1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 128 (trang)
CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ VẬT CHẤT

CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ VẬT CHẤT

Tải bản đầy đủ - 128trang

Ngay từ thời điểm cuối năm 2006, đầu năm 2007 khi Bộ Tài chính mới

bắt đầu nghiên cứu soạn thảo dự án Luật thuế TNCN thì Ban Tin học Tổng

cục Thuế (nay là Cục ứng dụng CNTT) đã triển khai các công việc nghiên

cứu, nắm bắt các nội dung của dự án luật, nhằm xác định quy mô, phạm vi,

đối tƣợng quản lý để phân tích, xây dựng quy trình quản lý thuế, theo đó đã

lập dự án tin học hóa quản lý thuế TNCN. Trƣớc mắt, để phục vụ cho yêu cầu

quản lý thuế TNCN vào đầu năm 2009, ngành thuế đã tiến hành nâng cấp các

ứng dụng hiện có. Dự kiến, đến hết quý II/2009 sẽ đƣa các ứng dụng mới vào

xử lý tờ khai và đến thời điểm đầu năm 2010, các quy trình nghiệp vụ quản lý

thuế TNCN sẽ đƣợc hoàn chỉnh để tin học toàn bộ.

Quy trình quản lý thuế TNCN bắt đầu bằng việc đăng ký cấp mã số

thuế và các ứng dụng CNTT đƣợc xây dựng ngay từ khâu này. Đối với cá

nhân có phát sinh thu nhập độc lập mà tự kê khai với cơ quan thuế thì ngay

thời điểm Luật thuế TNCN có hiệu lực ngành thuế sẽ ban hành tờ khai thu

nhập tạm nộp để ngƣời nộp thuế kê khai số ƣớc thu nhập hàng tháng, hàng

quý và nộp lại cho cơ quan thuế. Tờ khai đó sẽ đƣợc xử lý bằng CNTT để

xác định nghĩa vụ thuế ban đầu của ngƣời nộp thuế. Đối với cá nhân làm

công ăn lƣơng, sau khi đƣợc cơ quan chi trả thu nhập khấu trừ thuế, tờ khai

đƣợc chuyển đến cơ quan thuế và đƣợc nhập vào hệ thống ứng dụng để phân

định nghĩa vụ nộp thuế của từng cá nhân. Dự kiến vào cuối năm 2009 hệ

thống ứng dụng CNTT của ngành thuế sẽ đƣợc phát triển mở rộng, nâng cấp

thêm phần xử lý tờ khai quyết toán thuế của từng cá nhân. Đến đầu năm

2010, cá nhân có thu nhập chịu thuế sẽ phải lập từng bản quyết toán thuế

riêng (gọi là tờ khai quyết toán thuế năm) để nộp cho cơ quan thuế, sau đó sẽ

đƣợc xử lý bằng các ứng dụng tin học trong quản lý. Ƣớc tính đến năm

2010, số tờ khai quyết toán thuế năm nộp cho cơ quan thuế sẽ lên tới khoảng

3 - 4 triệu tờ khai.



41



Ngoài ra cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai áp dụng công nghệ mã vạch

hai chiều để đọc và phân tích tờ khai, nhằm khắc phục triệt để các lỗi sai sót

và tình trạng nộp tờ khai không đúng hạn, chuẩn bị điều kiên tốt nhất để triển

khai kê khai thuế qua mạng.

Những khó khăn gặp phải:

Thuế TNCN là sắc thuế đặc thù, ngƣời nộp thuế TNCN có thu nhập tại

nhiều địa bàn khác nhau trong khi đó việc thiết lập cơ sở dữ liệu để quản lý mới

ở giai đoạn manh nha, nên chắc chắn việc triển khai các ứng dụng CNTT vào

quản lý sẽ không dễ. Hơn thế nữa, hệ thống ứng dụng CNTT hiện hành của

ngành thuế đang bị phân tán theo chức năng quản lý của từng đơn vị. Cấp Chi

cục Thuế quản lý các hộ, các doanh nghiệp nhỏ và tự quản lý toàn bộ dữ liệu, xử

lý thông tin hàng ngày. Còn cấp Cục Thuế quản lý các doanh nghiệp vừa, lớn và

dữ liệu, thông tin cũng đƣợc Cục Thuế lƣu, xử lý phục vụ các tác nghiệp hàng

ngày. Cấp Tổng cục Thuế không quản lý dữ liệu các đối tƣợng nộp thuế mà khi

cần cơ quan cấp dƣới sẽ chuyển thông tin tổng hợp mang tính chất thống kê,

phục vụ cho công tác phân tích chỉ đạo.

Với thuế TNCN, do đặc thù một cá nhân có thể có thu nhập tại nhiều

địa bàn khác nhau, nên việc phân cấp tổ chức cơ sở dữ liệu và ứng dụng

CNTT nhƣ hiện nay sẽ không phù hợp. Do đó, ngành thuế cũng đang có kế

hoạch thay đổi tổng thể mô hình kiến trúc ứng dụng CNTT, chuyển dần từ mô

hình xử lý phân tán sang mô hình xử lý tập trung, theo đó, sẽ tập trung toàn

bộ dữ liệu tại cấp trung ƣơng, còn các cấp dƣới sẽ thực hiện vai trò nhập dữ

liệu.

Với một khối lƣợng công việc lớn nhƣ vậy gây khá nhiều khó khăn cho

ngành thuế nhất là trƣớc thời điểm 1/1/2009 khi Luật Thuế TNCN có hiệu

lực. Đối với lĩnh vực tin học cần phải có thông tƣ hƣớng dẫn cụ thể từng mẫu,

biểu và các quy trình nghiệp vụ, nhƣng hiện tại vẫn chƣa có thông tƣ nào

hƣớng dẫn về thuế TNCN. Ngoài ra, nguồn nhân lực đáp ứng việc vận hành,

42



quản lý và sử dụng thành thạo các ứng dụng tin học trong quản lý thuế hiện

nay cũng là cả một vấn đề lớn, ngƣời giỏi về tin học lại hạn chế trong các

nghiệp vụ kế toán, thống kê và ngƣợc lại. Hơn thế nữa, việc giữ chân và thu

hút đƣợc nhân lực giỏi về CNTT làm việc trong ngành cũng đang là bài toán

khó.

Biện pháp khắc phục:

Trƣớc những khó khăn đó, ngành thuế đang gấp rút cùng với các đơn

vị có liên quan nghiên cứu, hoàn thành các văn bản hƣớng dẫn theo các trình

tự, quy trình nghiệp vụ cụ thể, từ đó sẽ nâng cấp các phần mềm ứng dụng tin

học phục vụ quản lý, nhằm đáp ứng tốt nhất khi triển khai áp dụng Luật thuế

TNCN. Song hành với việc gấp rút hoàn thiện các văn bản qui phạm pháp

luật, Tổng cục Thuế đang kiện toàn và nâng cấp hệ thống phần mềm máy tính

hiện có, đầu tƣ bổ sung đầy đủ trang thiết bị tin học cho những nơi còn thiếu

để đáp ứng đƣợc nhu cầu quản lý thuế trong giai đoạn đầu, đảm bảo sự hỗ trợ

đắc lực của công nghệ thông tin trong toàn hệ thống thuế.

Với vấn đề nguồn nhân lực, Cục ứng dụng CNTT cũng đã kiến nghị

với Tổng cục Thuế có một cơ chế hợp lý để “thu dụng nhân tài”, đồng thời

Cục cũng chủ động bồi dƣỡng, đào tạo những kỹ năng cần thiết cho cán bộ

công chức, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, đồng thời đảm bảo

sử dụng và khai thác tốt các chƣơng trình ứng dụng, vừa nâng cao hiệu suất,

hiệu quả quản lý thuế vừa tránh lãng phí số máy móc thiết bị đã trang bị.

Đây không còn là hình thức vận động, khuyến khích nữa mà là yêu cầu

bắt buộc, có cơ chế kiểm tra giám sát cụ thể, phấn đấu trong năm 2009, toàn

ngành sẽ thực hiện quản lý điều hành qua mạng điện tử, xóa bỏ chế độ báo

cáo qua hình thức công văn thƣ từ, vừa lãng phí, vừa không kịp thời.

3.2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho quá trình

triển khai Luật thuế TNCN.

43



Theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, ngành thuế đã khẩn trƣơng hoàn tất

những công việc chuẩn bị để triển khai Luật Thuế TNCN từ ngày 01/01/2009.

Theo đó, ngày 08/09/2008 Thủ tƣớng Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo

triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Chính

phủ đã ban hành Nghị định 100/2008/NĐ - CP quy định chi tiết thi hành Luật

Thuế TNCN. Trƣớc khi ban hành, dự thảo thông tƣ hƣớng dẫn thi hành về

thuế TNCN đã đƣợc gửi đi lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, các đoàn

thể, các hiệp hội và nhân dân; đăng tải trên website ngành thuế. Tiếp đó đã

nghiên cứu xây dựng Thông tƣ liên tịch giữa Bộ Tài chính với Bộ Quốc

phòng và Bộ Công an hƣớng dẫn thu nộp thuế TNCN đối với cán bộ chiến sĩ

các lực lƣợng vũ trang. Các văn bản hƣớng dẫn thi hành đã đƣợc hoàn thiện

và ban hành trong tháng 9/2008 theo đúng chỉ đạo của Chính phủ.

Thông tƣ 84: Ngày 30/9/2008, thứ trƣởng Bộ Tài chính Nguyễn Công

Nghiệp ký ban hành Thông tƣ số 84/2008/TT-BTC hƣớng dẫn thi hành một

số điều của Luật Thuế TNCN cùng với các rất nhiều mẫu đăng ký liên quan

nhƣ mẫu tờ khai đăng ký thuế TNCN, mẫu tờ khai khấu trừ thuế TNCN, tờ

khai quyết toán thuế, tờ khai giảm trừ gia cảnh cho ngƣời phụ thuộc...

Thông tƣ 62: Ngày 27/3/2009, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tƣ mới

số 62/2009/TT-BTC hƣớng dẫn bổ sung và chi tiết hơn cho việc áp dụng

Thông tƣ 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2009 (Thông tƣ 84), có hiệu lực thi

hành sau 45 ngày kể từ ngày ký và áp dụng cho các khoản thu nhập phát sinh

từ ngày 01/01/09. Thông tƣ 62 mới ban hành bao gồm những điểm chinh sau:

Mở rộng phạm vi các khoản thu nhập không chịu thuế.

Ví dụ nhƣ đối với ngƣời nƣớc ngoài thông tƣ 62 có quy định một số

khoản thu nhập không chịu thuế nhƣ: Khoản trợ cấp chuyển vùng một lần đối

với ngƣời nƣớc ngoài đến cƣ trú tại Việt Nam (mức trƣoj cấp xác định căn cứ

trên hợp đồng lao động); khoản tiền học phí bậc phổ thông cho con của ngƣời

nƣớc ngoài học tại Việt Nam; tiền vé máy bay khứ hồi một lần một năm cho

44



ngƣời nƣớc ngoài về phép... Tiền thuê nhà do đơn vị sử dụng lao động chi trả

hộ sẽ chịu thuế TNCN theo số thực tế chi trả hộ nhƣng không vƣợt quá 15%

tổng thu nhập chịu thuế.

Và các khoản thu nhập không chịu thuế khác: Đối với các khoản chi về

phƣơng tiện phục vụ đƣa đón tập thể ngƣời lao động; các khoản lơi ích nhƣ

chi phí hội viên, dịch vụ giải trí...; các khoản chi để đào tạo nâng cao trình độ

tay nghề cho ngƣời lao động...

Hướng dẫn bổ sung về người phụ thuộc và giảm trừ gia cảnh.

Thông tƣ 62 hƣớng dẫn những điều kiện bắt buộc để xác định ngƣời phụ

thuộc trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động. Theo những điều khoản

hƣớng dẫn này, ngƣời phụ thuộc trong độ tuổi lao động phải thỏa mãn hai điều

kiện: (i) bị tàn tật không có khả năng lao động và (ii) không có thu nhập hoặc

có thu nhập bình quân tháng thấp hơn 500.000VND. Đối với ngƣời phụ thuộc

ngoài độ tuổi lao động thì chỉ cần thỏa mãn điều kiện thứ hai. Ngoài ra có quy

định một số điểm khác.

Thông tƣ 62 cũng hƣớng dẫn chi tiết các chứng từ chứng minh ngƣời

phụ thuộc, thủ tục kê khai cho nhiều trƣờng hợp khác nhau; xác định rõ các

khoản bảo hiểm bắt buộc đƣợc giảm trừ khi tính thu nhập chịu thuế, bao gồm

cả bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.

Hướng dẫn khấu trừ và kê khai thuế TNCN đối với các khoản thu nhập ngoài

tiền lương, tiền công.

Thông tƣ 62 hƣớng dẫn cụ thể hơn về việc khấu trừ và kê khai các

khoản thu nhập ngoài tiền lƣơng, tiền công.

Ví dụ: Đối với chứng khoán chƣa niêm yết và chƣa đăng ký tại trung tâm

giao dịch, giá chuyển nhƣợng chứng khoán là giá ghi trên hợp đồng chuyển

nhƣợng. Trƣờng hợp trên hợp đồng không ghi giá thì căn cứ để khấu trừ thuế



45



là giá chuyển nhƣợng do ngƣời chuyển nhƣợng tự khai và tự chịu trách nhiệm

về tính chính xác của nội dung kê khai.

Cá nhân nhận cổ tức bằng cổ phiếu hoặc nhận cổ phiếu thƣởng chƣa

phải nộp thuế TNCN khi nhận cổ phiếu, nhƣng khi chuyển nhƣợng số cổ

phiếu này, cá nhân phải nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ hoạt động

chuyển nhƣợng chứng khoán và thu nhập từ đầu tƣ vốn. Số thuế TNCN phải

nộp đối với thu nhập từ chuyển nhƣợng cổ phiếu sẽ căn cứ vào giá thực tế tại

thời điểm chuyển nhƣợng và ngƣời nộp thuế sẽ lựa chọn phƣơng pháp tính

thuế khoán hoặc áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập ròng là phần chênh lệch

giữa giá thực tế chuyển nhƣợng và mệnh giá.

Đối với khoản chi trả tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa; tiền lƣơng,

tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ có tổng

mức chi trả thu nhập từ 500.000 đồng trở lên thì các tổ chức, cá nhân chi trả

phải áp dụng thống nhất mức khấu trừ thuế 10% trên thu nhập chi trả (bất kể

cá nhân nhận thu nhập có mã số thuế hay không); trừ những trƣờng hợp có

hƣớng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính (ví dụ: phí đại lý bảo hiểm, đại lý vé số).

3.3. Thành lập Bạn chỉ đạo nhằm triển khai Luật Thuế TNCN.

Thủ tƣớng chính phủ cũng quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung

ƣơng triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN. Theo đó, ban chỉ đạo có nhiệm

vụ xây dựng chƣơng trình, kế hoạch, tiến độ và các biện pháp triển khai thực

hiện Luật Thuế TNCN; hƣớng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan và các địa

phƣơng thực hiện chƣơng trình, kế hoạch và các biện pháp triển khai thực

hiện luật, phải tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện của các bộ, ngành và

các địa phƣơng để báo cáo Thủ tƣớng mỗi quý một lần.

Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo cũng phải đề xuất, đôn đốc các bộ, cơ quan

sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan; chỉ đạo, hƣớng dẫn Ban chỉ đạo triển khai Luật thuế TNCN ở



46



các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng thực hiện đúng các chƣơng trình,

kế hoạch và biện pháp của Ban chỉ đạo Trung ƣơng đề ra.

Ban chỉ đạo Trung ƣơng hoạt động theo quy chế do Trƣởng ban quyết

định. Trƣởng ban chịu trách nhiệm trƣớc Thủ tƣớng về hoạt động của Ban;

quyết định về quy chế hoạt động và việc phối hợp giữa các thành viên của

Ban chỉ đạo; thay mặt Thủ tƣớng quyết định những chủ trƣơng, biện pháp

thuộc thẩm quyền của Thủ tƣớng để triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN và

các nhiệm vụ đề ra. Ban Chỉ đạo Trung ƣơng có Tổ thƣờng trực giúp việc đặt

tại Bộ Tài chính. Phó thủ tƣớng Nguyễn Sinh Hùng làm Trƣởng ban. Bộ

trƣởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh làm Phó trƣởng ban.

Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng nhƣ thành phố Hồ Chí Minh,

Hà Nội cũng chủ động thành lập các Ban chỉ đạo triển khai Luật Thuế TNCN tại

địa phƣơng để tập trung sự chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất: Thực hiện chỉ

thị số 22/2008/CT-TT ngày 15/7/2008 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc triển

khai Luật Thuế TNCN, ngày 29/8/2008 UBND TP. Hà Nôi đã có Quyết định số

462/QĐ-UBND thành lập Ban chỉ đạo triển khai Luật Thuế TNCN trên địa bàn,

theo đó đích thân Phó Chủ tịch UBND thành phố Hoàng Mạnh Hiến, trực tiếp

làm Trƣởng ban chỉ đạo, để cùng với các phó Ban và thành viên là đại diện lãnh

đạo Cục Thuế, Sở Tài chính, Sở Công Thƣơng, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ, Sở

Thông tin Truyền thông, Sở Lao động thƣơng binh xã hội... Hiện tại Cục thuế

TP Hà Nội đã ủy nhiệm cho Sở Công Thƣơng thu thuế thu nhập đối với ngƣời

có thu nhập cao của các đơn vị, văn phòng đại diện của nƣớc ngoài tại Việt Nam,

các đại sứ quán, tổ chức phi Chính phủ, các cơ quan báo chí nƣớc ngoài. Sự vào

cuộc của chính quyền địa phƣơng các cấp, các ngành sẽ góp phần nâng cao hiệu

quả của công tác triển khai Luật Thuế TNCN.

Ngày 15/9/2008, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành quyết định thành

lập Ban chỉ đạo triển khai Luật Thuế TNCN cấp tỉnh do ông Chu Phạm Ngọc

Hiến - Phó chủ tịch thƣờng trực UBND tỉnh làm thƣờng trực và các phó

47



trƣởng ban là Cục trƣởng Cục Thuế, phó giám đốc Sở Tài chính... Ở cấp huyện

giao cho chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố ban hành quyết định thành

lập ban chỉ đạo và chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt kế hoạch

triển khai Luật thuế. Ban chỉ đạo có trách nhiệm tham mƣu, đề xuất cho Tỉnh

ủy, UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN; triển

khai thực hiện nghiêm các chƣơng trình, kế hoạch và hƣớng dẫn của Ban chỉ

đạo Trung ƣơng, bảo đảm đúng tiến độ nội dung yêu cầu đề ra. Đồng thời

phân công các thành viên trong ban chỉ đạo phụ trách theo dõi, kiểm tra việc

triển khai Luật Thuế TNCN của các huyện, thị xã, thành phố; tổng hợp, đánh

giá tình hình trên địa bàn để báo cáo Ban chỉ đạo Trung ƣơng vào tháng cuối

mỗi quý, đồng thời ngay trong năm 2008 phải tập trung chỉ đạo hoàn thành

việc đăng ký thuế TNCN trên địa bàn toàn tỉnh.



4. CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ THUẾ,

KHAI THUẾ, NỘP THUẾ.

4.1. Những điểm mới trong thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, nộp và quyết

toán thuế.

Có rất nhiều điểm đổi mới đã đƣợc thể hiện trong Thông tƣ

84/2008/TT-BTC mà nay là Thông tƣ 62 thể hiện là:

 Về đăng ký thuế: Theo tờ khai đăng ký thuế đối với ngƣời có thu nhập

cao trƣớc đây, các đơn vị chi trả phải thực hiện kê khai trên 20 chỉ tiêu,

ngoài ra còn cần ảnh, tên đơn vị chi trả... trên cơ sở giản lƣợc tối đa

phần việc của ngƣời thực hiện, mẫu tờ khai đăng ký thuế TNCN đã

đƣợc thiết kế chỉ còn 11 chỉ tiêu phải kê khai, không cần có ảnh và

không cần khai đơn vị chi trả thu nhập, để tiết kiệm thời gian và chi phí

cho cả đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế. Thông tƣ 84 cũng

hƣớng dẫn rõ, tổ chức chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế đã có mã số

thuế đƣợc sử dụng luôn mã số đã có mà không cần phải đăng ký lại, cá

48



nhân có nhiều khoản thu nhập chịu thuế chỉ phải đăng ký một lần tại

nơi mà cá nhân thấy thuận tiện nhất.

 Về khai thuế, nộp thuế: Theo luật thuế GTGT, thuế TNDN và các văn

bản hƣớng dẫn hiện hành thì cá nhân kinh doanh đã thực hiện chế độ kế

toán, nộp thuế kê khai sẽ phải kê khai và nộp thuế hàng tháng, khi

chuyển sang nộp thuế TNCN, những cá nhân này sẽ chỉ phải tạm khai

thuế theo quý, tƣơng tự, cá nhân nộp thuế khoán ổn định, đang nộp thuế

theo tháng cũng chuyển sang nộp thuế theo quý, tức là thay vì phải khai

thuế, nộp thuế 12 lần trong năm nhƣ trƣớc kia nay chỉ phải khai thuế,

nộp thuế 4 lần/năm. Khi thời gian và công sức cho việc kê khai, nộp

thuế giảm 8 lần/năm cũng đồng nghĩa với việc giảm đáng kể thời gian

và chi phí cho việc khai thuế, nộp thuế của cả xã hội.

Kế thừa quy định của thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao, Thông

tƣ 84 cũng hƣớng dẫn về cơ bản cá nhân có thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công,

không phải kê khai thuế tháng. Trách nhiệm khai thuế, khấu trừ thuế thuộc về

đơn vị chi trả thu nhập. Các đơn vị chi trả thu nhập cũng chỉ phải khai số thuế

đã khấu trừ hàng tháng nếu số thuế đã khấu trừ trong tháng lớn hơn 5 triệu

đồng, trƣờng hợp dƣới 5 triệu đồng/tháng thì đơn vị chi trả đƣợc khai theo quý.

 Về quyết toán thuế: Để giảm thiểu cá nhân có thu nhập từ tiền lƣơng,

tiền công phải quyết toán thuế, Thông tƣ 84 quy định, chỉ những cá

nhân có thu nhập trên 4 triệu đồng/tháng, cá nhân có số thuế trong năm

phải nộp trong năm lớn hơn số thuế đã khấu trừ hoặc tạm nộp, cá nhân

yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa mới phải thực hiện

quyết toán thuế. Đặc biệt, những cá nhân nộp thuế khoán sẽ không phải

thực hiện quyết toán thuế mà số thuế này sẽ đƣợc xác định ngay từ đầu

năm trên cơ sở sự phối hợp trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và hội

đồng tƣ vấn thuế xã, phƣờng. Với quy định này thì theo tính toán của

các cơ quan quản lý, trong tổng số 1,7 triệu cá nhân kinh doanh trong

49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ VẬT CHẤT

Tải bản đầy đủ ngay(128 tr)

×