1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 128 (trang)
SƠ LƯỢC VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

SƠ LƯỢC VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Tải bản đầy đủ - 128trang

Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã áp dụng thuế TNCN. Các

quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng phát triển đều coi thuế TNCN là một trong

những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân

sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.



1.1.2. Thuế TNCN ở Việt Nam.

Thời kỳ phong kiến:

Ở Việt Nam trƣớc đây, trên 90% dân số là nông dân. Hai sắc thuế chủ

yếu với ngƣời nông dân là thuế ruộng (thuế điền) và thuế thân (thuế đinh).

Thuế ruộng đã có từ thời nhà Ngô nhƣng đến các thời nhà Lý, Trần, Hồ mới

đƣợc quy định rõ ràng, chặt chẽ. Thuế thân thực chất là thuế thu nhập đến thời

nhà Trần mới ra đời.

Thời nhà Trần: thuế thân mang tính chất là thuế TNCN bắt đầu xuất

hiện ở Việt Nam, đƣợc ban hành từ năm 1378. Thuế áp dụng với mọi công

dân là nam giới từ 18 tuổi trở lên và còn đƣợc gọi là thuế đinh (thuế đánh theo

đầu ngƣời). Bƣớc đầu thuế thân thu 3 quan tiền/suất đinh, tƣơng đƣơng 54kg

thóc. Thuế ruộng tƣ thu từ 42 đến 459kg thóc/ha theo lũy tiến.2

Sau đó là thời nhà Hồ, nhà Lê (năm 1470) và nhà Lê Trịnh (năm 1670)

đều áp dụng thuế thân - dạng sơ khai nhất của thuế TNCN ở nƣớc ta, tuy

nhiên với những mức thuế suất khác nhau. Và đến năm 1772 thuế thân đƣợc

điều chỉnh lại là 40kg thóc/suất (khoảng 3,9% sản lƣợng nông nghiệp/mẫu

bắc bộ). Riêng phần thuế ruộng động viên khoảng 7 - 8% sản lƣợng nông

nghiệp.3

Thời nhà Nguyễn và Pháp đô hộ:

Về cơ bản thời nhà Nguyễn vẫn giữ nguyên các sắc thuế nhƣ đã có

dƣới các triều đại phong kiến trƣớc, trong đó có thuế thân và còn đƣa ra thêm

Trích sách Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hƣớng vận dụng ở Việt Nam- PGS.TS Lê Văn Ái,

TS Đỗ Đức Minh.

3

Nhƣ 2

2



7



các loại thuế khác. Nhìn chung thuế dƣới triều Nguyễn là nặng nề phức tạp

mang tính vơ vét, bóc lột. Ngoài ra còn do hệ thống quan lại tham nhũng từ

trên xuống dƣới, thu trực tiếp hoặc qua đấu thầu lạm bổ, sách nhiễu nhân dân,

dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy chống thuế.

Và dƣới thời Pháp thuộc chế độ thuế thân là một chế độ thuế gian lận

và tùy tiện, là thuế lũy tiến ngƣợc với tài sản. Tình trạng này gây ra những lời

phê bình, ca thán vô cùng thống thiết dƣới thời Pháp thuộc.

Tóm lại, chính sách thuế thân dƣới các triều đại phong kiến và nhất là

dƣới thời Pháp thuộc là một mối kinh hoàng của ngƣời nông dân Việt Nam, là

một thứ thuế bất công đánh đồng loạt vào ngƣời giàu lẫn ngƣời nghèo, là thứ

thuế mà mọi ngƣời mong muốn xóa bỏ. Tuy có nhiều nhƣợc điểm nhƣng một

điểm đáng lƣu ý là một dạng của thuế - sơ khai thuế TNCN đã có mặt ở Việt

Nam khá lâu dƣới cái tên “thuế đinh” và trong điều kiện xã hội có nền kinh tế

chƣa phát triển cũng có thể đặt ra thuế TNCN.

Thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nƣớc.

Ở miền Bắc: Sau thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945, Hồ Chủ Tịch

đã ký sắc lệnh 11- SL, trong đó chế độ thuế thân đánh vào đầu ngƣời đã đƣợc

bãi bỏ, giải phóng nhân dân khỏi tấm thẻ sƣu đã bao năm ràng buộc ngƣời

dân Việt Nam.

Ở miền Nam: Dƣới thời chính quyền Sài Gòn trƣớc năm 1975 có thuế

lợi tức mang tính chất là một loại thuế đánh vào thu nhập của cả thể nhân và

pháp nhân. Trong đó thuế lợi tức đối với thể nhân chính là dạng tƣơng tự của

thuế TNCN thể hiện ở: (1) Thu nhập chịu thuế: là thu nhập từ lao động nhƣ

lao động từ tiền lƣơng, tiền công, thu nhập về bản quyền phát minh, nhãn hiệu

hàng hóa, phụ cấp tiền thƣởng... (2) Lợi tức chịu thuế (hay thu nhập chịu

thuế) cũng đƣợc xác định là thu nhập sau khi đã trừ đi một số khoản chi phí

hợp lý nhất định. Đó là tổng thu nhập nhận đƣợc trừ bớt đi các chi phí tạo ra

thu nhập, sau đó thu nhập chịu thuế còn đƣợc trừ tiếp một số khoản tùy theo

8



gia cảnh của hộ nộp thuế nhƣ chi phí nuôi dƣỡng con, cha mẹ và một số

khoản có tính chất xã hội khác để xác định thu nhập chịu thuế. (3) Phƣơng

pháp đánh thuế theo hộ gia đình: đó là thu nhập thuần tính chung của cả gia

đình, cũng quy định mức thuế suất, thủ tục hành thu... (4) Thuế suất, biểu thuế

suất: Thuế suất đƣợc áp dụng là thuế suất theo tỷ lệ %, biểu thuế lũy tiến theo

từng phần gồm 7 bậc từ 10-70% đối với các thể nhân có trụ sở tại Việt Nam.

Đối với các thể nhân không có trụ sở tại Việt Nam áp dụng một thuế suất duy

nhất là 40%.

Sau khi thống nhất đất nƣớc, nhà nƣớc ta đã bãi bỏ chế độ thuế TNCN

của chính quyền Sài Gòn cũ. Tuy nhiên phải đánh giá rằng luật thuế TNCN

của chính quyền Sài Gòn cũ là luật thuế TNCN khá chặt chẽ, phù hợp với chế

độ thuế TNCN của các nƣớc có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trƣờng

nhƣng mới chỉ đáp ứng đƣợc một phần của một luật thuế TNCN hoàn chỉnh.

Sau năm 1975

Vào ngày 01/4/1991 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu

nhập cao đã đƣợc ban hành và áp dụng nhƣ luật thuế TNCN hoàn chỉnh, đầu

tiên ở Việt Nam. Pháp lệnh tồn tại khá lâu (có hiệu lực trong thời gian 18 năm

từ năm 1991 đến hết năm 2008), đã có sửa đổi bổ sung 7 lần cho hoàn chỉnh

hơn vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999, 2001 và 2004. Tuy còn một

số điểm bất hợp lý nhƣng Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập

cao đã có những đóng góp vô cùng quan trọng trong quá trình bƣớc đầu tiến

hành áp dụng thuế TNCN tại Việt Nam.

Sau 18 năm tồn tại, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập

cao đã bị thay thế bởi Luật thuế TNCN đƣợc Quốc hội khoá 12 thông qua

ngày 21/11/2007 và đã có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2009 vừa qua.

Đây đƣợc đánh giá là Luật về thuế TNCN hoàn chỉnh nhất ở Việt Nam từ

trƣớc đến nay, và đƣa luật thuế TNCN của Việt Nam gần với xu hƣớng thuế

TNCN trên thế giới hơn. Tuy luật thuế TNCN đƣợc đánh giá là có nhiều điểm

9



tiến bộ nhƣng thực tế quá trình triển khai áp dụng Luật thuế này vẫn gặp khá

nhiều vấn đề khó khăn cần đƣợc khắc phục.

1.2. Khái niệm thu nhập và thuế TNCN

Định nghĩa Thuế TNCN.

Về nguyên tắc bất cứ một cá nhân hay pháp nhân nào khi nhận đƣợc

thu nhập dƣới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn

nào (do lao động hay đầu tƣ…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp

cho nhà nƣớc dƣới dạng thuế thu nhập.

Có thể chia thuế thu nhập thành 2 loại chính đó là: Thuế đánh vào thu

nhập của cá nhân, đƣợc gọi là thuế TNCN và thuế đánh vào thu nhập của pháp

nhân thì đƣợc gọi là thuế doanh nghiệp, thuế sự nghiệp, thuế lợi nhuận… Ở Việt

Nam hiện nay tồn tại 2 loại thuế thu nhập đó là: thuế TNCN và thuế TNDN.

Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân

trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).4

Thuế TNCN là thuế trực thu vì ngƣời nộp thuế và ngƣời phải chi tiền

đóng thuế là một (hay không có sự chuyển dịch đối tƣợng nộp thuế). Ở nhiều

nƣớc, bất cứ cá nhân nào cũng phải đóng thuế TNCN. Đứng từ góc độ lý thuyết

chuẩn tắc của kinh tế học công cộng thì hễ chủ thể kinh tế nào tiêu dung hàng

hóa công cộng thì đều phải nộp thuế bất kể thu nhập của anh ta dù nhiều hay ít

(đánh thuế theo lợi ích). Song thực tế việc thu thuế từ những ngƣời có thu nhập

thấp hơn một ngƣỡng nhất định có thể không đem lại nhiều lợi ích so với chi phí

kỹ thuật cho việc thu thuế. Do đó theo nguyên tắc về “tính đơn giản” của thuế,

nhiều nƣớc áp dụng thuế suất 0% đối với nhóm ngƣời này, hay nói cách khác chỉ

thu thuế từ những ngƣời có thu nhập cao hơn một ngƣỡng nhất định.

Cơ sở xây dựng chính sách thuế TNCN.



4



Như chú thích 2



10



Ở mỗi nƣớc, Luật thuế TNCN đƣợc xây dựng khác nhau tùy theo tính

đặc thù của từng nƣớc. Bởi vậy, giữa các nƣớc khác nhau sẽ có sự biệt trong

việc xác định thu nhập chịu thuế, thuế suất, các trƣờng hợp miễn giảm thuế…

Tuy nhiên khi xây dựng chính sách thuế TNCN các quốc gia đều quan tâm

giải quyết các vấn đề sau đây:

Xác định thu nhập chịu thuế:

Xác định đúng đắn thu nhập chịu thuế là cơ sở tính thuế thu nhập chính

xác. Thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong kỳ tính thuế là tổng thu nhập

trừ đi tổng các khoản đƣợc giảm trừ. Tổng thu nhập của một đối tƣợng tính

thuế sẽ không bao gồm những khoản miễn thuế. Để xác định tổng thu nhập

cần phải xác định từng khoản cấu thành tổng thu nhập theo từng loại thu nhập

cụ thể, tức là xem xét tổng thu nhập đƣợc hình thành từ những nguồn nào.

Tuy nhiên không phải mọi khoản thu nhập của ngƣời nộp thuế đều đƣa vào

đối tƣợng tính thuế. Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thu nhập

không đƣa vào đối tƣợng đánh thuế.

Muốn xác định thu nhập chịu thuế chính xác cần phải xem xét các vấn

đề nhƣ

 Nguồn gốc của thu nhập: Thu nhập của cá nhân có thể phân thành các

nguồn cơ bản nhƣ: Thu nhập từ lao động (giữ vị trí quan trọng và

chiếm tỷ trọng khá lớn trong thu nhập chịu thuế ở các nƣớc phát triển:

tiền lƣơng, các khoản trợ cấp do ngƣời chủ lao động cung cấp phục vụ

lợi ích của ngƣời làm công, các khoản bồi hoàn…); phúc lợi của ngƣời

làm công (thông thƣờng nhƣ nhà ở, sử dụng phƣơng tiện đi lại do ngƣời

chủ lao động cung cấp…); thu nhập từ hoạt động kinh doanh; thu nhập

từ vốn, tài sản hay gọi là thu nhập từ đầu tƣ; các khoản thu nhập bất

thƣờng khác.

 Đánh thuế trên cơ sở cƣ trú hay nguồn phát sinh thu nhập: (1) Hệ thống

thuế dựa vào tình trạng “cƣ trú” đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới.

11



Theo hệ thống này, các cá nhân cƣ trú ở một nƣớc phải nộp thuế tại

nƣớc đó và đánh trên mọi khoản thu nhập từ khắp nơi trên thế giới; còn

những cá nhân không cƣ trú chỉ bị đánh thuế trên phần thu nhập phát

sinh tại nƣớc đó. Khái niệm cƣ trú đƣợc quy định khác nhau ở các nƣớc

khác nhau. Thuế TNCN của Việt Nam cũng áp dụng cơ sở đánh thuế là

tình trạng “cƣ trú”. (2) Ngoài ra cơ sở thứ hai đƣợc dựa vào để xác định

nghĩa vụ nộp thuế là “nguồn phát sinh thu nhập”. Nếu áp dụng theo cơ

sở này thì các cá nhân chỉ phải nộp thuế TNCN đối với khoản thu nhập

phát sinh tại nƣớc sở tại mà không phải nộp thuế thu nhập đối với

những khoản thu nhập phát sinh ở nƣớc ngoài. Cách đánh thuế này

thích hợp với những nƣớc có nhiều ngƣời nƣớc ngoài đến làm việc và

đầu tƣ còn bản thân công dân của nƣớc đó ít đi làm hoặc đầu tƣ ở nƣớc

ngoài.

 Xác định thời gian tính thuế thu nhập: Xác định đúng đắn thời điểm để

tính thuế thu nhập là vấn đề vô cùng quan trọng trong quá trình xây

dựng và thực thi luật thuế. Bởi vì một đối tƣợng nộp thuế có thu nhập

liên tục thì thời điểm tính thuế đƣợc xác định là thời điểm nào. Xác

định đúng thời gian tính thuế còn xuất phát từ yêu cầu đảm bảo giá trị

đồng tiền nộp thuế trƣớc tình trạng lạm phát, tránh sự lợi dụng chiếm

dụng tiền thuế và thực hiện chi tiêu theo kế hoạch của nhà nƣớc. Biện

pháp chung nhất là tạm nộp theo hàng tháng, quyết toán hàng năm.

Xác định các khoản thu nhập miễn trừ.

Một trong những đặc điểm quan trọng của thuế TNCN là có tính tới

hoàn cảnh của từng cá nhân, đó là các khoản giảm trừ. Các khoản giảm trừ

thƣờng đƣợc thực hiện dƣới 2 dạng: miễn trừ cá nhân và miễn trừ tiêu chuẩn.

Miễn trừ cá nhân đƣợc thực hiện theo phƣơng pháp kê khai chi phí thực

tế phát sinh đối với các khoản đƣợc phép giảm trừ. Thông thƣờng có hai loại

giảm trừ cá nhân đó là: giảm trừ có tính chất kinh tế (các khoản giảm trừ mang

12



tính chất chi phí liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập nhƣ chi phí đi lại,

ăn ở… kể cả các khoản đóng bảo hiểm) và giảm trừ có tính chất xã hội (các

khoản giảm trừ mang tính chất chi trợ cấp có tính xã hội nhƣ giúp đỡ ngƣời có

hoàn cảnh khó khăn, chi nuôi dƣỡng, bảo trợ ngƣời già, tàn tật…). Phƣơng pháp

miễn trừ cá nhân đảm bảo sự công bằng và thƣờng đƣợc áp dụng ở những nƣớc

có trình độ phát triển kinh tế và dân trí cao, hệ thống lƣu trữ và kiểm soát thông

tin tốt.

Đối với các nƣớc chậm phát triển thƣờng không đủ điều kiện để áp

dụng phƣơng pháp này mà chủ yếu áp dụng phƣơng pháp giảm trừ tiêu chuẩn.

Phƣơng pháp này thực hiện thông qua việc xác định mức khởi điểm chịu thuế

- đó là mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủ những chi phí

cần thiết cả về mặt kinh tế và xã hội theo quan niệm và tập quán của từng

nƣớc. Phƣơng pháp giảm trừ tiêu chuẩn tuy không công bằng vì mức chi phí

cần thiết bị cào bằng giữa các đối tƣợng nộp thuế nhƣng lại đảm bảo cho thuế

TNCN dễ tính toán, đơn giản hơn, do đó tiết kiệm chi phí hành thu và chi phí

chấp hành, tuân thủ luật thuế. Việt Nam đang áp dụng phƣơng pháp giảm trừ

tiêu chuẩn này.

Thuế suất thuế TNCN.

Đối với thuế TNCN thông thƣờng áp dụng biểu thuế suất lũy tiến (bao

gồm thuế suất lũy tiến toàn phần và lũy tiến từng phần). Trong đó biểu thuế

lũy tiến từng phần đƣợc coi là đảm bảo công bằng hơn và không gây ra mâu

thuẫn “mức tăng của thuế lớn hơn mức tăng của căn cứ tính thuế” tại điểm

tiếp giáp giữa hai bậc thuế.

Khi xây dựng biểu thuế của thuế thu nhập cá nhân, các quốc gia thƣờng

sử dụng một số nguyên tắc sau:

 Thứ nhất, đánh thuế cùng một mức vào thu nhập tổng hợp, với số

lƣợng thuế suất vừa phải để có thể quản lý tốt hơn.



13



 Thứ hai, mức thuế không nên quá cao làm ảnh hƣởng đến nỗ lực lao

động, tiết kiệm và đầu tƣ.

 Thứ ba, tùy theo đặc điểm tình hình kinh tế xã hội mà có thể sử dụng

thuế suất ƣu tiên linh hoạt cho từng loại thu nhập. Theo tập tục truyền

thống thì hầu hết các nƣớc sử dụng thuế suất ƣu đãi đối với thu nhập từ

lao động hơn là thu nhập từ vốn.

Phương pháp quản lý thu nộp.

Thuế thu nhập có thể đƣợc thu theo phƣơng pháp khấu trừ tại nguồn

hoặc phƣơng pháp thu trực tiếp.

Phƣơng pháp khấu trừ tại nguồn đƣợc áp dụng cho các khoản thu nhập

phát sinh có tính chất ổn định nhƣ thu nhập từ lƣơng, thu nhập từ bất động

sản… Theo phƣơng pháp này ngƣời hoặc cơ quan chi trả thu nhập tiến hành

khấu trừ trƣớc số thuế phải nộp của cá nhân để nộp cho cơ quan thuế, sau đó

mới tiến hành chi trả phần còn lại cho ngƣời đƣợc hƣởng. Phƣơng pháp này

thƣờng đƣợc áp dụng phổ biến với những nƣớc có khả năng kiểm soát và tổng

hợp thu nhập thấp (thƣờng là các nƣớc chậm phát triển). Tuy chi phí thu thuế

thấp, quy trình quản lý thu đơn giản nhƣng mức độ công bằng lại kém hơn vì

thông thƣờng chỉ thu đƣợc thuế của những khoản thu nhập rõ ràng, chính

thống. Những khoản thu nhập khác dễ bị bỏ qua do không kiểm soát đƣợc.

Phƣơng pháp thu trực tiếp đƣợc thực hiện trên cơ sở ngƣời nộp thuế tự

kê khai thu nhập và gửi cho cơ quan thuế. Cơ quan thuế xác định số thuế phải

nộp dựa trên số liệu kê khai về thu nhập, về các khoản đƣợc phép khấu trừ,

giảm trừ… kết hợp với sự thẩm tra kiểm soát của cơ quan thuế. Phƣơng pháp

này tuy phức tạp nhƣng đảm bảo tính chính xác vì khả năng tổng hợp nhiều

nguồn thu nhập. Tuy nhiên thực tế phƣơng pháp này chỉ đạt hiệu quả cao

trong điều kiện ngƣời nộp thuế hiểu rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.

Nếu trình độ hiểu biết của ngƣời nộp thuế còn kém, tính tự giác chƣa cao thì



14



không thể vận dụng đƣợc phƣơng pháp trực tiếp này đƣợc. (Canada, Mĩ áp

dụng phƣơng pháp thu trực tiếp này)

Trên thực tế, các nƣớc có nền kinh tế phát triển mặc dù đã xây dựng

cho mình chế độ thuế TNCN khá hoàn chỉnh cũng thƣờng chỉ sử dụng

phƣơng pháp khấu trừ tại nguồn mà thôi. ở Việt Nam cũng áp dụng phƣơng

pháp khấu trừ tại nguồn.

1.3. Vai trò của thuế TNCN.

Các nƣớc châu Âu coi thuế TNCN là “Nữ hoàng” của các loại thuế, ở

châu Á nhƣ Nhật Bản lại gọi thuế TNCN là “Vua” của các loại thuế. Sắc thuế

này có vị trí quan trọng bậc nhất ở hầu hết các quốc gia trên thế giới do nó có

vai trò vô cùng lớn.



1.3.1. Thuế TNCN là một công cụ phân phối đảm bảo công bằng xã

hội.

Một trong những khiếm khuyết của kinh tế thị trƣờng là sự phân phối

không công bằng và đi liền với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo trong xã

hội. Trong hệ thống thuế thƣờng áp dụng hai loại thuế: thuế gián thu và thuế

trực thu. Thuế TNCN là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu

nhập nhận đƣợc của từng cá nhân, điều tiết thu nhập của ngƣời nộp thuế theo

khả năng của họ. Vì thế, thuế TNCN đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc.

Nếu chỉ áp dụng các loại thuế gián thu thì mới thực hiện đƣợc công bằng theo

chiều ngang (tức là tất cả mọi ngƣời đều phải nộp thuế nhƣ nhau không phân

biệt khả năng của họ). Thông qua đánh thuế TNCN, Nhà nƣớc thực hiện điều

tiết thu nhập của những ngƣời có thu nhập cao, nhờ đó san bằng tƣơng đối sự

chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội.

Để thấy rõ vai trò đó của thuế TNCN, có thể sử dụng đƣờng cong

Lorenz dƣới đây:



15



Thu nhập đƣợc phân

phối công bằng



GDP (%)



Thu nhập trƣớc thuế



Thu nhập sau thuế



Dân cƣ (%)



Hình 1.1 - Ảnh hƣởng của thuế đến sự công bằng

trong phân phối thu nhập5

Trên đồ thị, đƣờng cong Lorenz càng gần đƣờng 450 thì càng phản ánh sự

phân phối công bằng. Điều đó đƣợc trợ giúp bởi thuế lũy tiến thông qua thực

hiện thuế TNCN để đảm bảo rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong

xã hội.



1.3.2. Thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng cho

Ngân sách Nhà nƣớc.

Do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nƣớc, sự giảm dần của

thuế quan do yêu cầu của tự do hóa thƣơng mại, để phát triển kinh tế các quốc

gia phải tăng nguồn thu tài chính nhà nƣớc thông qua các loại thuế khác nhau

nhƣ thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp,

thuế TNCN… Trong đó thuế TNCN là nguồn tài chính lớn cho ngân sách của

quốc gia đặc biệt là các nƣớc phát triển, quả thực ngày nay thuế TNCN là một

hình thức thu quan trọng của ngân sách Nhà nƣớc ở các nƣớc này. ở Việt

Nam trƣớc đây thuế đánh vào TNCN đƣợc thể hiện qua 3 sắc thuế (thuế thu

nhập đối với ngƣời có thu nhập cao, thuế thu nhập doanh nghiệp với phần cá

nhân nộp thuế và thuế chuyển quyền sử dụng đất) mà hiện tại đƣợc thay thế

5



Nhƣ chú thích 2.



16



bằng một sắc thuế là thuế TNCN, chỉ đóng góp đƣợc 4,1% tổng thu Ngân

sách nhà nƣớc trong khi tỷ lệ đó ở một số nƣớc Asean (Thái Lan, Philippines,

Malaysia…) khoảng 12-16%, các nƣớc đang phát triển khoảng 13-14%, các

nƣớc phát triển (Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Đức…) khoảng 30-40% tổng thu nhập

ngân sách quốc gia.

Bảng 1.2 - Doanh thu thuế TNCN so với GDP của một số nƣớc

trên thế giới



Quốc gia

1

2



Tỉ lệ (%)

thuế/GDP

2003



Tỉ lệ (%)

thuế/GDP

2004



Tỉ lệ (%)

thuế/GDP

2005



Tỉ lệ (%)

thuế/GDP

2006



Tỉ lệ (%)

thuế/GDP

2007



25.5



24.9



24.8



24.5



25.



25.5



24.9



24.8



24.5



25.



Denmark

New

Zealand



3



Sweden



15.3



15.5



15.6



15.7



14.7



4



Finland



13.6



13.2



13.5



13.2



13.0



14.0



13.8



13.7



13.1



13.0



5



Belgium



6



Canada



11.8



11.8



11.9



12.1



12.5



7



Italy



10.5



10.4



10.4



10.8



11.2



10.1



10.1



10.6



10.8



10.9



9.1



8.9



9.7



10.2



10.7



10.0



10.0



10.4



10.5



10.5



8

9

1

0



United

Kingdom

USA

Switzerland



Nguồn: OECD website



Ở nƣớc ta thuế TNCN tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu ngân sách

Nhà nƣớc, song trong điều kiện phát triển kinh tế và toàn cầu hóa ngày nay,

thu nhập của cá nhân có xu hƣớng tăng nhanh, nên tỷ trọng thuế TNCN trong

tổng thu ngân sách nhà nƣớc sẽ có khả năng tăng lên.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

SƠ LƯỢC VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Tải bản đầy đủ ngay(128 tr)

×