1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 128 (trang)
CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ THUẾ, KHAI THUẾ, NỘP THUẾ

CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ THUẾ, KHAI THUẾ, NỘP THUẾ

Tải bản đầy đủ - 128trang

nhân có nhiều khoản thu nhập chịu thuế chỉ phải đăng ký một lần tại

nơi mà cá nhân thấy thuận tiện nhất.

 Về khai thuế, nộp thuế: Theo luật thuế GTGT, thuế TNDN và các văn

bản hƣớng dẫn hiện hành thì cá nhân kinh doanh đã thực hiện chế độ kế

toán, nộp thuế kê khai sẽ phải kê khai và nộp thuế hàng tháng, khi

chuyển sang nộp thuế TNCN, những cá nhân này sẽ chỉ phải tạm khai

thuế theo quý, tƣơng tự, cá nhân nộp thuế khoán ổn định, đang nộp thuế

theo tháng cũng chuyển sang nộp thuế theo quý, tức là thay vì phải khai

thuế, nộp thuế 12 lần trong năm nhƣ trƣớc kia nay chỉ phải khai thuế,

nộp thuế 4 lần/năm. Khi thời gian và công sức cho việc kê khai, nộp

thuế giảm 8 lần/năm cũng đồng nghĩa với việc giảm đáng kể thời gian

và chi phí cho việc khai thuế, nộp thuế của cả xã hội.

Kế thừa quy định của thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao, Thông

tƣ 84 cũng hƣớng dẫn về cơ bản cá nhân có thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công,

không phải kê khai thuế tháng. Trách nhiệm khai thuế, khấu trừ thuế thuộc về

đơn vị chi trả thu nhập. Các đơn vị chi trả thu nhập cũng chỉ phải khai số thuế

đã khấu trừ hàng tháng nếu số thuế đã khấu trừ trong tháng lớn hơn 5 triệu

đồng, trƣờng hợp dƣới 5 triệu đồng/tháng thì đơn vị chi trả đƣợc khai theo quý.

 Về quyết toán thuế: Để giảm thiểu cá nhân có thu nhập từ tiền lƣơng,

tiền công phải quyết toán thuế, Thông tƣ 84 quy định, chỉ những cá

nhân có thu nhập trên 4 triệu đồng/tháng, cá nhân có số thuế trong năm

phải nộp trong năm lớn hơn số thuế đã khấu trừ hoặc tạm nộp, cá nhân

yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa mới phải thực hiện

quyết toán thuế. Đặc biệt, những cá nhân nộp thuế khoán sẽ không phải

thực hiện quyết toán thuế mà số thuế này sẽ đƣợc xác định ngay từ đầu

năm trên cơ sở sự phối hợp trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và hội

đồng tƣ vấn thuế xã, phƣờng. Với quy định này thì theo tính toán của

các cơ quan quản lý, trong tổng số 1,7 triệu cá nhân kinh doanh trong

49



cả nƣớc thì dự kiến vào năm 2010 chỉ có 200 - 250 nghìn cá nhân phải

thực hiện quyết toán thuế TNCN. Tƣơng tự trong khoảng 10 triệu cá

nhân có thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công thì cũng chỉ khoảng 250 - 300

nghìn cá nhân phải quyết toán thuế.

 Một điểm mới nữa trong các thủ tục kê khai nộp thuế là việc cấp chứng

từ thu nộp thuế. Hiện tại tƣơng ứng với mỗi sắc thuế có một loại chứng

từ nộp thuế. Riêng thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao sử dụng

2 loại chứng từ nhƣng cả 2 loại này đều do cơ quan chi trả thu nhập cấp

(gồm chứng từ cho các khoản thu nhập phải khấu trừ 10% và biên laic

ho các khoản thu nhập phải nộp thuế) nên rất phức tạp. Khắc phục

nhƣợc điểm này, Bộ Tài chính đã hƣớng dẫn đơn vị chi trả sử dụng một

loại chứng từ là chứng từ khấu trừ thuế để cấp cho các cá nhân có thu

nhập đã bị khấu trừ thuế; còn biên lai thuế chỉ sử dụng để cấp cho cá

nhân trƣc tiếp nộp thuế tại cơ quan thuế.

Những điểm cần lƣu ý khi kê khai thuế TNCN:

Về cơ bản hệ thống tờ khai thuế TNCN đƣợc thiết kế đơn giản và khoa

học với các nội dung rõ ràng, rành mạch. Để hỗ trợ, cơ quan thuế đã ban hành

hƣớng dẫn cách thức kê khai cụ thể đối với từng nội dung trên từng mẫu tờ

khai, nên chắc chắn ngƣời nộp thuế sẽ dễ dàng và thuận lợi khi kê khai. Điều

cần lƣu ý các đơn vị chi trả thu nhập và các cá nhân nộp thuế, trong quá trình

kê khai, nếu có nội dung nào chƣa rõ thì cần liên hệ với cơ quan thuế để đƣợc

giải đáp cụ thể. Bắt đầu từ tháng 12/2008 hệ thống cơ quan thuế từ TW đến

địa phƣơng đã thiết lập hệ thống đƣờng dây nóng, nhằm giải đáp kịp thời

những khó khăn vƣớng mắc về thuế TNCN nói chung và việc kê khai thuế

TNCN nói riêng để đảm bảo việc thực thi luật đƣợc thuận lợi.

Cũng theo quy định của Luật quản lý thuế, ngƣời nộp thuế có trách

nhiệm kê khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế

theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đầy đủ các loại chứng từ, tài liệu quy

50



định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế. Trong trƣờng hợp ngƣời

nộp thuế không đáp ứng đủ các điều kiện tự kê khai thuế thì cơ quan quản lý sẽ

thực hiện ấn định thuế. Quy định này hoàn toàn phù hợp với Điều 10 của Luật

Thuế TNCN, theo đó “... Đối với cá nhân kinh doanh chƣa tuân thủ đúng chế độ

kế toán, hóa đơn, chứng từ, dẫn đến không xác định đƣợc doanh thu, chi phí và

thu nhập chịu thuế, thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu, tỷ lệ thu

nhập chịu thuế để xác định thu nhập chịu thuế phù hợp với từng ngành, nghề

sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.”



4.2. Chuẩn bị cấp mã số thuế cho ngƣời nộp thuế.

Vai trò của việc cấp mã số thuế

Một kinh nghiệm đƣợc xem là “chìa khóa” thành công của việc triển

khai Luật thuế TNCN là việc cấp mã số thuế TNCN. Từ ngày 1/1/2009 Luật

thuế TNCN chính thức đƣợc áp dụng. Luật quy định tất cả các cá nhân nằm

trong diện nộp thuế TNCN cùng với những ngƣời thuộc diện giảm trừ gia

cảnh (vợ, chồng, con cái, bố mẹ...) đều phải có mã số thuế riêng, mã số này sẽ

gắn với mỗi cá nhân suốt đời . Cũng theo Thông tƣ hƣớng dẫn thì cá nhân

muốn đƣợc tính giảm trừ cho ngƣời phụ thuộc phải đăng ký và có mã số thuế.

Bởi vì, chỉ khi có mã số thuế, cơ quan thuế mới kiểm soát đƣợc thu nhập của

đối tƣợng nộp thuế; khi có mã số thuế, cơ quan thuế mới có thể đối chiếu

đƣợc việc khai báo có chân thực hay không.

Do đó ngay sau khi Luật thuế TNCN đƣợc thông qua, Tổng cục Thuế

đã xây dựng và trình Bộ Tài chính duyệt kế hoạch cấp mã số thuế cho tất cả

các đối tƣợng có thu nhập thuộc diện chịu thuế. Căn cứ vào kế hoạch đó,

Tổng cục Thuế đã có công văn chỉ đạo Cục Thuế các tỉnh, thành phố tiến

hành rà soát các đối tƣợng cần cấp mã số thuế; đồng thời thực hiện cấp ngay

mã số thuế cho các đơn vị, cơ quan chi trả thu nhập và các cá nhân đang thuộc

diện nộp thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao. Với các tổ chức cá

nhân khác sẽ thực hiện kê khai, cấp dần mã số thuế trong năm 2009.

51



Nếu có mã số thuế đối tượng nộp thuế sẽ được hưởng các quyền lợi

sau: đƣợc giảm thuế nếu bị thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc bị bệnh

hiểm nghèo; đƣợc lựa chọn cách tính thuế TNCN theo mức thuế suất có lợi

nhất; đƣợc hoàn thuế TNCN nếu nộp thừa; đƣợc cung cấp các dịch vụ về thuế

nhanh chóng, thuận tiện.

Triển khai công tác cấp mã số thuế:

Thuế TNCN là sắc thuế có độ bao quát rộng, đối tƣợng chịu thuế lớn,

ƣớc tính sẽ có tới khoảng 15 triệu ngƣời đƣợc đăng ký để cấp mã số thuế.

Trong đó, lớn nhất là ngƣời làm công ăn lƣơng từ 11 - 11,5 triệu ngƣời; sau

đó là cá nhân kinh doanh khoảng 2 triệu ngƣời; tiếp đến là nhà đầu tƣ vốn,

chứng khoán khoảng 1 triệu ngƣời; còn lại là các trƣờng hợp khác khoảng 500

ngàn ngƣời. Nhƣng thời gian đầu, sẽ tập trung hoàn thành việc đăng ký thuế

và cấp mã số thuế đối với 3 nhóm đối tƣợng là các tổ chức chi trả thu nhập, cá

nhân có thu nhập từ kinh doanh dịch vụ và những cá nhân đang thuộc diện

nộp thuế thu nhập cao, ƣớc tính đối tƣợng nộp thuế TNCN đƣợc đƣa vào diện

quản lý thuế khoảng 3 triệu ngƣời.

Ví dụ:

Những khoản thu nhập từ chuyển nhƣợng chứng khoán bao gồm thu

nhập từ việc chuyển nhƣợng cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại

chứng khoán khác theo quy định của Luật Chứng khoán thì phải chịu thuế

TNCN.

Để nộp thuế phải thực hiện một vài thủ tục, trong đó bƣớc đầu tiên và

quan trọng nhất là đăng ký thuế. Nếu là ngƣời thƣờng xuyên có thu nhập từ

chuyển nhƣợng chứng khoán hoặc bạn đăng ký thuế TNCN theo thuế suất

20% trên thu nhập từ chuyển nhƣợng chứng khoán thì cần phải đăng ký thuế

để đƣợc cấp mã số thuế.



52



Bắt đầu bằng việc điền đầy đủ thông tin cá nhân vào Mẫu đăng ký số

01-ĐK-TNCN ban hành kèm theo Thông tƣ số 84/2008/TT-BTC. Sau đó, nộp

mẫu đăng ký đó và bản sao chứng minh thƣ nhân dân hoặc hộ chiếu cho Chi

cục nơi đối tƣợng cƣ trú (Có thể lấy mẫu tờ khai tại công ty chứng khoán).

Thời gian đƣợc nhận mã số thuế TNCN và thẻ mã số thuế cá nhân trong vòng

5 đến 10 ngày kể từ khi nộp hồ sơ đăng ký thuế đến cơ quan thuế. Trong

trƣờng hợp đã có mã số thuế, bạn có thể tiếp tục sử dụng mã số đó để thực

hiện nghĩa vụ thuế TNCN.

Nhìn chung thực hiện theo các bƣớc trên thì quy trình đăng kí thuế và

đăng kí cấp mã số thuế nhƣ trên thì có vẻ dễ dàng. Nhƣng thực tế triển khai

các công tác trên thực sự gặp phải nhiều vƣớng mắc phát sinh.

Những vƣớng mắc khi triển khai đăng ký cấp mã số thuế:

Thực tế là số lƣợng ngƣời đến cơ quan thuế làm thủ tục đăng ký mã số

thuế quá tải khiến công tác này gặp rất nhiều khó khăn. Đây là vấn đề mà Cục

thuế Hà Nội và một số Cục thuế khác gặp phải trong quá trình triển khai đăng

ký và cấp mã số thuế cho các đối tƣợng nộp thuế trên địa bàn mình.

Trƣớc thời điểm 31/12/2008 khoảng một, hai tuần do lo ngại việc đăng

ký mã số thuế sau ngày 31/12/2008 sẽ bị phạt, hàng trăm ngƣời dân tới xếp

hàng từ 4h sáng trƣớc cổng Cục Thuế Hà Nội chờ đăng ký, trong khi cơ quan

này chỉ có 2 cửa tiếp nhận, tƣơng đƣơng với khả năng phục vụ chỉ 40 - 50

ngƣời/ngày. Để đáp ứng nhu cầu của ngƣời dân, Cục Thuế Hà Nội đã tăng lên

11 cửa tiếp nhận nhƣng vẫn quá tải. Trƣớc tình trạng trên, Cục Thuế Hà Nội

quyết định áp dụng phƣơng án giãn thời hạn đăng ký mã số thuế đến hết tháng

1/2009, những trƣờng hợp chƣa kịp hạn ngày 31/12/2008 sẽ tiếp tục đăng ký

và không bị phạt.

Ngay khi việc giãn thời hạn nói trên đƣợc công bố cùng các giải pháp

mà Cục Thuế Hà Nội đƣa ra, lƣợng ngƣời tới đăng ký cấp mã số thuế đã giảm

hẳn. Ghi nhận chiều 31/12/2008 chỉ có khoảng 20 trƣờng hợp đến đăng ký,

53



thay vì hàng trăm ngƣời nhƣ những ngày trƣớc đó. Sau khi có quyết định

giãn, số ngƣời tới đăng ký đã giảm trên 50%, trở vể mức bình thƣờng.

Ngoài quyết định giãn thời hạn đăng kí mã số thuế, Cục Thuế Hà Nội

còn gửi công văn cho các doanh nghiệp, các cơ quan chi trả thu nhập về lộ

trình cấp mã số thuế. Cục Thuế Hà Nội cũng báo cáo Bộ Tài Chính và Tổng

cục Thuế về việc khấu trừ 10% hoặc 20% đối với các khoản thu nhập từ

500.000 trở lên, hiện Bộ Tài Chính và Tổng cục Thuế đã đồng ý thống nhất

phƣơng án dù có mã số thuế hoặc chƣa có mã số thuế đều khấu trừ 10%. Do

vậy việc có mã số hoặc chƣa có mã số thuế cũng không ảnh hƣởng đến tình

hình nộp thuế của tổ chức cá nhân trong diện phải đóng thuế. Vấn đề này

cũng đƣợc giải thích rõ cho các doanh nghiệp, cho nên việc cấp mã số thuế tại

Cục Thuế Hà Nội đã đƣợc thực hiện quy củ và đúng theo yêu cầu mà cơ quan

thuế đã thông báo.

Kiến nghị chung của nhiều tổ chức, cá nhân là nên kéo dài hạn đăng ký

thuế bởi lẽ ngành thuế đang quá tải, có nhiều vƣớng mắc và để tổ chức, cá

nhân có thời gian hoàn thiện hồ sơ. Hơn thế nữa, hiện ngành thuế mới tập

trung hoàn tất hồ sơ cho tổ chức, cá nhân làm công ăn lƣơng tuy nhiên lại vẫn

sẽ áp thuế với đối tƣợng không cƣ trú. Đây là điều không phù hợp. Vì vậy cần

kéo dài thời hạn để cho những đối tƣợng này khai và có mã số thuế.

Theo ƣớc tính của Cục Thuế Hà Nội tổng số đối tƣợng cần cấp mã số thuế

trên địa bàn Hà Nội khoảng 1,5 triệu ngƣời và sẽ đƣợc cấp dần trong năm 2009.

Trong đó trên 70.000 các doanh nghiệp, cơ quan chi trả thu nhập đã đăng ký mã

số thuế thì tiếp tục đƣợc dùng mã số thuế đó. Đối với tổ chức phải thực hiện

đăng ký mã số thuế mà chƣa có mã thì tại Hà Nội thống kê đƣợc khoảng 8.000,

đến ngày 31/12 Cục Thuế Hà Nội đã nhận đƣợc khoảng 6.000 hồ sơ đăng ký.

Còn trong đợt cấp mã số thuế này sẽ có khoảng 800.000 mã số thuế TNCN đƣợc

cấp. Nhƣng tới thời điểm này Cục mới nhận đƣợc khoảng 18.000 hồ sơ, trong đó



54



có gần 10.000 hồ sơ đã đƣợc giải quyết. Theo đó, hầu hết hồ sơ đăng ký cấp mã

số thuế TNCN phải lùi sang năm 2009.

Sở dĩ số lƣợng ngƣời đăng ký quá đông là do chƣa hiểu hết thủ tục vì

31/12/2008 chỉ là hạn để những tổ chức, cơ quan chi trả thu nhập (hội, sở, ban

ngành không kinh doanh), các cá nhân hành nghề độc lập hoặc cá nhân có thu

nhập khác, đăng ký trực tiếp nộp thuế tại cơ quan thuế mà chƣa có mã số thuế

phải hộp hồ sơ đăng ký mã số thuế. Các cơ quan chi trả đã có mã số thuế rồi thì

sử dụng luôn mã số đó để nộp thuế không phải đăng ký lại. Hiện tƣợng nhƣ trên là

do những đối tƣợng khác chƣa đến hạn nhƣng lo ngại bị phạt cũng đã đổ xô đến

đăng ký, dẫn đến tình trạng quá tải. Theo Cục Thuế Hà Nội các cá nhân làm công

ăn lƣơng sẽ nộp hồ sơ đăng ký mã số thuế cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cơ

quan chi trả thu nhập để các đơn vị này nộp hồ sơ đăng ký cho cơ quan thuế trong

quý I/2009. Các trƣờng hợp còn lại sẽ đƣợc cấp mã số thuế trong tháng 4/2009.

Tuy nhiên cũng phải nói rằng việc ngƣời dân đổ xô đến đăng ký cho

kịp thời điểm trƣớc 31/12/2008 cũng là hợp lý. Bởi vào thời điểm đó nếu sau

ngày 01/01/2009 - thời điểm Luật Thuế TNCN có hiệu lực, không hề có thông

tƣ hay thông báo gì về việc nếu cá nhân không có mã số thuế thì sẽ không bị

khấu trừ ở mức cao nhất nhƣ quy định (nhƣ thuế thu nhập đối với thu nhập từ

tiền công, tiền lƣơng là 20%) hay sẽ không bị phạt do đi đăng ký mã số thuế

chem…. khiến ngƣời dân hết sức lo lắng. Hơn thế nữa, việc đi đăng ký mã số

thuế là việc sớm muộn đều phải thực hiện nên tâm lý của đối tƣợng nộp thuế

muốn đăng ký trƣớc thời hạn là cũng dễ hiểu, bởi họ cũng phải chủ động đi

đăng ký mã số thuế sớm để lo các thủ tục khác liên quan. Và thực tế quá trình

cấp mã số thuế cá nhân cho các đối tƣợng chịu thuế TNCN tại địa bàn Hà Nội

và một số tỉnh thành khác cũng khá chậm, liệu có hoàn thành theo đúng kế

hoạch của Tổng cục Thuế hay không?

Hơn thế nữa cũng có nhiệm vụ nhƣ nhau, số lƣợng đơn vị chi trả nhiều,

số đối tƣợng nộp hồ sơ đăng ký thuế lớn không hề kém Cục Thuế Hà Nội

55



nhƣng không hề xảy ra hiện tƣợng ùn tắc trên địa bàn TP Hồ Chí Minh. Để

giảm thiểu thời gian tiếp nhận và tiết kiệm chi phí cho xã hội, Cục Thuế TP

HCM đã chủ động thiết kế mẫu tờ khai để các đơn vị chi trả thu nhập thông

tin cho ngƣời lao động rồi copy vào đĩa mềm gửi cho cơ quan thuế. Đây là

một hình thức vô cùng sáng tạo đáng học tập của Cục Thuế TP HCM và cũng

là bài học kinh nghiệm cho Cục Thuế Hà Nội cũng nhƣ cục thuế các địa

phƣơng khác học hỏi và suy ngẫm.

Tính đến hết tháng 1, cơ quan thuế đã tiếp nhận trên 2 triệu hồ sơ đăng

ký thuế TNCN của những ngƣời làm công ăn lƣơng và cấp mã số thuế cho

khoảng 150.000 ngƣời. Trong đó, Cục Thuế Hà Nội tiếp nhận khoảng

125.000 hồ sơ đăng ký từ hơn 1.800 đơn vị chi trả lƣơng cho ngƣời lao động,

tính đến hết tháng 1 đã có khoảng 1.400 mã số thuế đƣợc cấp cho tổ chức và

30.000 mã số cấp cho các cá nhân. Tại TP HCM, cơ quan thuế đã nhận hồ sơ

đăng ký thuế của khoảng 1,5 triệu ngƣời lao động và đã cấp mã số thuế cho

khoảng 70.000 đối tƣợng.6

4.3. Triển khai đăng ký giảm trừ gia cảnh.



4.3.1. Nội dung giảm trừ gia cảnh.

Giảm trừ gia cảnh là nội dung rất mới, thể hiện tính nhân văn của Luật

Thuế TNCN, đảm bảo tính công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế đối với ngân

sách nhà nƣớc của mọi công dân. Thủ tục giảm trừ gia cảnh là nội dung quan

trọng khi chuẩn bị triển khai Luật Thuế TNCN. Theo đó các cá nhân có thu

nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lƣơng tiền công sẽ đƣợc tính giảm trừ

gia cảnh khi tính thuế TNCN. Trên thực tế, ngƣời phụ thuộc bao gồm rất

nhiều đối tƣợng nên việc tính giảm trừ gia cảnh phải tuân thủ những nguyên

tắc sau:



6



Trích Thời báo kinh tế Việt Nam tháng 2/09



56



 Một là, cá nhân nộp thuế chỉ đƣợc tính giảm trừ gia cảnh cho ngƣời phụ

thuộc nếu đã đăng ký thuế và đƣợc cấp mã số thuế. Riêng năm 2009

trƣờng hợp chƣa đăng ký thuế thì vẫn tạm giảm trừ gia cảnh nếu thực

hiện đăng ký giảm trừ gia cảnh và có đủ hồ sơ chứng minh ngƣời phụ

thuộc theo quy định.

 Hai là, mỗi ngƣời phụ thuộc chỉ đƣợc tính giảm trừ một lần vào đối

tƣợng nộp thuế trong năm tính thuế. Ngƣời phụ thuộc mà đối tƣợng nộp

thuế có trách nhiệm nuôi dƣỡng phát sinh tháng nào thì đƣợc tính giảm

trừ tháng đó. Trƣờng hợp có chung một ngƣời phụ thuộc thì các đối

tƣợng nộp thuế phải tự thỏa thuận với nhau để có đăng ký giảm trừ vào

một đối tƣợng nộp thuế. Mức giảm trừ gia cảnh cho mỗi ngƣời phụ

thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng.

 Ba là, đối tƣợng nộp thuế có trách nhiệm kê khai số ngƣời phụ thuộc

đƣợc giảm trừ và phải chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về tính trung

thực trong việc kê khai này. Luật Thuế TNCN và các văn bản hƣớng

dẫn không cho phép thay đổi việc kê khai ngƣời phụ thuộc vào giữa

năm tính thuế, cũng nhƣ không cho phép chia đôi khoản giảm trừ gia

cảnh 1,6 triệu đồng cho hai ngƣời nộp thuế.

Việc kê khai phụ thuộc hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức tự giác của mỗi

ngƣời. Đơn vị chi trả không phải chịu trách nhiệm gì về việc kiểm tra kê khai

ngƣời phụ thuộc của ngƣời làm công ăn lƣơng mà việc kiểm tra sẽ hoàn toàn do

cơ quan thuế chịu trách nhiệm. Căn cứ vào bản kê khai của cá nhân đã nộp cho

cơ quan thuế sẽ kiểm tra đối chiếu. Trƣờng hợp phát hiện hồ sơ chứng minh

ngƣời phụ thuộc không đúng hoặc không đủ hoặc không phù hợp với tờ khai

đăng ký ngƣời phụ thuộc, cơ quan thuế sẽ thông báo cho ngƣời nộp thuế điều

chỉnh hoặc bổ sung. Trƣờng hợp không điều chỉnh hoặc bổ sung sẽ thông báo lại

cho đơn vị chi trả thu nhập để đơn vị chi trả thu nhập điều chỉnh lại số ngƣời phụ

thuộc đƣợc giảm trừ. Tuy nhiên, để đảm bảo phát hiện kịp thời các trƣờng hợp

57



cá nhân nộp thuế cố tình khai gian, khai trùng, khai không đúng về ngƣời phụ

thuộc, cơ quan thuế sẽ phối hợp với đơn vị chi trả thu nhập và hội đồng tƣ vấn

thuế phƣờng, xã để kiểm soát và quản lý. Bên cạnh đó, toàn bộ hồ sơ chứng

minh về ngƣời phụ thuộc gửi tới cơ quan thuế sẽ đƣợc nhập vào hệ thống cơ sở

dữ liệu. Trên cơ sở đó, hệ thống công nghệ thông tin tại cơ quan thuế sẽ xác lập

mã nhận diện về ngƣời phụ thuộc và chính mã nhận diện này sẽ cho phép cơ

quan thuế loại trừ những trƣờng hợp gian lận nhằm mục đích tránh thuế, lách

thuế.



4.3.2. Triển khai đăng ký và chứng minh giảm trừ gia cảnh.

Để đƣợc hƣởng quyền lợi tính giảm trừ cho ngƣời phụ thuộc thì bắt buộc

ngƣời nộp thuế phải có thu nhập từ tiền lƣơng tiền công, hay thu nhập từ kinh

doanh; đồng thời phải đăng ký hoặc kê khai và nộp hồ sơ chứng minh về ngƣời

phụ thuộc cho đơn vị trực tiếp quản lý và cơ quan thuế.

Công tác quản lý kê khai ngƣời phụ thuộc đã đƣợc hƣớng dẫn khá chi

tiết trong thông tƣ 84/2008/TT-BTC nay là TT 62 có kèm theo các mẫu tờ

khai thực hiện đăng ký và kê khai thuế TNCN. Bộ Tài chính đã chỉ đạo, thủ

tục kê khai ngƣời phụ thuộc phải rất đơn giản thuận tiện, thể hiện quan điểm

cải cách hành chính theo chiến lƣợc hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2010.

Ví dụ: Thủ tục đăng ký giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân có thu nhập từ tiền

lƣơng, tiền công thì ngay từ đầu năm phải tiến hành việc đăng ký ngƣời phụ

thuộc và nộp hồ sơ cho đơn vị mình đang làm việc để đƣợc tính tạm trừ vào

tiền lƣơng, tiền công trƣớc khi khấu trừ thuế.

Đầu năm, chậm nhất là ngày 30/1 đối tƣợng nộp thuế lập 02 bản đăng

ký ngƣời phụ thuộc đƣợc giảm trừ gia cảnh thông mẫu số 16/ĐK-TNCN gửi

cho cơ quan trả thu nhập. Trong năm nếu có sự thay đổi về ngƣời phụ thuộc

so với đăng ký đầu năm thì chậm nhất là sau 30 ngày kể từ ngày có thay đổi

(tăng, giảm) đối tƣợng nộp thuế cần khai 02 bản đăng ký điều chỉnh ngƣời



58



phụ thuộc theo mẫu số 16/ĐK-TNCN (ban hành kèm theo Thông tƣ 84/2008)

gửi cho cơ quan trả thu nhập.

Trƣờng hợp đối tƣợng nộp thuế ký hợp đồng lao động (hoặc có quyết

định tuyển dụng) sau ngày 30/1 thì thời hạn đăng ký ngƣời phụ thuộc chậm

nhất là ngày cuối cùng của tháng ký hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển

dụng.

Nếu trong năm có thay đổi về ngƣời phụ thuộc hoặc mức thu nhập,

ngƣời nộp thuế phải làm gì? Hồ sơ chứng minh ngƣời phụ thuộc ngƣời nộp

thuế chỉ nộp một lần cho cơ quan thuế mà không phải năm nào cũng nộp, khi

có thay đổi về tuổi tác của ngƣời phụ thuộc, chẳng hạn con cái hết tuổi vị

thành nhiên, máy tính sẽ tự động loại bỏ đối tƣợng phụ thuộc. Ngoài ra, đối

với những thay đổi về tăng thêm giảm đi, ngƣời nộp thuế phải khai điều chỉnh

bổ sung ngay trong năm. Căn cứ vào tờ khai điều chỉnh cơ quan chi trả thu

nhập sẽ áp dụng ngay.



4.3.3. Những vấn đề vƣớng mắc khi triển khai đăng ký giảm trừ gia

cảnh.

Một số khái niệm liên quan đến người phụ thuộc chưa được quy định rõ

ràng: Bộ Tài chính không hƣớng dẫn rõ khái niệm “không nơi nƣơng tựa” và

để chứng minh thuộc diện “không nơi nƣơng tựa”, cá nhân ngƣời nộp thuế

phải có các loại giấy tờ gì? Phƣơng án đƣợc đƣa ra là nên quy hiểu “không

nơi nƣơng tựa” là ngƣời sống cùng đối tƣợng nộp thuế, cách làm này sẽ giúp

cho UBND cấp xã, nơi đối tƣợng nộp thuế cƣ trú có thể xác nhận trách nhiệm

nuôi dƣỡng. Các cục thuế đề nghị cần bổ sung quy định về hồ sơ chứng minh

cho đối tƣợng này, cụ thể nhƣ quyết định của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền

quy định trách nhiệm nuôi dƣỡng của đối tƣợng nộp thuế đối với đối tƣợng này.

Thủ tục xác nhận giấy tờ chứng minh người phụ thuộc cũng rất phức

tạp: Quá nhiều loại giấy tờ cần kê khai, xác nhận; song ngƣời nộp thuế lại chỉ

59



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ THUẾ, KHAI THUẾ, NỘP THUẾ

Tải bản đầy đủ ngay(128 tr)

×