1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 128 (trang)
ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ

ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ

Tải bản đầy đủ - 128trang

đồng/tháng, đang nuôi 2 con nhỏ và 1 mẹ già, mức giảm trừ là 4,8 triệu đồng,

nhƣ vậy, thu nhập tính thuế là 15,2 triệu đồng, mức thuế phải đóng là 2,28 triệu

đồng/tháng, thấp hơn mức thuế khoán đang áp dụng theo Luật Thuế TNDN.

Nhƣ vậy, với những hộ kinh doanh có thu nhập thấp và số ngƣời phụ

thuộc đối với ngƣời đăng ký kinh doanh càng nhiều thì mức thuế phải nộp sẽ

càng ít đi. Đây là một điểm rất có lợi cho các cá nhân kinh doanh trong so

sánh với mức thuế họ đang phải chịu.

Số thu ngân sách từ các cá nhân kinh doanh có thể giảm, nhƣng đây là

một biện pháp động viên, khuyến khích để các hộ kinh doanh nhỏ vƣơn lên

thành những doanh nghiệp lớn, từ đó sẽ có đóng góp nhiều hơn, ổn định và

vững chắc hơn cho ngân sách nhà nƣớc. Đây chính là một trong những chính

sách thể hiện quan điểm khoan sức dân của Đảng và Nhà nƣớc, đƣợc cụ thể hóa

trong chính sách động viên thuế TNCN. Hơn nữa, việc chuyển các cá nhân kinh

doanh sang nộp thuế TNCN cũng hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế khi

Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO.

Những thuận lợi khi triển khai Luật Thuế TNCN với đối tƣợng cá nhân

kinh doanh.

Thứ nhất, từ nhiều năm nay, các cá nhân kinh doanh đã thực hiện nộp

thuế theo quy định của pháp luật nên nhận thức của họ về nghĩa vụ thuế đã trở

thành thói quen, nền nếp, do đó việc chuyển sang nộp thuế TNCN với họ chỉ

đơn giản là việc thay đổi tên gọi của loại thuế chứ không xáo trộn nhiều. Đây

chính là thuận lợi nền tảng và cơ bản nhất.

Thứ hai, quá trình quản lý thuế, nhất là quản lý thuế đối với hộ kinh

doanh, ngành thuế thƣờng xuyên nhận đƣợc sự phối hợp chặt chẽ của các cơ

quan quản lý nhà nƣớc, các cấp chính quyền địa phƣơng, các tổ chức, đoàn

thể; đặc biệt là sự hỗ trợ nhiệt tình và trách nhiệm của hội đồng tƣ vấn thuế xã

phƣờng, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế trong việc xác định



62



doanh số, chi phí, thu nhập, quản lý thu nộp thuế, đôn đốc và cƣỡng chế thu

hồi nợ đọng thuế.

Thứ ba, thực tế quá trình quản lý thuế đã cho đội ngũ cán bộ công chức

trực tiếp quản lý các hộ kinh doanh những thuận lợi để thấu hiểu từng đặc

điểm riêng có của đối tƣợng này, đề từ đây, rất nhiều địa phƣơng đã có sáng

kiến, biện pháp quản lý hiệu quả, đƣợc nhân rộng và đúc kết thành kinh

nghiệm chung của toàn ngành thuế.

Thứ tư, ngành thuế đã và đang đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ

thông tin (CNTT) vào quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với cá nhân

kinh doanh nói riêng. Những ứng dụng này đã giúp cơ quan thuế kiểm soát tốt

hơn về đối tƣợng nộp thuế, các căn cứ tính thuế và theo dõi tiến độ thu nộp

thuế. Đặc biệt, để triển khai Luật Thuế TNCN ngành thuế đã xây dựng nhiều

đề án ứng dụng CNTT vào quản lý nên chắc chắn hiệu quả sẽ đƣợc đảm bảo.

Những vƣớng mắc khi triển khai Luật thuế TNCN với đối tƣợng cá nhân

kinh doanh.

Nhƣ một đặc điểm mang tính cố hữu, đại bộ phận những cá nhân kinh

doanh đều không thực hiện chế độ kế toán hóa đơn chứng từ, mà nếu có thực

hiện cũng không đúng quy định, nên việc xác định chính xác doanh số kinh

doanh của đối tƣợng này là thách thức lớn.

Theo quy định tại quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá

thể (hiện nay là cá nhân kinh doanh - đối tƣợng nộp thuế mới của Luật thuế

TNCN) ban hành theo Quyết định 1201 QĐ/TCT-TCCB ngày 26/7/2004 của

Tổng cục Thuế tại tiết b, điểm 1, mục I, phần B đối với hộ ổn định thuế về

điều tra doanh thu thực tế: “Đội thuế chọn một số hộ kinh doanh đại diện cho

các ngành nghề, qui mô kinh doanh để điều tra điển hình làm căn cứ đánh giá

tình hình chính xác của các tờ khai do hộ kinh doanh tự kê khai và làm căn cứ

để hiệp thƣơng với hộ kinh doanh kê khai doanh thu không đúng hoặc ấn định

thuế đối với những hộ kinh doanh không kê khai, không nộp tờ khai”.

63



Hầu hết mức doanh thu tính thuế ổn định cho các hộ kinh doanh đều

không điều chỉnh theo kịp mức độ tăng của giá cả thị trƣờng. Cơ quan thuế

hiểu rõ điều đó nhƣng muốn điều chỉnh kịp thời phải trải qua bƣớc điều tra,

khảo sát lại doanh thu thực tế của hộ kinh doanh. Có một thực tế là, các hộ

kinh doanh khi lập tờ khai doanh thu thƣờng đối phó bằng cách kê khai thấp

hơn mức doanh thu thực tế, thậm chí kê khai thấp hơn cả doanh thu đã đƣợc

ổn định thuế kỳ trƣớc. Bởi vậy việc điều tra khảo sát doanh thu tính thuế

trong quá trình quản lý thuế đối với hộ sản xuất kinh doanh cá thể là một

trong những công việc không đơn giản.

Trong thực tiễn công tác, cán bộ quản lý phải thực hiện những nghiệp

vụ của mình trong khoảng thời gian nhất định và theo quy định trong mỗi đợt

điều tra, khảo sát điều chỉnh lại mức thuế cho phù hợp với thực tế kinh doanh.

Vì thế, tác nghiệp điều tra khảo sát doanh thu thực tế trở thành một công việc

không đơn giản, nhất là đối với các hộ kinh doanh hoạt động ở các đƣờng

phố. Thông thƣờng, cơ quan thuế nhận đƣợc một số tờ khai doanh thu của các

hộ kinh doanh và trong số đó, không ít những tờ khai doanh thu kê khai quá

thấp so với thực tế sản xuất. Một số hộ kinh doanh không lập và nộp tờ khai

cho biết, khi nhận đƣợc tờ khai từ cơ quan thuế, họ đều biết là sắp có đợt điều

chỉnh lại mức thuế phải nộp nên nghe ngóng chƣa vội kê khai. Vả lại, thƣờng

thì hộ kinh doanh chỉ chú trọng vào mức thuế phải nộp, ít lƣu tâm đến doanh

thu tính thuế, vì vậy khi phải kê khai mức doanh thu các hộ đều lo ngại và tìm

cách khai không đúng doanh thu đạt đƣợc trong kinh doanh.

Quá trình thực hiện công tác này đã cho thấy một số kinh nghiệm: Đối

với một số ngành nghề có thể tính toán đƣợc cụ thể nhƣ ăn uống, giải khát,

dịch vụ... thì cán bộ quản lý có thể tiến hành tác nghiệp điều tra doanh số một

cách nhanh gọn. Đối với một số ngành nghề dịch vụ có sử dụng nguồn điện

lƣới, cán bộ quản lý cần nắm doanh thu tƣơng ứng trên số kw/giờ điện nhƣ

xay sát, gia công cơ khí, sản xuất các mặt hàng tiêu dùng... Đối với loại hình

64



kinh doanh dịch vụ giải trí nhƣ karaoke, bi-a, internet, trò chơi điện tử... cần

căn cứ số giờ hoạt động bình quân để khảo sát doanh thu. Còn đối với các hộ

kinh doanh ngành thƣơng nghiệp, cán bộ quản lý phải nắm vững hình thức

kinh doanh là bán buôn, bán lẻ; nguồn cung cấp hàng hóa; những khách hàng

đến mua hàng thƣờng xuyên, điều kiện kinh doanh và sức mua bán thực tế

của từng nhóm hàng hóa qua điều tra các hộ cùng ngành nghề, qua ý kiến

ngƣời tiêu dùng... để có mức điều chỉnh doanh thu phù hợp.

Mặt khác, các đội thuế phải tăng cƣờng sự phối hợp với bộ phận tổng hợp

cung cấp thông tin kinh tế đƣợc cung cấp chứng từ xuất nhập hàng hóa của các

doanh nghiệp, hộ kinh doanh có sử dụng hóa đơn, chứng từ, từ đó có thể tiên

lƣợng doanh thu thực tế của các hộ kinh doanh. Một công việc cần thiết và

không kém phần quan trọng hỗ trợ đắc lực cho công tác điều tra doanh thu thực

tế đó là, niêm yết công khai doanh thu dự kiến của hộ kinh doanh tại các địa

điểm thích hợp, sau đó thông báo công khai địa điểm niêm yết để các hộ kinh

doanh biết và tham gia ý kiến, giúp cho cơ quan thuế có thêm cơ sở xác định

doanh thu của các hộ chƣa hợp lý, chƣa đúng thực tế sản xuất kinh doanh để

điều chỉnh lại.

Công tác điều tra khảo sát doanh thu thực tế để tính thuế là một trong

những công việc không đơn giản của cán bộ quản lý các hộ kinh doanh cá thể.

Công tác này nếu không đƣợc chú trọng đầu tƣ đúng mức, thực hiện đúng quy

trình và thủ tục pháp lý sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi phải tính toán

lại mức thuế để chuẩn bị kỳ ổn định thuế mới cho các hộ kinh doanh. Vì vậy,

để làm tốt công tác này, cán bộ quản lý phải không ngừng rèn luyện tƣ tƣởng,

đạo đức, lối sống, lòng tâm huyết với nghề và có tinh thần trau dồi học hỏi

chuyên môn nghiệp vụ, đảm bảo sâu sát với cơ sở, nhằm ổn định nguồn thu

và thiết lập công bằng xã hội.



65



Trong điều kiện thanh toán tiền mặt vẫn là phƣơng thức giao dịch kinh

tế chủ yếu ở nƣớc ta, đối với hộ kinh doanh càng phổ biến hơn, thì việc kiểm

soát các khoản thu phát sinh chẳng mấy dễ dàng.

Bên cạnh đó, việc quản lý gia cảnh đối với cá nhân kinh doanh cũng

phức tạp hơn so với người làm công ăn lương. Bởi trong khi quyền lợi về

chính trị và kinh tế của ngƣời làm công ăn lƣơng gắn chặt tƣơng đối với đơn

vị sử dụng lao động thì cá nhân kinh doanh, mọi quyền lợi có khả năng phát

sinh đều không gắn với tổ chức nào, nếu có gắn kết thì cũng rất lỏng lẻo, nên

những trƣờng hợp khai gia cảnh và ngƣời phụ thuộc không trung thực có thể

sẽ không ít. Ngoài ra, trên thực tế có một bộ phận không nhỏ các hộ kinh

doanh không có đăng ký kinh doanh nên các căn cứ pháp lý để xác định đối

tƣợng và quản lý thuế cũng rất khó mà tìm đƣợc.

Nhiều hộ kinh doanh cá thể sử dụng ngƣời thân nhƣ cha mẹ, con… để

cùng phụ kinh doanh theo kiểu lấy công làm lời nhƣng lại không đƣợc giảm

trừ gia cảnh trừ trƣờng hợp con chƣa thành niên. Những trƣờng hợp còn lại

tuy không đƣợc tính là ngƣời phụ thuộc nhƣng lại đƣợc tính chi phí tiền

lƣơng, tiền công vào chi phí kinh doanh để trừ đi khi xác định thu nhập chịu

thuế. Nếu hộ kinh doanh thực hiện chế độ kế toán hóa đơn chứng từ và có hợp

đồng lao động thì việc xác định chi phí đƣợc căn cứ vào sổ sách kế toán và

hợp đồng lao động. Nếu không thực hiện kế toán và hợp đồng lao động sẽ

thực hiện theo tỉ lệ khoán do cơ quan thuế quy định.



6. THỜI HẠN NỘP THUẾ

Ngày 6/2/2009 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tƣ số 27/2009/TT-BTC,

hƣớng dẫn thực hiện việc giãn thời hạn nộp thuế TNCN đến hết tháng 5/2009

sau khi có quá nhiều vƣớng mắc, chƣa chuẩn bị kịp để triển khai luật thuế cũng

nhƣ các yếu tố khách quan nhƣ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tác động.

Thông tƣ này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký là ngày 06/2/2009



66



và áp dụng cho các khoản thu nhập phát sinh từ ngày 01/01/02009 tức những

khoản thu nhập của năm 2008 vẫn phải nộp thuế TNCN nhƣ bình thƣờng.

Theo đó, đối tƣợng đƣợc giãn nộp thuế TNCN là cá nhân cƣ trú có thu

nhập chịu thuế từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công; thu nhập từ

đầu tƣ vốn; thu nhập từ chuyển nhƣợng vốn (bao gồm cả chuyển nhƣợng

chứng khoán); thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhƣợng quyền thƣơng mại

-- những khoản thu nhập này liên quan trực tiếp đến sản xuất kinh doanh;

ngoài ra còn có thu nhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ nhận quà tặng. Cá nhân

không cƣ trú có thu nhập chịu thuế từ đầu tƣ vốn, chuyển nhƣợng vốn (bao

gồm cả chuyển nhƣợng chứng khoán); thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ

nhƣợng quyền thƣơng mại cũng thuộc diện giãn nộp thuế TNCN.

Các đối tƣợng không đƣợc giãn nộp thuế gồm cá nhân cƣ trú có thu

nhập từ chuyển nhƣợng bất động sản; trúng thƣởng (chơi xổ số, đánh bạc);

nhận thừa kế; quà biếu, tặng; và đối với cá nhân không cƣ trú (kể cả trƣờng

hợp không hiện diện tại Việt Nam hoặc rời Việt Nam trƣớc ngày 30/6/2009)

có thu nhập chịu thuế là thu nhập từ kinh doanh, tiền lƣơng, tiền công, từ

chuyển nhƣợng bất động sản, trúng thƣởng, nhận thừa kế, nhận quà tặng. Nếu

phải nộp thì đóng góp của các khoản thu này chỉ chiếm 20% so với tổng

nguồn thu từ thuế TNCN vào ngân sách.

Thời gian đƣợc giãn nộp thuế là từ ngày 01/01/2009 đến hết ngày

31/05/2009. Sau đó việc tiếp tục hoãn hay phải nộp thuế TNCN sau thời điểm

trên sẽ đƣợc Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 5 diễn ra vào tháng 5/2009. Tuy

nhiên trƣớc mắt các đối tƣợng nộp thuế vẫn phải thực hiện kê khai, tính và

nộp thuế nhƣng phần thuế đó sẽ đƣợc hoàn trả cho ngƣời có thu nhập.

Trung tuần tháng 4/2009, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ phương án

miễn, giảm thuế TNCN năm 2009. Phƣơng án cụ thể chƣa đƣợc tiết lộ song các

mức miễn giảm đƣợc xây dựng theo hƣớng có lợi cho đại bộ phận dân chúng

(nghĩa là khoản thu nhập chịu thuế có thể có thể đƣợc miễn tới 6 tháng hoặc 7

67



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ

Tải bản đầy đủ ngay(128 tr)

×