1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 128 (trang)
CHƯƠNG III. BIỆN PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG III. BIỆN PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 128trang

Các thông tƣ hƣớng dẫn kê khai thuế Mỹ đều yêu cầu rõ phải kê khai

luôn các khoản thu nhập phi pháp (other illegal income) nhƣ hối lộ, biển thủ,

cờ bạc, bảo kê, ma túy, trộm cƣớp, buôn lậu, tiền giả, lừa đảo... Để tăng

cƣờng phòng chống tham nhũng và tội phạm, điều 3 Luật thuế TNCN Việt

Nam có lẽ cũng nên bổ sung một điều khoản kỹ thuật, đó là loại thu nhập thứ

15: “Các loại thu nhập bất chính hoặc phi pháp”.

Nghe thật buồn cƣời, vì đã là thu nguồn phi pháp thì ai dám kê khai.

Tuy nhiên, đây là điều khoản mang tính kỹ thuật tinh vi của Quốc hội Mỹ.

Luật thuế ghi nhƣ vậy để tránh công dân “né thuế” kiện ngƣợc rằng luật

không quy định. Hơn thế nữa, luật thuế bắt buộc phải khai báo luôn cả các thu

nhập phi pháp nhằm mục đích “kèm thêm” tội trốn thuế vào các tội hình sự,

bởi vì những tội phạm hình sự thƣờng không khai báo các loại thu nhập phi

pháp này và kẻ tham nhũng cũng thế.

Một ví dụ rất nổi tiếng là vụ trùm mafia Al Capone ở Chicago, Mỹ.

Tuy các luật sƣ đã biện hộ cho Al Capone thoát tội danh cƣớp của giết ngƣời

nhƣng các nhân viên sở thuế vẫn tìm ra cách nhốt Al Capone 11 năm tù với

tội danh trốn thuế, sau khi chứng minh tài sản của Al Capone đã tăng lên đều

đặn hàng năm mà không hề đóng thuế.12 Việc quy định phải khai báo các

khoản thu nhập phi pháp cũng nhằm tạo cơ sở pháp lý để cơ quan điều tra mở

rộng phạm vi điều tra, phân tích mức sống xa hoa và tài sản thuộc quyền

khống chế và sở hữu của nghi can, nhằm làm sáng tỏ các nghi án hối lộ và

tham nhũng vốn thƣờng đi kèm với các nghi án trốn thuế.

1.1. Triển khai kê khai và thu nộp thuế TNCN tại Mỹ.

Phƣơng pháp quản lý ngƣời nộp thuế:

Mỹ quản lý ngƣời nộp thuế thông qua Số An sinh xã hội (SSN - Social

Security Number) hoặc Số xác định ngƣời nộp thuế thu nhập cá nhân dành

cho ngƣời nƣớc ngoài (ITINs - Individual Taxpayer Identification Numbers).

12



Nhƣ chú thích 11



82



Để đăng ký SSN, cá nhân phải điền vào đơn đăng ký và gửi đơn này cùng với

những chứng từ phù hợp tới Cơ quan quản lý An sinh xã hội (SSA). Ngay khi

SSA có đầy đủ bằng chứng và thông tin cần thiết, cơ quan này sẽ cấp SSN

trong 2 tuần sau đó. Đối với những cá nhân phi cƣ trú hoặc ngƣời nƣớc ngoài

cƣ trú tại Mỹ, họ không thể đăng ký SSN mà phải đăng ký ITIN. Mã số này

chỉ dùng cho công tác quản lý thuế.



1.1.1. Kê khai

Các đối tƣợng cần kê khai và nộp thuế trƣớc ngày 15 tháng 4 năm tiếp

theo. Nếu nộp chậm hơn, có thể phải nộp tiền lãi và tiền phạt. Đối với những

ngƣời đang phục vụ trong quân đội tại những khu vực đang giao chiến hoặc

thực hiện nhiệm vụ nguy hiểm thì có thể kê khai muộn hơn. Đối với các cá

nhân khác cũng có thể xin gia hạn thêm 6 tháng nếu trƣớc ngày hết hạn họ

đăng ký xin gia hạn vào Form 4868 và gửi về IRS (Internal Revenue Service Cục Thuế nội địa Mỹ). Công dân Mỹ hoặc ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại Mỹ có

thể tự động gia hạn thêm 6 tháng mà không cần đăng ký nếu nhƣ tại thời điểm

hết hạn nộp kê khai, họ thoả mãn một trong những điều kiện sau:

Điều kiện 1. Đang sống tại ngoài nƣớc Mỹ và Puerto Rico và địa điểm

chính của việc kinh doanh hay công việc của cá nhân đó nằm ngoài nƣớc Mỹ

và Puerto Rico.

Điều kiện 2. Đối tƣợng đang phục vụ tại quân đội hay hải quân tại

ngoài nƣớc Mỹ và Puerto Rico.

Việc gia hạn này tăng thêm 2 tháng để nộp tờ khai và đóng thuế, tuy

nhiên sẽ phải trả lãi trên khoản tiền thuế chƣa đóng tính từ ngày lẽ ra phải nộp

tờ kê khai. Đồng thời phải nộp kèm những chứng từ cho thấy cá nhân thoả

mãn điều kiện trên.



1.1.2. Hoàn thuế

Ngƣời nộp thuế đƣợc quyền nhần hoàn thuế nếu trả quá số thuế thu

nhập cá nhân mà mình cần phải nộp. Khoản hoàn thuế thƣờng nảy sinh khi

83



chính phủ đã thu nhiều thuế hơn mức cần thiết từ tiền lƣơng của ngƣời nộp

thuế hoặc thếu tạm tính bị sai. Trong trƣờng hợp ngƣời nộp thuế phát hiện

thuế tính sai thì có thể nộp yêu cầu hoàn thuế cho IRS trong vòng 3 năm kể từ

ngày nộp tờ khai hay 2 năm kể từ ngày chi trả tiền thuế.

Ví dụ: Chị Phƣơng Ca, ở Garland, độc thân, mới tốt nghiệp ra trƣờng

kể: “Năm 2006, tôi chỉ đi làm có 4 tháng, nộp thuế chƣa đầy 350USD nhƣng

sau khi khai thuế tôi đƣợc trả lại hơn 200USD. Rồi Sở thuế xét thấy thu nhập

(income) của tôi quá thấp nên tiếp tục gửi thêm cho tôi 350USD nữa. Thế là

tôi có lãi”. Có nhiều trƣờng hợp khác, bạn có tổng thu nhập cao hơn so với

mức sàn quy định thuế thì bạn sẽ đƣợc yêu cầu đóng thêm (Thí dụ: luật thuế

quy định ngƣời có thu nhập 60.000USD/năm phải đóng 5.000USD nhƣng bạn

có thu nhập năm nay là 70.000USD thì phải đóng thuế thêm của phần

10.000USD; hoặc bạn khai chƣa đủ tổng thu nhập vì lý do muốn trốn thuế

hoặc vì một lý do nào đó đã bị Sở thuế vụ truy ra).

Những ngƣời có gia đình hoặc phải nuôi ngƣời khác sẽ đƣợc trừ thuế

thấp hơn ngƣời sống độc thân và cơ hội hoàn thuế của họ cũng cao hơn nếu

những ngƣời họ trực tiếp nuôi dƣỡng hoàn toàn không có thu nhập.

Thật ra, ngƣời dân cũng rất mù mờ về việc tính thuế vì mỗi ngƣời phải

chịu một mức thuế khác nhau do tình trạng cá nhân và các thành viên quan hệ

trong gia đình có liên quan hoặc có thu nhập thấp hay cao so với quy định và

Sở thuế có công thức tính thuế nên họ sẽ đƣa ra quyết định cuối cùng. Nhƣng,

việc thực hiện nghĩa vụ công dân của họ đối với nhà nƣớc cho thấy những

mặt tích cực thể hiện cụ thể: Ai thiếu cho thêm, ai dƣ thì lấy bớt, đồng thời

thể hiện mối tƣơng quan tƣơng tác giữa chính phủ và ngƣời dân đƣợc thể hiện

tích cực qua các chƣơng trình an sinh xã hội.

Dù có mức lƣơng cao hay thấp ngƣời dân Mỹ thƣờng tham gia đóng

thuế lợi tức an sinh xã hội để Chính phủ Mỹ có thể kiểm soát và điều chỉnh

mức sống của ngƣời dân phù hợp với mức sống của xã hội. Hơn nữa, việc

84



đóng thuế an sinh xã hội không chỉ tạo sự an toàn về phúc lợi hƣu trí trong

tƣơng lai cho công nhân viên và gia đình của họ mà còn đảm bảo phúc lợi an

sinh xã hội vì tàn tật và phúc lợi sinh tồn cho những ngƣời thân trong gia đình

khi xảy ra trƣờng hợp không may về thƣơng tích hoặc tử vong. Năm 2006,

phúc lợi tàn phế cho công nhân viên, ngƣời hôn phối hay con cái của họ trung

bình 1.571USD/tháng/ngƣời.



1.1.3. Kiểm toán

Kiểm toán Thuế Thu nhập cá nhân là một cuộc điều tra chính thức của

IRS để xác minh xem ngƣời khai thuế có khai đúng các khoản thu nhập, giảm

trừ, khấu trừ... trên tờ khai thuế hay không. Phần lớn những tờ khai đƣợc chọn

để kiểm toán thông qua một chƣơng trình máy tính để xác định xem những tờ

khai nào có khả năng mắc lỗi lớn nhất. Những tờ khai này thƣờng phải nộp

thêm thuế. Một khi đƣợc chọn, tờ khai sẽ đƣợc một cơ quan xem xét để xác

định nó có khả năng mắc lỗi đến mức nào, trƣớc khi bắt đầu quá trình kiểm

toán. Một số tờ khai lại đƣợc chọn một cách ngẫu nhiên theo một chƣơng

trình nghiên cứu và đánh giá tính cách của ngƣời nộp thuế. Một số tờ khai

khác lại đƣợc chọn vì ngƣời nộp thuế đã bị điều tra về việc trốn thuế hay đang

nằm trong vùng nghi vấn của IRS. Chi phí cho việc kiểm toán thuế không tự

động làm tăng nghĩa vụ thuế phải nộp, tuy nhiên cũng rất ít những vụ kiểm

toán dẫn đến kết quả là hoàn thuế cho ngƣời nộp.

Ngƣời nộp thuế sẽ đƣợc thông báo qua thƣ rằng tớ khai của mình sẽ đƣợc

kiểm toán. Việc điều tra kiểm toán sẽ đƣợc tiến hành bởi văn phòng IRS tại địa

phƣơng nơi nộp tờ khai. Tuy nhiên, nó cũng có thể tiến hành tại nhà hoặc nƣoi

kinh doanh của ngƣời nộp thuế, trong văn phòng của luật sƣ, kế toán của ngƣời

nộp hoặc thông qua thƣ từ. Nếu các chứng từ sổ sách dùng cho mục đích xác

định thuế đƣợc lƣu giữ ở một nơi khác, cuộc điều tra sẽ đƣợc chuyển sang nơi

đó.



85



Ngƣời nộp thuế có thể tự biện hộ hoặc nhờ sự trợ giúp của một luật sƣ,

một kế toán đƣợc cấp chứng chỉ hoặc một ngƣời đã kê khai và ký vào tờ khai

với tƣ cách là ngƣời khai. Trong trƣờng hợp ngƣời nộp thuế đã kết hôn và

khai chung thu nhập thì một trong hai ngƣời hoặc cả ngƣời đều có thể tham

gia. Ngƣời nộp thuế sẽ đƣợc thông báo về những chứng từ cần mang theo để

làm rõ vấn đề nghi vấn.

Đôi khi tờ khai thuế của một ngƣời có thể bị kiểm toán hàng năm với

những vấn đề giống nhau. Nếu nhƣ tờ khai của ngƣời đó đã đƣợc kiểm toán

trong một hoặc 2 năm trƣớc mà không phát hiện ra sai sót gì thì ngƣời đó có

quyền thông báo lên IRS để đình chỉ ngƣời kiểm toán và tạm ngừng việc kiểm

toán hồ sơ. Tuy nhiên, nếu nhƣ việc chọn lựa kiểm toán tờ khai đó đƣợc chọn

lựa và giao cho ngƣời kiểm toán một cách ngẫu nhiên thì ngƣời kiểm toán

không phải chịu trách nhiệm gì cả.

Một khi quá trình kiểm toán đã hoàn tất, ngƣời kiểm toán sẽ đƣa ra những

kiến nghị thay đổi trong nghĩa vụ nộp thuế và lý giải cho những thay đổi đó. Hầu

hết quá trình kiểm toán đều kết thúc ở giai đoạn này. Tuy nhiên, nếu ngƣời nộp

thuế không đồng ý với kiến nghị đó thì có thể yêu cầu gặp ngay một chuyên viên

cao cấp để trình bày về vấn đề của mình. Nếu chuyên viên và ngƣời nộp thuế có

thể thống nhất với nhau, sự việc đƣợc hoàn tất. Nếu nhƣ 2 ngƣời không đạt đƣợc

thoả thuận hoặc việc kiểm toán không phải do IRS thực hiện thì ngƣời nộp thuế

sẽ nhận đƣợc một công văn trong đó ghi rõ họ có quyền kiện trƣớc cơ quan thuế

trong vòng 30 ngày, và một bản copy báo cáo giải thích nguyên nhân của sự điều

chỉnh nghĩa vụ thuế. Ngƣời nộp thuế nên đƣa vụ việc tới cấp cao hơn của IRS

trƣớc khi đƣa vụ việc ra toà, mặc dù học hoàn toàn có quyền đến thẳng toà án.

Có 2 cấp để kiện tại IRS: với nhân viên hội đồng quận và phòng phúc

thẩm. Hội đồng quận là cấp đầu tiên để kiện những vấn đề liên quan đến phát hiện

của ngƣời kiểm tra, mặc dù ngƣời nộp thuế có thể bỏ qua bƣớc này và nộp trực

tiếp lên phòng phúc thẩm. Nếu ngƣời nộp thuế vẫn cảm thấy bất mãn sau khi gặp

86



hội đồng quận thì có thể đƣa vụ việc lên phòng phúc thẩm. Nếu sau cả 2 cấp này

mà vẫn không đạt đƣợc sự đồng thuận thì ngƣời này có thể đem vụ việc ra toà.

Để đƣa vụ việc lên cấp phúc thẩm, ngƣời nộp thuế buộc phải nộp bản

kháng nghị cho phòng phúc thẩm (Bản kháng nghị này là bắt buộc và phải

đƣợc nộp trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đƣợc công văn và phải thể hiện

rõ vấn đề ngƣời nộp thuế muốn kiện, những năm tính thuế liên quan, danh

sách những đề xuất mà ngƣời đó không đồng ý, những thông tin liên quan đến

tình trạng của ngƣời nộp thuế, chỉ rõ điều luật hay căn cứ pháp lý nào khác

mà ngƣời nộp thuế lấy làm cơ sở. Bản kháng nghị phải đƣợc ký tên rõ ràng,

kèm với lời khẳng định rằng đó hoàn toàn là sự thật, nếu có bất kỳ điều gì sai

trái thì sẽ phải chịu hình phạt); trừ khi đề xuất thay đổi mức thuế không quá

2.500$ cho bất kỳ kỳ tính thuế nào và ngƣời nộp thuế đã kiện trƣớc hội đồng

quận. Một khi bản kháng nghị đã đƣợc nộp cho hội đồng quận, ngƣời nộp

thuế không cần phải nộp bất kỳ giấy tờ nào cho phòng phúc thẩm nữa.

Nếu nhƣ sau khi kiện tại hội đồng quận hoặc phòng phúc thẩm mà

tranh chấp vẫn chƣa đƣợc giải quyết; hoặc nếu ngƣời nộp thuế đã bỏ qua 2

cấp này thì ngƣời nộp thuế có thể đƣa vụ việc lên Toà án Thuế của Mỹ (the

U.S. Tax Court), Toà án đòi tiền của Mỹ (the U.S. Claims Court) hoặc Toà án

Địa phƣơng (the U.S. District Court). Các vụ kiện có thể đƣa lên cấp cao nhất

là Toà án Tối cao (Supreme Court).

Phần lớn tranh chấp với IRS đƣợc giải quyết bằng thủ tục hành chính.

Tranh chấp có thể phát sinh do ngƣời nộp thuế tin rằng anh ta có sai sót trong

bảng kê và yêu cầu hoàn thuế, và một trƣờng hợp rất hay gặp là khi Cục thuế

kiểm toán bản kê và phát hiện thuế nộp thiếu. Hầu hết các tranh chấp đều

đƣợc giải quyết trƣớc khi ra toà, đặc biệt là những tranh chấp của những đối

tƣợng nộp thuế có số tiền thuế lớn. Nếu ra toà, các vụ này đƣợc xét xử bởi

một trong toà án liên bang nhƣ sau: toà án hạt liên bang (toà có thẩm quyền

tài phán chung), hay Toà khiếu nại (toà chuyên ngành), cả hai toà này đều yêu

87



cầu ngƣời nộp thuế phải trả phí đánh giá và kiện tụng để đƣợc hoàn thuế; và

toà thứ ba là Toà án Thuế, đây là một toà chuyên ngành, chỉ xử những vụ

trong đó chính quyền nộp thuế thiếu, còn ngƣời nộp thuế muốn xét xử trƣớc

khi nộp. Nếu toà ra lệnh ngƣời nộp thuế phải nộp thêm, hay chính quyền phải

hoàn thuế, thì đƣợc tự động tính thêm lãi suất để làm giảm tác động của chênh

lệch thời gian thanh toán. Kháng cáo kháng nghị từ các toà án này đƣợc xét

xử tại các toà phúc thẩm lƣu động và cuối cùng là tại Toà tối cao. (Toà tối cao

rất ít khi xét xử các vụ về thuế).

Toà án thuế: Ngƣời nộp thuế có thể kiện lên Toà án Thuế nếu nhƣ tranh

chấp có liên quan đến những vấn đề về xác định thu nhập chịu thuế, thuế bất

động sản hoặc thuế quà tặng. Ngƣời nộp thuế phải yêu cầu IRS phát hành một

công văn chính thức gọi là thông báo thiếu thuế chính thức (về số tiền thuế

phải đóng và phải nộp); một đơn kiến nghị cho Toà án trong vòng 90 ngày, kể

từ thời điểm thông báo đƣợc gửi đi hoặc 150 ngày nếu phải gửi đến một địa

chỉ ở nƣớc ngoài. Nếu ngƣời nộp thuế nộp đơn muộn thì nghĩa vụ thuế sẽ

đƣợc tự động áp dụng cho ngƣời đó, một khi thuế đã đƣợc xác định và thông

báo đã đƣợc gửi đi. Ngƣời nộp thuế buộc phải thanh toán số tiền thuế này

trong vòng 10 ngày, nếu không trả xong trong thời gian quy định, thì số tiền

đó sẽ ngay lập tức trở thành khoản bắt buộc phải nộp và có thể nộp tăng thêm

nếu nhƣ nộp trễ. Điều này là bắt buộc, cho dù ngƣời nộp thuế cho rằng số tiền

đó là không hợp lý. Ngoài ra, ngày hầu toà của ngƣời nộp thuế cũng sẽ đƣợc

ấn định. Trƣờng hợp mà số tiền nộp thuế nhỏ hơn 5.000$ thì thủ tục có thể

đơn giản hơn. Thay vì đƣa ra toà án Thuế, có thể đƣa ra một toà án nhỏ hơn

dành cho các vụ kiện thuế có giá trị nhỏ.

Toà án địa phƣơng và toà án đòi tiền: ngƣời nộp thuế có thể yêu cầu

đƣợc hoàn thuế nếu nhƣ sau khi nộp thuế, ngƣời đó cho rằng mình đã nộp thừa

so với mức cần thiết. Ngƣời nộp thuế có thể nộp đơn xin hoàn thuế tại Toà án

địa phƣơng hoặc toà án đòi tiền nếu nhƣ IRS không xử lý yêu cầu đó trong

88



vòng 6 tháng. Những toà án này chỉ xử những vụ kiện thuế khi ngƣời yêu cầu

đã nộp thuế và đã nộp đơn yêu cầu hoàn thuế. Đơn yêu cầu hoàn thuế phải

đƣợc nộp trong vòng 2 năm kể từ ngày IRS từ chối yêu cầu hoàn thuế của

ngƣời nộp thuế.

Quá trình khai thuế, tính thuế TNCN:

Quá trình tính thuế bắt đầu từ khi một ngƣời bắt đầu công việc mới của

mình. Anh ta và ngƣời thuê lao động đã nhất trí về lƣơng bổng của anh, và

khoản tiền này sẽ đƣợc tính vào tổng thu nhập của anh vào thời điểm cuối năm.

Một trong những điều đầu tiên mà anh ta phải làm khi đƣợc tuyển dụng là phải

điền vào tất cả những biểu mẫu thuế, bao gồm W-4 form. Trên W-4 form sẽ liệt

kêt tất cả những khoản giảm trừ mà anh ta đƣợc nhận, nhƣ số ngƣời phụ thuộc

và chi phí chăm sóc con cái... thông tin này sẽ giúp ngƣời thuê lao động biết cần

phải lấy bao nhiêu tiền trong số tiền lƣơng để nộp thuế thu nhập liên bang đồng

thời ngƣời lao động khi đƣợc tuyển dụng và nhận lƣơng cũng sẽ tự tính đƣợc

mình phải trả bao nhiêu thuế. Bạn nên kiểm tra lại biểu mẫu này hàng năm, vì

tình trạng nộp thuế của bạn có thể thay đổi từ năm này qua năm khác.

Nếu bạn lĩnh lƣơng bằng tiền mặt còn có thể trốn thuế nhƣng nếu ngƣời

chủ thuê bạn làm việc có khai tên bạn vào danh sách nhân viên làm thuê cho

cơ sở của họ thì bạn hãy nhanh chân thực hiện nghĩa vụ thuế ngay, nếu không

thì lý lịch cá nhân của bạn do liên bang quản lý sẽ bị ghi chú: “Đã từng trốn

thuế”. Và, mãi nhiều năm sau bạn vẫn bị nhận giấy đòi nợ về khoản trốn thuế.

Nhƣ vậy, cơ hội đƣợc hƣởng các nguồn phúc lợi an sinh xã hội của bạn khi

thất nghiệp hay khi hoàn cảnh sống khó khăn sẽ bị ảnh hƣởng rất nhiều.

Nghiêm trọng hơn nữa, ngƣời trốn thuế có thể bị phạt tù đến 5 năm,

đồng thời bị phạt tiền đến 100.000USD cho một năm họ trốn thuế và theo cấp

số nhân nếu trốn thuế nhiều năm. Mỗi năm, Sở thuế của Mỹ chỉ truy tố khoảng

3.000 trƣờng hợp trốn thuế trong khoảng 174 triệu hồ sơ khai thuế, tuy nhiên,

vẫn có khoảng 7,4 triệu cá nhân bị phạt vì những lý do nhƣ đóng thuế trễ hạn,

89



khai gian, đóng thuế bằng séc “lủng” (ký ngân phiếu nhƣng không còn tiền

trong tài khoản ở ngân hàng)... Năm 2005, có khoảng 27.000 ngƣời ra hầu tòa

vì những tội liên quan đến thuế. Trƣờng hợp nghiêm trọng, đối tƣợng trốn thuế

có thể bị tịch thu nhà, xe, tài sản cá nhân, niêm phong tài khoản trong ngân

hàng, cắt tiền lƣơng tại nơi đang làm việc... Tuy nhiên sở thuế cũng rất khoan

dung và sẵn sàng “mở lối thoát” cho ngƣời trả thuế nào cộng tác tốt bằng cách

trình bày, thảo luận thẳng thắn, rõ ràng về nguyên nhân nợ thuế.

Trình tự xác định thuế thu nhập cá nhân:

Tại thời điểm kết thúc mỗi kỳ trả lƣơng, công ty của anh ta sẽ giữ lại số

tiền thếu phải nộp, cùng với số tiền phải nộp của các nhân viên khác, và gửi

số tiền này vào Federal Reserve Bank - ngân hàng dữ trự liên bang. Đây là

cách chính phủ có đƣợc luồng thu nhập đều đặn trong khi thu lãi suất từ

khoản tiền thuế.

Trƣớc khi kết thúc năm tính thuế, công ty của ngƣời lao động sẽ gửi

cho anh ta biểu mẫu W-2 form - việc này phải hoàn thành trƣớc ngày 31/1.

Trong biểu mẫu ngƣời này sẽ phải kê khai chi tiết số tiền mình kiếm đƣợc

trong suốt năm ngoái và số tiền mà thuế liên bang đã thu từ thu nhập của anh

ta. Những thông tin này cũng có thể tìm thấy trong ngân phiếu của ngƣời này

nhƣng anh ta sẽ phải gửi biểu mẫu W-2 form tới IRS.

Trong khoảng thời gian anh ta nhận đƣợc W-2 form cho đến ngày 15

tháng 4, anh ta sẽ phải khai báo và gửi khoản thuế của mình đến một trong

những trung tâm dịch vụ của IRS. Ngay khi IRS nhận đƣợc khoản tiền nộp

thuế của anh ta, một nhân viên của IRS sẽ nhập mọi thông tin của anh ta vào

biểu thuế của anh ta và lƣu trữ lại. Nếu anh ta đƣợc nhận một khoản hoàn thuế,

anh ta sẽ đƣợc nhận đƣợc séc hoàn thuế trong vài tuần tiếp theo. Nếu anh ta sử

dụng e-File (bộ phần mềm quản lý lƣu trữ) or TeleFile (phần mềm quản lý

thuế) thì khoản hoàn thuế sẽ đƣợc gửi thẳng vào tài khoản ngân hàng của anh

ta.

90



1.2. Những ƣu điểm và nhƣợc điểm của quá trình triển khai Luật Thuế

TNCN Mĩ.

Ƣu điểm

Các phần mềm hỗ trợ: Chƣơng trình AMT Assistant nhằm giúp những

ngƣời nộp thuế xác định xem họ có phải nộp thuế này hay không. Sử dụng

phần mềm này rất dễ dàng, ngƣời nộp thuế chỉ cần trả lời một số câu hỏi đơn

giản liên quan đến những thông tin mà họ đã khai trong tờ khai thuế thu nhập

cá nhân Form 1040 và chƣơng trình sẽ làm tất cả những công việc còn lại. Kết

quả này đã đƣợc hiện lên ngay lập tức trên màn hình vi tính. Dựa trên những

thông tin mà ngƣời nộp thuế nhập vào, kết quả này sẽ chỉ rõ nếu nhƣ ngƣời đó

không phải nộp AMT hoặc phải điền Form 6251 và nộp thuế AMT. Những

thông tin mà ngƣời này nhập vào chƣơng trình sẽ hoàn toàn vô danh và chỉ

đƣợc dùng để xác định trách nhiệm nộp thuế của ngƣời này. Tất cả những

thông tin này sẽ tự động đƣợc xoá đi ngay khi ngƣời này thoát ra hoặc khởi

động lại chƣơng trình. Chƣơng trình này có thể đƣợc sử dụng cho đối tƣợng là

cá nhân hoặc tổ chức. Hầu hết những ngƣời đã sử dụng phần mềm này đều có

thể hoàn thành trong vòng 5 đến 10 phút.

Nhƣợc điểm

Việc diễn giải từng nội dung tính thuế hay miễn thuế thu nhập cá nhân

của Mỹ rất tỉ mỉ. Chẳng hạn, chỉ riêng mục giải thích các khoản khấu trừ về

chi phí y tế, răng, v.v.. nằm trong Đề mục 26, Tiểu mục A, Chƣơng 1, Phụ

chƣơng B, Phần VII, Tiết 213, đã dài gần 1.500 từ ! Chính vì thế, nếu không

thể tự tính thuế, phải thuê ngƣời giúp khai thuế (tax preparers); phải mua

sách, phần mềm hoạt động tính thuế thu nhập cá nhân, các khoản phí ấy đƣợc

khấu trừ theo luật, nhƣng không vƣợt quá 2% AGI (adjusted gross income:

tổng thu nhập đã điều chỉnh) của ngƣời đóng thuế.

Hệ thống thuế quá phức tạp khiến cho nền kinh tế Mỹ, bao gồm các hộ

gia đình, các tổ chức kinh doanh và chính phủ liên bang tiêu tốn khoảng 150

91



tỷ USD để đảm bảo rằng thuế đƣợc thu một cách đầy đủ. Số tiền này còn lớn

hơn toàn bộ chi phí dành cho việc mua sắm ti vi, đồ điện gia dụng hay ngũ

cốc. Có lẽ không có bằng chứng nào về sự phức tạp của thuế Thu nhập cá

nhân Mỹ rõ ràng hơn sự lo lắng của ngƣời dân Mỹ vào tháng 4, khi những

hạn cuối của việc khai nộp thuế Thu nhập cận kề. Họ phải đi tìm lại vô số

những giấy tờ liên quan đến các khoản thu nhập, hoạt động kinh doanh, chi

phí… mà hiện đã không còn giá trị gì nữa. Sau đó ngƣời nộp thuế phải đọc

những trang hƣớng dẫn khai nộp thuế dài dằng dặc mà ngay cả những giáo sƣ

tại trƣờng đại học cũng phải đọc đi đọc lại nhiều lần. Những hƣớng dẫn này

bao gồm rất nhiều bảng kê khai và các biểu thức tính toán phức tạp. Cuối

cùng thì quá trình này có thể kết thúc khi ngƣời nộp thuế từ bỏ và tìm đến một

ngƣời khai thuế chuyên nghiệp để nhờ hộ xử lý tất cả những công đoạn phức

tạp này, và tất nhiên, phải trả khoản tiền nhất định.

Dù thu nhập của ngƣời nộp thuế là bao nhiêu thì việc hoàn tất các thủ

tục về thuế thu nhập đối với họ cũng là quá phức tạp. Theo một cuộc điều tra

gần đây đối với những đối tƣợng có thu nhập thấp hơn 20.000$ (thƣờng là

những hộ gia đình có mức khai thuế đơn giản nhất), có đến 80% số ngƣời

đƣợc hỏi cho rằng luật thuế là phức tạp hoặc qúa phức tạp. Con số này còn lên

đến gần 100% đối với những ngƣời có mức thu nhập trên 150.000$. Thậm chí

có đến gần 1/3 số ngƣời đƣợc hỏi cho rằng việc hoàn thành bản khai thuế

hàng năm còn vất vả hơn là phải trả các khoản tiền thuế ấy.

Chỉ với một mục rất cơ bản là tính ra tác động của thuế đối với việc có

một đứa con, ngƣời nộp thuế cũng phải xem rất nhiều quy tắc và hoàn thành

nhiều phép tính khác nhau. Ví dụ nhƣ để xem xét xem liệu mình có đƣợc

hƣởng tín dụng thuế đối với một đứa trẻ hay không, ngƣời nộp thuế phải điền

vào 8 dòng trong tờ khai thuế, thực hiện 5 phép tính và hoàn tất 3 tờ khai nữa.

Việc xác định các khoản mục khác cũng không kém phần phức tạp, nhƣ tính

xem liệu ngƣời nộp thuế có đƣợc coi là chủ hộ gia đình hay không, chi phí

92



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III. BIỆN PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(128 tr)

×