1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 128 (trang)
1 Mục đích của việc giãn nộp thuế TNCN

1 Mục đích của việc giãn nộp thuế TNCN

Tải bản đầy đủ - 128trang

quả của chính sách kích thích tiêu dùng trong gói giải pháp kích thích nền

kinh tế của chính quyền Bush.

Vì thế Việt Nam cũng không nên trông chờ vào biện pháp kích cầu qua

thuế vì đấy chỉ là biện pháp nhất thời và vẫn dựa trên cái “nền” cũ. Phải cải

cách, thay đổi cái “nền”, tức là khắc phục những bất ổn của kinh tế vĩ mô đó

mới là giải pháp căn cơ. Nhƣng có thể khẳng định rằng biện pháp này chắc

chắn sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so với việc tăng lƣơng.

6.2. Trình tự, thủ tục giãn nộp thuế TNCN.

Trình tự thủ tục mà đối tƣợng chịu thuế TNCN phải thực hiện để đƣợc

giãn nộp thuế khá đơn giản:

 Đối với cá khoản thu nhập phải khấu trừ thuế: tổ chức, cá nhân chi trả

các khoản thu nhập phải khấu trừ thuế TNCN cho các đối tƣợng đƣợc

giãn nộp thuế, khi trả thu nhập vẫn tính số thuế phải khấu trừ và thông

báo cho cá nhân nhận thu nhập biết số thuế khấu trừ đƣợc tạm giãn

nộp; hàng tháng vẫn phải lập tờ khai số thuế đã khấu trừ theo quy định

hiện hành và nộp tờ khai cho cơ quan thuế để cơ quan thuế nắm đƣợc

số thuế phát sinh nhƣng đƣợc giãn nộp thuế.

 Đối với các khoản TNCN nộp thuế phải trực tiếp kê khai với cơ quan thuế.

 Cá nhân thuộc đối tƣợng đƣợc giãn nộp thuế có các khoản thu nhập

theo quy định phải khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế vẫn phải lập và

nộp tờ khai thuế theo quy định hiện hành.

Số thuế đƣợc giãn nộp, cá nhân có thu nhập giữ lại trong thời gian đƣợc

giãn. Đến tháng 5 năm 2009, Chính phủ sẽ trình Quốc hội quyết định việc xử lý

số thuế đƣợc giãn nộp này, khi đó sẽ thực hiện theo quyết định của Quốc hội.

6.3. Những vấn đề vƣớng mắc khi thực hiện quá trình giãn nộp thuế

TNCN.



70



Theo hƣớng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tƣ 27/2009 ban hành vào

ngày 6/2/2009 trong thời gian giãn nộp thuế, cá nhân cá thu nhập sẽ đƣợc giữ lại

số thuế TNCN đƣợc giãn nộp và sau đó có nộp lại hay miễn nộp luôn sẽ phải

chờ Quốc hội quyết định vào tháng 5 tới. Còn nơi chi trả thu nhập, thay vì tạm

khấu trừ thuế TNCN nay chỉ cần tính toán, thông báo số thuế đƣợc giãn nộp cho

cá nhân đó biết và lập tờ khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Chính sách

giãn nộp thuế TNCN này tác động đến khá nhiều đối tƣợng nộp thuế, trong đó

theo thống kế chỉ riêng tại TP Hồ Chí Minh, con số này đã lên tới 2 triệu

ngƣời.8

Tuy nhiên từ đầu tháng 1/2009 đến trƣớc ngày nhận đƣợc hƣớng dẫn

của Bộ Tài chính, các Cục thuế vẫn triển khai thực hiện khấu trừ, kê khai và

nộp thuế TNCN vào ngân sách nhà nƣớc đúng theo Luật Thuế TNCN. Nhƣ

vậy, việc hƣớng dẫn chậm không những làm cho ngƣời đƣợc giãn thuế bị

thiệt hại mà còn phát sinh rắc rối: sẽ giải quyết nhƣ thế nào với số thuế TNCN

đã lỡ khấu trừ và nộp vào ngân sách nhà nƣớc? Một vấn đề cũng khiến các

đơn vị chi trả thu nhập hết sức lo lắng là trách nhiệm của họ khi thực hiện

chính sách.

Một vài thắc mắc nhƣ là: “Nếu sau này Quốc hội bắt nộp lại mà người

được giãn thuế bỏ việc xù luôn không tự giác nộp lại thì làm sao? Trách

nhiệm của đơn vị chi trả thu nhập đến đâu?” Không chỉ đơn vị chi trả, ngay

cả ngƣời đƣợc giãn thuế cũng có nỗi lo riêng. Mục tiêu của việc giãn thuế là

để “kích cầu” nhƣng nếu chi tiêu hết số thuế được giãn thì lấy đâu ra nếu sau

này bắt nộp lại? Và nếu nộp lại thì nộp cho ai; đơn vị chi trả hay tại Kho bạc

Nhà nước? Về vấn đề này, cơ quan thuế khẳng định nếu sau này Quốc hội

quyết định phải nộp lại số thuế TNCN đƣợc giãn nộp, thì tổ chức, cá nhân chi

trả thu nhập sẽ không chịu trách nhiệm về số thuế không thể thu hồi đƣợc do



8



Tạp chí Thuế tháng 3/09



71



cá nhân đã nghỉ việc... Tuy nhiên, quy định cụ thể và cuối cùng về số thuế

đƣợc giãn nộp nói trên vẫn phải chờ quyết định của Quốc hội vào tháng 5 tới.

Hay có những điểm không ổn về mặt pháp lý trong văn bản hƣớng dẫn của

Bộ Tài chính. Theo Thông tƣ 27/2009, cá nhân có thu nhập sẽ đƣợc giữ lại thuế

TNCN trong thời gian giãn nộp trong khi điều 27 NĐ100/2008 của Chính phủ lại

quy định thuế TNCN phải đƣợc thu trƣớc khi chi trả thu nhập. Nhƣ vậy, việc hƣớng

dẫn trên phải chăng trái luật và rủi ro về pháp lý nếu thực thi? Việc cho cá nhân giữ

lại số thuế giãn nộp, chƣa khấu trừ theo hƣớng dẫn tại Thông tƣ 27/2009 của Bộ Tài

chính là không trái với NĐ100/2008 vì văn bản của Bộ Tài chính đƣợc ban hành

dựa trên nghị quyết số 30/2008 của Chính phủ ngày 11/12/2008 về những giải pháp

cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trƣởng kinh tế, bảo đảm an

sinh xã hội. Trong đó về chính sách tài chính, tiền tệ có biện pháp về triển khai thực

hiện Luật Thuế TNCN theo hƣớng hỗ trợ khó khăn cho một số đối tƣợng nộp thuế.

6.4. Hoàn trả khoản thuế TNCN đã tạm thu

Một trong những điểm đáng chú ý về các loại thu nhập đƣợc giãn nộp

thuế cá nhân là diện giãn thuế đã bao gồm cả những thu nhập có nguồn gốc

trong năm 2008 nhƣ tiền lƣơng, tiền thƣởng... nhƣng chi trả vào năm 2009.

Riêng đối với số thuế thu nhập của ngƣời có thu nhập cao phải nộp trong năm

2008 nhƣng chƣa nộp hoặc qua kiểm tra phát hiện, thực hiện truy thu không

thuộc diện đƣợc giãn thời hạn nộp thuế.

Cụ thể, theo hƣớng dẫn tại Công văn số 1823/BTC - TCT cơ quan thuế

phải hoàn thành các thủ tục để hoàn trả lại số thuế TNCN thuộc diện đƣợc giãn

đã đƣợc đơn vị chi trả thu nhập khấu trừ hoặc nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.

Các đơn vị chi trả thu nhập đã tạm khấu trừ thuế nhưng chưa nộp vào

ngân sách Nhà nước sẽ được hoàn trả theo trình tự:



72



 Bộ phận kế toán (tài vụ) lập bảng kê các trƣờng hợp đã tạm khấu trừ

thuế TNCN (trong đó nêu cụ thể thu nhập chịu thuế, số thuế đã tạm

khấu trừ của từng cá nhân) và trình lãnh đạo đơn vị phê duyệt.

 Căn cứ vào bảng kê đã đƣợc phê duyệt đơn vị chi trả thông báo cho các

cá nhân tới nhận lại số thuế đơn vị đã tạm khấu trừ. Các cá nhân khi

nhận lại số thuế đã tạm khấu trừ phải ký xác nhận vào bảng kê. Các

trƣờng hợp khấu trừ thuế đã cấp chứng từ khấu trừ cho ngƣời nộp thuế

thì khi thoái trả số thuế đã tạm khấu trừ, đơn vị chi trả phải thu hồi

chứng từ khấu trừ thuế đã cấp.

Thời điểm các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả

số thuế đã khấu trừ chậm nhất là ngày làm việc cuối cùng của tháng 2 tức là

28/2/2009.

Đối với các cơ quan, đơn vị không giữ lại số thuế TNCN của đối tƣợng

đƣợc giãn thuế mà phải hoàn trả cùng với số thu nhập chi trả của tháng cho

những đối tƣợng đƣợc giãn nộp thuế cùng với thu nhập chi trả.

Trong trƣờng hợp đơn vị chi trả thu nhập đã khấu trừ thuế vào ngân

sách Nhà nƣớc thì phải có văn bản đề nghị cơ quan thuế hoàn trả khoản tiền

nằm trong diện đƣợc giãn nộp. Căn cứ vào hồ sơ đề nghị hoàn thuế hợp lệ của

đơn vị chi trả, cá nhân nộp thuế, cơ quan thuế kiểm tra và ra quyết định hoàn

thuế gửi cơ quan Kho bạc để hoàn trả.

Thời gian hoàn trả chậm nhất là 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đƣợc

hồ sơ hợp lệ. Đơn vị chi trả thu nhập nhận đƣợc số tiền thuế hoàn trả phải có

trách nhiệm trả lại tiền thuế cho cá nhân có thu nhập trong thời hạn 5 ngày, kể

từ ngày nhận đƣợc tiền hoàn thuế.



73



7. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ

TRÌNH TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN

7.1. Những thuận lợi trong quá trình triển khai áp dụng Luật Thuế

TNCN

7.1.1. Công tác chuần bị khá kỹ lƣỡng trƣớc thời điểm Luật thuế

TNCN có hiệu lực.

Việc triển khai Luật thuế TNCN có đƣợc những thuận lợi hết sức to lớn

đó là sự tập trung chỉ đạo của Chính phủ, sự phối hợp của các bộ, ngành, các

địa phƣơng. Để triển khai thành công, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị về việc

triển khai Luật thuế TNCN trong cả nƣớc, đồng thời thành lập Ban chỉ đạo

trung ƣơng để xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể trong phạm vi cả nƣớc,

phân công nhiệm vụ cho từng bộ, ngành phải đảm bảo các công việc để chuẩn

bị cho việc triển khai chung.

Hơn thế nữa, công tác tuyên truyền phổ biến cho các đối tƣợng nộp

thuế về nội dung cũng nhƣ các thủ tục để thực hiện kê khai thuế nhƣ đăng ký

mã số thuế... những việc mà ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền lợi của ngƣời nộp

thuế cũng đƣợc thực hiện khá tốt, chu đáo và đầy đủ.

Tổng cục Thuế cũng thực hiện đào tạo đội ngũ cán bộ thuế sao cho đội

ngũ này đủ khả năng và tinh thần để triển khai thực thi Luật thuế TNCN, biết

ứng dụng công nghệ thông tin vào công việc và có ý thức phục vụ ngƣời nộp

thuế một cách tốt nhất.



7.1.2. Nội dung tiến bộ của Luật Thuế TNCN khiến quá trình triển

khai có những điểm thuận lợi.

Tính ƣu việt của Luật Thuế TNCN là những ngƣời có gia cảnh khác

nhau sẽ nộp thuế khác nhau, chứ không cào bằng và khi đƣa vào thực hiện Luật

Thuế TNCN, số ngƣời nộp thuế tăng không nhiều và mức thuế phải nộp thì ít

đi. Khác với thuế thu nhập cao trƣớc đây bởi tính thuế trực tiếp trên số thu nhập

74



thực chất, thuế TNCN có nhiều điểm mới nhƣ giảm trừ gia cảnh, ngƣời phụ

thuộc, các tiêu chuẩn miễn trừ khác nhau trong các hoạt động kinh doanh về

chứng khoán, bất động sản... Đây là những yếu tố mang tính kỹ thuật và nếu

biết vận dụng, số thuế thu nhập sẽ giảm đi đáng kể. Hiểu đƣợc nội dung tiến bộ

của Luật thuế cũng nhƣ tính toán đƣợc mức thuế thực tế phải nộp ít đi, rất

nhiều đối tƣợng nộp thuế rất háo hức và ủng hộ khi Luật Thuế TNCN có hiệu

lực. Họ chủ động tìm hiểu kĩ lƣỡng các quy định mới của Luật thuế và chủ

động khi thực hiện các thủ nhƣ đăng kí, kê khai thuế... vì thế việc triển khai áp

dụng Luật Thuế TNCN vào thực tiễn cuộc sống cũng khá thuận lợi.

Ví dụ:

Đối với ngƣời có thu nhập từ bất động sản hay chứng khoán, việc tính thu

nhập chịu thuế đều đi kèm với nhiều quy định về kỹ thuật liên quan đến việc

giảm trừ... Theo quy định của luật, việc bán căn nhà duy nhất không phải nộp

thuế thì ngƣời có nhiều bất động sản có thể vận dụng các quy định liên quan để

thực hiện việc cho, tặng nhà cho ngƣời thân và nhờ họ đứng tên bán thì không

phải tính thuế. Bản thân mình chỉ đứng tên bán một căn nhà thì cũng không phải

chịu thuế. Hơn nữa, nhà đƣợc xác định tính thuế và xác nhận chuyển nhƣợng là

nhà đất đã hoàn thành giấy tờ và đứng tên. Vì thế, ngƣời có nhiều nhà có thể

vận dụng là bán nhà đến đâu thì làm giấy tờ chính thức đến đó để luôn đƣợc xác

định tình trạng chỉ có một bất động sản duy nhất và không phải nộp thuế.

Nhƣ vậy, có rất nhiều cách vận dụng Luật Thuế để quyền lợi của ngƣời

dân không những không bị ảnh hƣởng mà còn có lợi cho họ hơn. Do đó

không có lý do gì mà phần lớn các đối tƣợng nộp thuế không ủng hộ việc thực

thi Luật thuế TNCN.

Hơn thế nữa, việc cải cách Luật Thuế TNCN cho phù hợp hơn với các

quy tắc của thuế TNCN trên thế giới là một thuận lợi rất lớn khi triển khai áp

dụng Luật thuế này. Bởi Luật thuế không chỉ điều chỉnh đối tƣợng nộp thuế là

ngƣời Việt Nam mà còn điều chỉnh đối tƣợng là ngƣời nƣớc ngoài. Việc

75



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Mục đích của việc giãn nộp thuế TNCN

Tải bản đầy đủ ngay(128 tr)

×