1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 128 (trang)
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN

NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN

Tải bản đầy đủ - 128trang

thực chất, thuế TNCN có nhiều điểm mới nhƣ giảm trừ gia cảnh, ngƣời phụ

thuộc, các tiêu chuẩn miễn trừ khác nhau trong các hoạt động kinh doanh về

chứng khoán, bất động sản... Đây là những yếu tố mang tính kỹ thuật và nếu

biết vận dụng, số thuế thu nhập sẽ giảm đi đáng kể. Hiểu đƣợc nội dung tiến bộ

của Luật thuế cũng nhƣ tính toán đƣợc mức thuế thực tế phải nộp ít đi, rất

nhiều đối tƣợng nộp thuế rất háo hức và ủng hộ khi Luật Thuế TNCN có hiệu

lực. Họ chủ động tìm hiểu kĩ lƣỡng các quy định mới của Luật thuế và chủ

động khi thực hiện các thủ nhƣ đăng kí, kê khai thuế... vì thế việc triển khai áp

dụng Luật Thuế TNCN vào thực tiễn cuộc sống cũng khá thuận lợi.

Ví dụ:

Đối với ngƣời có thu nhập từ bất động sản hay chứng khoán, việc tính thu

nhập chịu thuế đều đi kèm với nhiều quy định về kỹ thuật liên quan đến việc

giảm trừ... Theo quy định của luật, việc bán căn nhà duy nhất không phải nộp

thuế thì ngƣời có nhiều bất động sản có thể vận dụng các quy định liên quan để

thực hiện việc cho, tặng nhà cho ngƣời thân và nhờ họ đứng tên bán thì không

phải tính thuế. Bản thân mình chỉ đứng tên bán một căn nhà thì cũng không phải

chịu thuế. Hơn nữa, nhà đƣợc xác định tính thuế và xác nhận chuyển nhƣợng là

nhà đất đã hoàn thành giấy tờ và đứng tên. Vì thế, ngƣời có nhiều nhà có thể

vận dụng là bán nhà đến đâu thì làm giấy tờ chính thức đến đó để luôn đƣợc xác

định tình trạng chỉ có một bất động sản duy nhất và không phải nộp thuế.

Nhƣ vậy, có rất nhiều cách vận dụng Luật Thuế để quyền lợi của ngƣời

dân không những không bị ảnh hƣởng mà còn có lợi cho họ hơn. Do đó

không có lý do gì mà phần lớn các đối tƣợng nộp thuế không ủng hộ việc thực

thi Luật thuế TNCN.

Hơn thế nữa, việc cải cách Luật Thuế TNCN cho phù hợp hơn với các

quy tắc của thuế TNCN trên thế giới là một thuận lợi rất lớn khi triển khai áp

dụng Luật thuế này. Bởi Luật thuế không chỉ điều chỉnh đối tƣợng nộp thuế là

ngƣời Việt Nam mà còn điều chỉnh đối tƣợng là ngƣời nƣớc ngoài. Việc

75



chỉnh sửa nội dung Luật phù hợp hơn với chuẩn chung thể hiện sự tiến bộ

trong chính sách của Nhà nƣớc Việt Nam và đƣợc đối tƣợng không cƣ trú ủng

hộ.

7.2. Những khó khăn khi triển khai áp dụng Luật Thuế TNCN

Tuy có những điểm thuận lợi hết sức cơ bản nhƣng những khó khăn

gặp phải khi triển khai áp dụng Luật Thuế TNCN là vô cùng lớn. Nói chung

là những khó khăn gặp phải nhiều hơn là thuận lợi.



7.2.1. Khó khăn trong khâu quản lý thu nhập.

Có thể khẳng định rằng, yếu tố tiền đề quyết định chất lƣợng, hiệu quả

việc thực thi Luật thuế TNCN chính là công tác quản lý thu nhập dân cƣ. ở

các nƣớc phát triển, mọi giao dịch kinh tế phát sinh trong xã hội đều thực hiện

thanh toán không dùng tiền mặt thì vấn đề kiểm soát thu nhập dân cƣ khá

thuận lợi, nhƣng đối với Việt Nam, khi giao dịch tiền mặt còn phổ biến thì

đây là một thách thức rất lớn. Do đó để giảm thiểu những rủi ro, thất thoát

trong quản lý thuế, đảm bảo động viên đúng mức thu nhập, tạo sự công bằng

và bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế giữa mọi cá nhân trong xã hội là một vấn

đề rất khó khăn.

Một nghịch lý gần nhƣ hiển nhiên trên thực tế là những cá nhân có thu

nhập hạn hẹp, chủ yếu là tiền công, tiền lƣơng (hiện đang thực hiện trả lƣơng

qua tài khoản) thì bị kiểm soát chặt, hầu nhƣ không sót đồng nào, nhƣng

những ngƣời mà địa vị chính trị cho họ những đặc quyền đặc lợi từ việc nhận

quà biếu, quà tặng bằng tiền thì việc kiểm soát thu nhập lại rất khó. Theo phân

tích của cơ quan chức năng thì quà biếu quà tặng là một trong những khoản

thu nhập phải chịu thuế TNCN nên đơn vị chi quà tặng phải có trách nhiệm

cung cấp thông tin cho cơ quan thuế để tính vào thu nhập của cá nhân khi

quyết toán. Nhƣng với điều kiện hiện nay của Việt Nam, để kiểm soát đƣợc

chính xác đầy đủ mọi khoản thu nhập của cá nhân trong nền kinh tế mà đặc

76



biệt là những khoản quà biếu tặng là rất khó. Tuy nhiên cũng phải lƣu ý rằng

không phải tất cả các khoản quà tặng đều phải tính thuế mà chỉ có một số loại

quà tặng nhất định là thuộc diện chịu thuế bao gồm cổ phiếu, bất động sản

chuyển nhƣợng...



7.2.2. Khó khăn trong công tác triển khai Luật Thuế TNCN đối với đối

tƣợng thuộc khu vực kinh tế phi chính thức.

Không đăng ký kinh doanh, không thực hiện thống kế kế toán, không hợp

đồng lao động... khu vực kinh tế phi chính thức (các hộ và cá nhân kinh doanh)

có thể là rào cản lớn nhất đối với việc thực thi Luật Thuế TNCN tại Việt Nam.

Khu vực kinh tế phi chính thức đƣợc hiểu một cách đơn giản nhất là

các đơn vị sản xuất, kinh doanh cá thể không có giấy phép kinh doanh, hoặc

có đăng ký kinh doanh nhƣng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật

Doanh nghiệp. Nhận định về khối này, chuyên gia từ IDS Paris, ông Jean

Pierre Cling (IDS Paris) cho rằng tuy chiếm tỷ lệ lớn về lao động và có đóng

góp đáng kể cho GDP của Việt Nam, nhƣng khối kinh tế phi chính thức đang

nằm “ngoài lề” nền kinh tế.

Khó áp dụng Luật thuế TNCN đối với khu vực kinh tế phi chính thức

bởi những lý do sau:

 Quy mô nhỏ, không có địa điểm cố định nào là rào cản đầu tiên đối với

việc xác định đối tƣợng nộp thuế từ khối kinh tế phi chính thức: Theo

kết quả tổng hợp của IDS Paris, khối kinh tế phi chính thức chủ yếu là

các đơn vị kinh tế quy mô nhỏ, số lao động bình quân chỉ 1,4 ngƣời. Đa

số các đơn vị hoạt động dịch vụ, số đơn vị có hoạt động sản xuất, chế

biến chỉ chiếm khoảng 20% nhƣng phần lớn hoạt động bấp bênh. Trong

số đó, chỉ có 20% có cơ sở sản xuất cố định.9



9



Trích thời báo Kinh té Việt Nam tháng 01/09



77



 Đối với lao động làm thuê trong khu vực này, nghiên cứu của IDS Paris

cũng cho biết không có tới 2/3 số lao động không có hợp đồng lao

động, vì vậy cũng không có bảo hiểm và các phúc lợi xã hội (ví dụ nghỉ

Tết đƣợc trả lƣơng), có rât nhiều lao động thuộc diện hợp đồng miệng.

 Khoản 70% đơn vị thuộc khối kinh tế phi chính thức chỉ có một ngƣời,

cũng đồng nghĩa với việc tối thiểu có 70% đơn vị không có hệ thống sổ

sách kế toán, không có chứng từ, hóa đơn, không xác định đƣợc doanh

thu, lợi nhuận...

 Một khó khăn nữa là thông tin liên quan đến các hoạt động kinh tế của

khu vực này rất hạn chế. Rất ít cơ sở thuộc khu vực kinh tế phi chính

thức đƣợc tiếp cận với nguồn tài chính từ phía ngân hàng, các định chế

tài chính, cũng nhƣ tiếp cận các hỗ trợ từ cả khu vực công và tƣ.

Trƣớc câu hỏi điều tra về mong muốn của doanh nghiệp đối với việc chính

thức hóa, đa số đơn vị kinh doanh thuộc khu vực kinh tế phi chính thức cho

rằng quy mô hoạt động của đơn vị mình quá nhỏ, không bắt buộc phải đăng

ký kinh doanh. Đồng quan điểm này, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho

rằng, việc thiếu hỗ trợ đối với khu vực kinh tế phi này nhƣ hiện nay không tạo

đƣợc động lực cho các doanh nghiệp phi chính thức phấn đấu để chính thức

hóa. Chính vì những lí do trên mà việc áp dụng Luật Thuế TNCN đối với đối

tƣợng thuộc khu vực phi kinh tế là vô cùng khó khăn



7.2.3. Khó khăn do công tác chuẩn bị triển khai Luật thuế TNCN

chƣa thật sự dầy đủ.

Theo cơ quan thuế thì việc chuẩn bị của cơ quan thuế để triển khai áp

dụng Luật Thuế TNCN có rất nhiều điều bất cập, đặc biệt là số lƣợng công việc

liên quan đến các chƣơng trình về máy tính quản lý công nghệ thông tin, đƣa

tin học vào quản lý. Đối với cán bộ - công chức làm công tác quản lý thuế



78



TNCN còn rất thiếu. Trên toàn quốc chỉ có 500 ngƣời trong khi theo tính toán

phải có chừng 2.000 ngƣời mới làm đƣợc.10

Riêng việc dự luật đặt vấn đề đƣa hộ kinh doanh vào diện đối tƣợng điều

chỉnh của Luật Thuế TNCN, có không ít chuyên gia cho rằng, với hàng triệu hộ

kinh doanh hiện có, chƣa tính đến mức độ gia tăng theo cấp số nhân, thì nếu

ngành thuế không có phƣơng án chuẩn bị thì khi luật thuế có hiệu lực cũng khó có

tính khả thi, bởi ngành thuế không thể “ôm” nổi khối lƣợng công việc khổng lồ

này.

Và quả đúng nhƣ vậy, thực tế khi triển khai Luật Thuế TNCN đã gặp

phải những vấn đề trên. Gần nhƣ hệ thống máy tính hiện đại để quản lý hồ sơ,

và các ứng dụng công nghệ thông tin nhƣ kế hoạch của Cục thuế, các ban

ngành không hề xuất hiện. Đội ngũ cán bộ thiếu trầm trọng dẫn đến tình trạng

ùn tắc tại các Cục thuế khi các đối tƣợng thuế đến thực hiện đăng ký thuế.

Hơn thế nữa, sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế, đăng ký mã số thuế cá

nhân, các Cục thuế xử lý rất chậm và việc hoàn thành đúng thời hạn cấp trả

mã số thuế cho các đối tƣợng nộp thuế chƣa chắc đã thực hiện đƣợc.



7.2.4. Khó khăn khi triển khai áp dụng Luật Thuế TNCN trong bối

cảnh nền kinh tế thế giới khủng hoảng.

Trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, nhiều ngƣời bị thất nghiệp thu nhập

giảm sút. Thu nhập thấp dẫn đến chi tiêu ảnh hƣởng, đời sống khó khăn,

ngƣời dân thắt chặt chi tiêu và tâm lý bất bình khi bỗng dƣng mất một khoản

tiền (có thể là không quá lớn) cho đóng thuế TNCN - khoản tiền mà trƣớc đây

có thể họ không phải nộp thuế theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có

thu nhập cao là điều không phải hiếm thấy. Do đó công tác tuyên truyển để

triển khai áp dụng hiệu quả Luật Thuế TNCN gặp rất nhiều khó khăn.



10



Tạp chí Thuế số tháng 12/2008



79



Chính vì thế Bộ Tài chính đã ban hành Thông tƣ 27/2009 giãn thời hạn

nộp thuế đến tháng 5/2009 để tạo điều kiện cho đối tƣợng nộp thuế cũng nhƣ

là một biện pháp để kích thích tiêu dùng. Quyết định này của Bộ Tài chính

đƣợc sự ủng hộ của đông đảo các đối tƣợng nộp thuế TNCN.



80



CHƢƠNG III

BIỆN PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ LUẬT

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

1. THỰC TẾ TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ TNCN Ở MỸ

Thuế TNCN là nguồn thu chủ yếu và quan trọng bảo đảm nguồn tài

chính của nƣớc Mỹ. Từ tổng thống cho đến ngƣời bình thƣờng đều phải đóng

thuế. Để điều chỉnh mức thu nhập tăng trƣởng quá nhanh của tầng lớp giàu

có, Mỹ tăng tỷ lệ thu thuế ngƣời giàu và giảm thu thuế ngƣời nghèo. Nguyên

tắc cơ bản để thu thuế là thu nhập càng cao đóng thuế càng nhiều.

Quy định về thu nhập của Mỹ tƣơng đối phức tạp, không những chú

trọng thu nhập cá nhân mà còn chú trọng đến các thành viên trong gia đình.

Cùng một mức thu nhập nhƣng khoản nộp thuế của một đôi vợ chồng có con

nhỏ và một đôi vợ chồng không có con chênh lệch khá nhiều.

Ngƣời có thu nhập cao là đối tƣợng chủ yếu nộp thuế, ƣớc tính 60%

tổng nguồn thuế TNCN ở Mỹ thu từ ngƣời có thu nhập 100.000 USD (1,58 tỷ

đồng Việt Nam) mỗi năm trở lên. 11

Thuế TNCN để chống tham nhũng.

Những lợi tức dễ dàng từ các hoạt động phi pháp, phạm pháp là nguyên

do của tham nhũng và phần lớn các loại tội phạm, tệ nạn xã hội ở Mỹ. Vì vậy

luật thuế TNCN của Mỹ không giới hạn các loại nguồn thu nhập chịu thuế

nhƣ ở điều 3 Luật Thuế TNCN Việt Nam đã làm. Nói cách khác, luật thuế Mỹ

chẳng những không giới hạn mà còn quy định công dân phải kê khai tất cả

các nguồn thu nhập, hợp pháp lẫn phi pháp. Trong mẫu khai thuế có một dòng

ghi “Các khoản thu nhập khác:” dành cho mục đích này.



11



Website Vietnamnet.vn tháng 6/2008;



81



Các thông tƣ hƣớng dẫn kê khai thuế Mỹ đều yêu cầu rõ phải kê khai

luôn các khoản thu nhập phi pháp (other illegal income) nhƣ hối lộ, biển thủ,

cờ bạc, bảo kê, ma túy, trộm cƣớp, buôn lậu, tiền giả, lừa đảo... Để tăng

cƣờng phòng chống tham nhũng và tội phạm, điều 3 Luật thuế TNCN Việt

Nam có lẽ cũng nên bổ sung một điều khoản kỹ thuật, đó là loại thu nhập thứ

15: “Các loại thu nhập bất chính hoặc phi pháp”.

Nghe thật buồn cƣời, vì đã là thu nguồn phi pháp thì ai dám kê khai.

Tuy nhiên, đây là điều khoản mang tính kỹ thuật tinh vi của Quốc hội Mỹ.

Luật thuế ghi nhƣ vậy để tránh công dân “né thuế” kiện ngƣợc rằng luật

không quy định. Hơn thế nữa, luật thuế bắt buộc phải khai báo luôn cả các thu

nhập phi pháp nhằm mục đích “kèm thêm” tội trốn thuế vào các tội hình sự,

bởi vì những tội phạm hình sự thƣờng không khai báo các loại thu nhập phi

pháp này và kẻ tham nhũng cũng thế.

Một ví dụ rất nổi tiếng là vụ trùm mafia Al Capone ở Chicago, Mỹ.

Tuy các luật sƣ đã biện hộ cho Al Capone thoát tội danh cƣớp của giết ngƣời

nhƣng các nhân viên sở thuế vẫn tìm ra cách nhốt Al Capone 11 năm tù với

tội danh trốn thuế, sau khi chứng minh tài sản của Al Capone đã tăng lên đều

đặn hàng năm mà không hề đóng thuế.12 Việc quy định phải khai báo các

khoản thu nhập phi pháp cũng nhằm tạo cơ sở pháp lý để cơ quan điều tra mở

rộng phạm vi điều tra, phân tích mức sống xa hoa và tài sản thuộc quyền

khống chế và sở hữu của nghi can, nhằm làm sáng tỏ các nghi án hối lộ và

tham nhũng vốn thƣờng đi kèm với các nghi án trốn thuế.

1.1. Triển khai kê khai và thu nộp thuế TNCN tại Mỹ.

Phƣơng pháp quản lý ngƣời nộp thuế:

Mỹ quản lý ngƣời nộp thuế thông qua Số An sinh xã hội (SSN - Social

Security Number) hoặc Số xác định ngƣời nộp thuế thu nhập cá nhân dành

cho ngƣời nƣớc ngoài (ITINs - Individual Taxpayer Identification Numbers).

12



Nhƣ chú thích 11



82



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN

Tải bản đầy đủ ngay(128 tr)

×