nội dung và kỹ năng quản

lý cho toàn thể đội ngũ cán bộ thuế trong cả nƣớc, đặc biệt là những cán bộ

liên quan trực tiếp đến quản lý thuế TNCN.

Ngoài đội ngũ là cán bộ ngành thuế, Tổng cục thuế cũng có chủ trƣơng

đào tạo, bồi dƣỡng, tuyên truyền đối với đội ngũ có liên quan mật thiết đến

công tác triển khai áp dụng Luật Thuế TNCN vào đời sống: ngoài đội ngũ là

cán bộ công chức ngành thuế Thủ đô (3.535 ngƣời) đối tƣợng đầu tiên mà

Cục Thuế Hà Nội tập trung tuyên truyền là hệ thống các báo cáo viên, tuyên

truyền viên, thông tin viên thuộc Ban Tuyên giáo các cấp, cán bộ chủ chốt các

cấp chính quyền, các ngành, các cơ sở Đảng, tiếp đến là các nhóm đối tƣợng

nộp thuế. Theo kế hoạch, khi Bộ Tài chính ban hành Thông tƣ hƣớng dẫn chi

tiết về thuế TNCN, Cục thuế sẽ triển khai tập huấn nội dung văn bản này đến

các đối tƣợng là các cơ quan chi trả thu nhập; đại lý thuế, cá nhân kinh doanh.

Hay Cục thuế Thanh Hóa đã tổ chức cho 100% cán bộ công chức đƣợc tập

huấn về Luật Thuế TNCN, toàn thể cán bộ lãnh đạo từ tỉnh đến cấp huyện, thị

xã, thành phố và toàn thể cán bộ công chức toàn ngành thuế. Thời điểm Luật



39



thuế TNCN có hiệu lực càng đến gần thì công tác tập huấn nghiệp vụ, xây

dựng tài liệu dùng cho báo cáo viên càng đƣợc đẩy mạnh.

Cùng với những nỗ lực đó, ngành thuế đang khẩn trƣơng hoàn tất việc

xây dựng các quy trình, biện pháp nghiệp vụ theo hƣớng vừa đề cao chức

trách của cán bộ trong việc kiểm tra, kiểm soát vừa khơi dậy năng lực năng

động, sáng tạo trong bản thân mỗi công chức. Ngành thuế tiếp tục kiện toàn tổ

chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ; điều chỉnh dần cơ cấu cán bộ công chức

để phát huy hơn nữa hiệu quả quản lý; đồng thời tổ chức thi tuyển công chức

vào ngành để bổ sung lực lƣợng cho các Cục thuế, Chi cụ Thuế còn thiếu.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ ngành thuế: Bên cạnh việc tập trung

đẩy nhanh đào tạo các kỹ năng chuyên sâu cho cán bộ thuế nhằm nâng cao

chất lƣợng và hiệu quả công tác quản lý thuế theo mô hình chức năng, toàn

ngành thuế tập trung đào tạo về văn hóa ứng xử và đạo đức nghề nghiệp đảm

bảo đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có văn hóa ứng xử

văn minh lịch sự. Ngoài ra, với những cán bộ có thành tích tốt, ngành thuế sẽ

có hình thức biểu dƣơng khen thƣởng kịp thời, nhằm thúc đẩy họ vƣơn lên

phần đầu quản lý thuế TNCN nói riêng và quản lý thuế nói chung ngày càng

tốt hơn, góp phần đƣa Luật Thuế TNCN sớm phát huy hiệu quả trong cuộc

sống.



3. CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ VẬT CHẤT.

3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế.

Khi mà thời điểm Luật thuế TNCN có hiệu lực đã đến rất gần thì công

tác chuẩn bị các điều kiện hạ tầng để triển khai Luật đang trở thành mối quan

tâm hàng đầu, không chỉ đối với ngành thuế, mà còn đối với cộng đồng xã

hội. Trong đó có việc triển khai hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin

(CNTT) vào quản lý thuế TNCN.



40



Ngay từ thời điểm cuối năm 2006, đầu năm 2007 khi Bộ Tài chính mới

bắt đầu nghiên cứu soạn thảo dự án Luật thuế TNCN thì Ban Tin học Tổng

cục Thuế (nay là Cục ứng dụng CNTT) đã triển khai các công việc nghiên

cứu, nắm bắt các nội dung của dự án luật, nhằm xác định quy mô, phạm vi,

đối tƣợng quản lý để phân tích, xây dựng quy trình quản lý thuế, theo đó đã

lập dự án tin học hóa quản lý thuế TNCN. Trƣớc mắt, để phục vụ cho yêu cầu

quản lý thuế TNCN vào đầu năm 2009, ngành thuế đã tiến hành nâng cấp các

ứng dụng hiện có. Dự kiến, đến hết quý II/2009 sẽ đƣa các ứng dụng mới vào

xử lý tờ khai và đến thời điểm đầu năm 2010, các quy trình nghiệp vụ quản lý

thuế TNCN sẽ đƣợc hoàn chỉnh để tin học toàn bộ.

Quy trình quản lý thuế TNCN bắt đầu bằng việc đăng ký cấp mã số

thuế và các ứng dụng CNTT đƣợc xây dựng ngay từ khâu này. Đối với cá

nhân có phát sinh thu nhập độc lập mà tự kê khai với cơ quan thuế thì ngay

thời điểm Luật thuế TNCN có hiệu lực ngành thuế sẽ ban hành tờ khai thu

nhập tạm nộp để ngƣời nộp thuế kê khai số ƣớc thu nhập hàng tháng, hàng

quý và nộp lại cho cơ quan thuế. Tờ khai đó sẽ đƣợc xử lý bằng CNTT để

xác định nghĩa vụ thuế ban đầu của ngƣời nộp thuế. Đối với cá nhân làm

công ăn lƣơng, sau khi đƣợc cơ quan chi trả thu nhập khấu trừ thuế, tờ khai

đƣợc chuyển đến cơ quan thuế và đƣợc nhập vào hệ thống ứng dụng để phân

định nghĩa vụ nộp thuế của từng cá nhân. Dự kiến vào cuối năm 2009 hệ

thống ứng dụng CNTT của ngành thuế sẽ đƣợc phát triển mở rộng, nâng cấp

thêm phần xử lý tờ khai quyết toán thuế của từng cá nhân. Đến đầu năm

2010, cá nhân có thu nhập chịu thuế sẽ phải lập từng bản quyết toán thuế

riêng (gọi là tờ khai quyết toán thuế năm) để nộp cho cơ quan thuế, sau đó sẽ

đƣợc xử lý bằng các ứng dụng tin học trong quản lý. Ƣớc tính đến năm

2010, số tờ khai quyết toán thuế năm nộp cho cơ quan thuế sẽ lên tới khoảng

3 - 4 triệu tờ khai.



41



Ngoài ra cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai áp dụng công nghệ mã vạch

hai chiều để đọc và phân tích tờ khai, nhằm khắc phục triệt để các lỗi sai sót

và tình trạng nộp tờ khai không đúng hạn, chuẩn bị điều kiên tốt nhất để triển

khai kê khai thuế qua mạng.

Những khó khăn gặp phải:

Thuế TNCN là sắc thuế đặc thù, ngƣời nộp thuế TNCN có thu nhập tại

nhiều địa bàn khác nhau trong khi đó việc thiết lập cơ sở dữ liệu để quản lý mới

ở giai đoạn manh nha, nên chắc chắn việc triển khai các ứng dụng CNTT vào

quản lý sẽ không dễ. Hơn thế nữa, hệ thống ứng dụng CNTT hiện hành của

ngành thuế đang bị phân tán theo chức năng quản lý của từng đơn vị. Cấp Chi

cục Thuế quản lý các hộ, các doanh nghiệp nhỏ và tự quản lý toàn bộ dữ liệu, xử

lý thông tin hàng ngày. Còn cấp Cục Thuế quản lý các doanh nghiệp vừa, lớn và

dữ liệu, thông tin cũng đƣợc Cục Thuế lƣu, xử lý phục vụ các tác nghiệp hàng

ngày. Cấp Tổng cục Thuế không quản lý dữ liệu các đối tƣợng nộp thuế mà khi

cần cơ quan cấp dƣới sẽ chuyển thông tin tổng hợp mang tính chất thống kê,

phục vụ cho công tác phân tích chỉ đạo.

Với thuế TNCN, do đặc thù một cá nhân có thể có thu nhập tại nhiều

địa bàn khác nhau, nên việc phân cấp tổ chức cơ sở dữ liệu và ứng dụng

CNTT nhƣ hiện nay sẽ không phù hợp. Do đó, ngành thuế cũng đang có kế

hoạch thay đổi tổng thể mô hình kiến trúc ứng dụng CNTT, chuyển dần từ mô

hình xử lý phân tán sang mô hình xử lý tập trung, theo đó, sẽ tập trung toàn

bộ dữ liệu tại cấp trung ƣơng, còn các cấp dƣới sẽ thực hiện vai trò nhập dữ

liệu.

Với một khối lƣợng công việc lớn nhƣ vậy gây khá nhiều khó khăn cho

ngành thuế nhất là trƣớc thời điểm 1/1/2009 khi Luật Thuế TNCN có hiệu

lực. Đối với lĩnh vực tin học cần phải có thông tƣ hƣớng dẫn cụ thể từng mẫu,

biểu và các quy trình nghiệp vụ, nhƣng hiện tại vẫn chƣa có thông tƣ nào

hƣớng dẫn về thuế TNCN. Ngoài ra, nguồn nhân lực đáp ứng việc vận hành,

42



quản lý và sử dụng thành thạo các ứng dụng tin học trong quản lý thuế hiện

nay cũng là cả một vấn đề lớn, ngƣời giỏi về tin học lại hạn chế trong các

nghiệp vụ kế toán, thống kê và ngƣợc lại. Hơn thế nữa, việc giữ chân và thu

hút đƣợc nhân lực giỏi về CNTT làm việc trong ngành cũng đang là bài toán

khó.

Biện pháp khắc phục:

Trƣớc những khó khăn đó, ngành thuế đang gấp rút cùng với các đơn

vị có liên quan nghiên cứu, hoàn thành các văn bản hƣớng dẫn theo các trình

tự, quy trình nghiệp vụ cụ thể, từ đó sẽ nâng cấp các phần mềm ứng dụng tin

học phục vụ quản lý, nhằm đáp ứng tốt nhất khi triển khai áp dụng Luật thuế

TNCN. Song hành với việc gấp rút hoàn thiện các văn bản qui phạm pháp

luật, Tổng cục Thuế đang kiện toàn và nâng cấp hệ thống phần mềm máy tính

hiện có, đầu tƣ bổ sung đầy đủ trang thiết bị tin học cho những nơi còn thiếu

để đáp ứng đƣợc nhu cầu quản lý thuế trong giai đoạn đầu, đảm bảo sự hỗ trợ

đắc lực của công nghệ thông tin trong toàn hệ thống thuế.

Với vấn đề nguồn nhân lực, Cục ứng dụng CNTT cũng đã kiến nghị

với Tổng cục Thuế có một cơ chế hợp lý để “thu dụng nhân tài”, đồng thời

Cục cũng chủ động bồi dƣỡng, đào tạo những kỹ năng cần thiết cho cán bộ

công chức, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, đồng thời đảm bảo

sử dụng và khai thác tốt các chƣơng trình ứng dụng, vừa nâng cao hiệu suất,

hiệu quả quản lý thuế vừa tránh lãng phí số máy móc thiết bị đã trang bị.

Đây không còn là hình thức vận động, khuyến khích nữa mà là yêu cầu

bắt buộc, có cơ chế kiểm tra giám sát cụ thể, phấn đấu trong năm 2009, toàn

ngành sẽ thực hiện quản lý điều hành qua mạng điện tử, xóa bỏ chế độ báo

cáo qua hình thức công văn thƣ từ, vừa lãng phí, vừa không kịp thời.

3.2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho quá trình

triển khai Luật thuế TNCN.

43



Theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, ngành thuế đã khẩn trƣơng hoàn tất

những công việc chuẩn bị để triển khai Luật Thuế TNCN từ ngày 01/01/2009.

Theo đó, ngày 08/09/2008 Thủ tƣớng Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo

triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Chính

phủ đã ban hành Nghị định 100/2008/NĐ - CP quy định chi tiết thi hành Luật

Thuế TNCN. Trƣớc khi ban hành, dự thảo thông tƣ hƣớng dẫn thi hành về

thuế TNCN đã đƣợc gửi đi lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, các đoàn

thể, các hiệp hội và nhân dân; đăng tải trên website ngành thuế. Tiếp đó đã

nghiên cứu xây dựng Thông tƣ liên tịch giữa Bộ Tài chính với Bộ Quốc

phòng và Bộ Công an hƣớng dẫn thu nộp thuế TNCN đối với cán bộ chiến sĩ

các lực lƣợng vũ trang. Các văn bản hƣớng dẫn thi hành đã đƣợc hoàn thiện

và ban hành trong tháng 9/2008 theo đúng chỉ đạo của Chính phủ.

Thông tƣ 84: Ngày 30/9/2008, thứ trƣởng Bộ Tài chính Nguyễn Công

Nghiệp ký ban hành Thông tƣ số 84/2008/TT-BTC hƣớng dẫn thi hành một

số điều của Luật Thuế TNCN cùng với các rất nhiều mẫu đăng ký liên quan

nhƣ mẫu tờ khai đăng ký thuế TNCN, mẫu tờ khai khấu trừ thuế TNCN, tờ

khai quyết toán thuế, tờ khai giảm trừ gia cảnh cho ngƣời phụ thuộc...

Thông tƣ 62: Ngày 27/3/2009, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tƣ mới

số 62/2009/TT-BTC hƣớng dẫn bổ sung và chi tiết hơn cho việc áp dụng

Thông tƣ 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2009 (Thông tƣ 84), có hiệu lực thi

hành sau 45 ngày kể từ ngày ký và áp dụng cho các khoản thu nhập phát sinh

từ ngày 01/01/09. Thông tƣ 62 mới ban hành bao gồm những điểm chinh sau:

Mở rộng phạm vi các khoản thu nhập không chịu thuế.

Ví dụ nhƣ đối với ngƣời nƣớc ngoài thông tƣ 62 có quy định một số

khoản thu nhập không chịu thuế nhƣ: Khoản trợ cấp chuyển vùng một lần đối

với ngƣời nƣớc ngoài đến cƣ trú tại Việt Nam (mức trƣoj cấp xác định căn cứ

trên hợp đồng lao động); khoản tiền học phí bậc phổ thông cho con của ngƣời

nƣớc ngoài học tại Việt Nam; tiền vé máy bay khứ hồi một lần một năm cho

44



ngƣời nƣớc ngoài về phép... Tiền thuê nhà do đơn vị sử dụng lao động chi trả

hộ sẽ chịu thuế TNCN theo số thực tế chi trả hộ nhƣng không vƣợt quá 15%

tổng thu nhập chịu thuế.

Và các khoản thu nhập không chịu thuế khác: Đối với các khoản chi về

phƣơng tiện phục vụ đƣa đón tập thể ngƣời lao động; các khoản lơi ích nhƣ

chi phí hội viên, dịch vụ giải trí...; các khoản chi để đào tạo nâng cao trình độ

tay nghề cho ngƣời lao động...

Hướng dẫn bổ sung về người phụ thuộc và giảm trừ gia cảnh.

Thông tƣ 62 hƣớng dẫn những điều kiện bắt buộc để xác định ngƣời phụ

thuộc trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động. Theo những điều khoản

hƣớng dẫn này, ngƣời phụ thuộc trong độ tuổi lao động phải thỏa mãn hai điều

kiện: (i) bị tàn tật không có khả năng lao động và (ii) không có thu nhập hoặc

có thu nhập bình quân tháng thấp hơn 500.000VND. Đối với ngƣời phụ thuộc

ngoài độ tuổi lao động thì chỉ cần thỏa mãn điều kiện thứ hai. Ngoài ra có quy

định một số điểm khác.

Thông tƣ 62 cũng hƣớng dẫn chi tiết các chứng từ chứng minh ngƣời

phụ thuộc, thủ tục kê khai cho nhiều trƣờng hợp khác nhau; xác định rõ các

khoản bảo hiểm bắt buộc đƣợc giảm trừ khi tính thu nhập chịu thuế, bao gồm

cả bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.

Hướng dẫn khấu trừ và kê khai thuế TNCN đối với các khoản thu nhập ngoài

tiền lương, tiền công.

Thông tƣ 62 hƣớng dẫn cụ thể hơn về việc khấu trừ và kê khai các

khoản thu nhập ngoài tiền lƣơng, tiền công.

Ví dụ: Đối với chứng khoán chƣa niêm yết và chƣa đăng ký tại trung tâm

giao dịch, giá chuyển nhƣợng chứng khoán là giá ghi trên hợp đồng chuyển

nhƣợng. Trƣờng hợp trên hợp đồng không ghi giá thì căn cứ để khấu trừ thuế



45



là giá chuyển nhƣợng do ngƣời chuyển nhƣợng tự khai và tự chịu trách nhiệm

về tính chính xác của nội dung kê khai.

Cá nhân nhận cổ tức bằng cổ phiếu hoặc nhận cổ phiếu thƣởng chƣa

phải nộp thuế TNCN khi nhận cổ phiếu, nhƣng khi chuyển nhƣợng số cổ

phiếu này, cá nhân phải nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ hoạt động

chuyển nhƣợng chứng khoán và thu nhập từ đầu tƣ vốn. Số thuế TNCN phải

nộp đối với thu nhập từ chuyển nhƣợng cổ phiếu sẽ căn cứ vào giá thực tế tại

thời điểm chuyển nhƣợng và ngƣời nộp thuế sẽ lựa chọn phƣơng pháp tính

thuế khoán hoặc áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập ròng là phần chênh lệch

giữa giá thực tế chuyển nhƣợng và mệnh giá.

Đối với khoản chi trả tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa; tiền lƣơng,

tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ có tổng

mức chi trả thu nhập từ 500.000 đồng trở lên thì các tổ chức, cá nhân chi trả

phải áp dụng thống nhất mức khấu trừ thuế 10% trên thu nhập chi trả (bất kể

cá nhân nhận thu nhập có mã số thuế hay không); trừ những trƣờng hợp có

hƣớng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính (ví dụ: phí đại lý bảo hiểm, đại lý vé số).

3.3. Thành lập Bạn chỉ đạo nhằm triển khai Luật Thuế TNCN.

Thủ tƣớng chính phủ cũng quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung

ƣơng triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN. Theo đó, ban chỉ đạo có nhiệm

vụ xây dựng chƣơng trình, kế hoạch, tiến độ và các biện pháp triển khai thực

hiện Luật Thuế TNCN; hƣớng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan và các địa

phƣơng thực hiện chƣơng trình, kế hoạch và các biện pháp triển khai thực

hiện luật, phải tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện của các bộ, ngành và

các địa phƣơng để báo cáo Thủ tƣớng mỗi quý một lần.

Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo cũng phải đề xuất, đôn đốc các bộ, cơ quan

sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan; chỉ đạo, hƣớng dẫn Ban chỉ đạo triển khai Luật thuế TNCN ở



46



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(128 tr)

×