1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 128 (trang)
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN TẠI VIỆT NAM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 128trang

Thứ ba là, cơ quan thuế sẽ dựa vào hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm

chính quyền và hội đồng tƣ vấn thuế phƣờng, xã để có đƣợc những thông tin

về thu nhập của cá nhân, nhất là các cá nhân kinh doanh.

Cũng để kiểm soát đƣợc thu nhập thì một trong những giải pháp mà

ngành thuế cần làm đó chính là nâng cao chất lƣợng công tác tuyên truyền, giải

thích, động viên, hƣớng dẫn nhằm khuyến khích, khơi dậy tinh thần tự nguyện,

tự giác của mọi công dân trong việc thực hiện tốt nghĩa vụ khai, nộp thuế

TNCN.

Hơn thế nữa, cần thúc đẩy sự phát triển của ngành tài chính ngân hàng,

mở rộng hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt (trả lƣơng qua thẻ ATM, qua

tài khoản...) nhƣng phải đảm bảo sự thuận tiện, nhanh chóng và an toàn cho

khách hàng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về sự thuận tiện của việc thanh

toán không dùng tiền mặt trong các trƣờng học, cơ quan, xí nghiệp... thông qua

các phƣơng tiện thông tin đại chúng hay tuyên truyển trực tiếp... Bên cạnh đó,

cần tăng cƣờng hợp tác, nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc

tế về thuế TNCN; tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật của các tổ chức tài chính,

tiền tệ quốc tế và các tổ chức chính phủ, tƣ nhân và cá nhân nƣớc ngoài.

Với đối tượng là cá nhân kinh doanh thì các biện pháp nhằm quản lý

thu nhập của đối tượng này rất quan trọng.

Biện pháp tối ƣu hàng đầu của ngành thuế là tận dụng triệt để và phát

huy những kinh nghiệm tốt mà quá trình quản lý hộ kinh doanh thời gian qua

đã đúc kết; đồng thời nâng cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan thuế nói

chung và cán bộ ở đội thuế phƣờng xã trực tiếp quản lý hộ kinh doanh nói

riêng. Để đảm bảo quản lý sát doanh số, chi phí và thu nhập của cá nhân kinh

doanh, ngành thuế đã chỉ đạo cơ quan thuế các cấp phối hợp chặt chẽ hơn với

cơ quan quản nhà nƣớc ở cấp TW và địa phƣơng, các đơn vị kinh tế có quan

hệ với các hộ kinh doanh, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ hơn nữa với hội đồng

tƣ vấn thuế phƣờng xã bởi đây là tổ chức gần dân nhất và sát dân nhất nên sẽ

95



hỗ trợ tích cực cho ngành thuế trong việc quản lý đối tƣợng này. Thông qua

hệ thống dịch vụ hỗ trợ, cơ quan thuế sẽ cung cấp đầy đủ thông tin, kịp thời

hƣớng dẫn các thủ tục cũng nhƣ giải pháp nhanh gọn những khó khăn vƣớng

mắc, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để ngƣời nộp thuế TNCN thực hiện

tốt nghĩa vụ với ngân sách nhà nƣớc. Bên cạnh đó, cơ quan sẽ tăng cƣờng

kiểm tra, kiểm soát, nhằm phát hiện kịp thời những trƣờng hợp cố tình vi

phạm về khai thuế TNCN để xử lý nghiêm theo luật định.

Ngoài các giải pháp về mặt chế tài, cần có giải pháp để kích thích, khơi

dậy tính tự giác, tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân. Kinh nghiệm của một

số nƣớc đã giải quyết thành công vấn đề này cho thấy, phải giành nhiều ƣu

đãi để khuyến khích các cá nhân minh bạch hóa hoạt động kinh doanh. Thậm

chí ở nhiều nƣớc, Chính phủ còn cấp không máy tính tiền cho các cá nhân

kinh doanh; nếu cá nhân nào tự trang bị máy tính tiền thì cơ quan thuế sẽ cho

phép tính giảm trừ chi phí mua máy theo một tỷ lệ nhất định ngay trên mỗi

hóa đơn tính tiền trong suốt 1 đến 2 năm đầu, hoặc có thể áp dụng biện pháp

giảm thuế từng phần để tạo điều kiện cho cá nhân thu hồi vốn và khuyến

khích họ sử dụng máy tính tiền. Với biện pháp này, cơ quan thuế sẽ có điều

kiện kiểm soát đƣợc doanh số, từ đó có cơ sở để quản lý thuế công bằng và

hợp lý hơn. Đây cũng chính là một gợi ý hữu hiệu mà Việt Nam nên áp dụng.

2.2. Thực hiện nghiêm công tác thanh tra, xử phạt vi phạt thuế.

Đối với những hành vi kê khai không đúng về thu nhập, khai giảm trừ

ngƣời phụ thuộc, ngành thuế cần kết hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị

của đơn vị chi trả thu nhập và hội đồng tƣ vấn thuế phƣờng xã để nắm chắc

thông tin thông tin về ngƣời phụ thuộc, trên cơ sở đó kiểm soát trở lại việc kê

khai của ngƣời nộp thuế. Bên cạnh đó cơ quan thuế cần tăng cƣờng kiểm tra,

đối chiếu giữa bản kê khai và hồ sơ chứng minh ngƣời phụ thuộc để phát hiện

các dấu hiệu khai gian, khai trùng để xử lý.



96



Về mặt công nghệ, ngay sau khi cá nhân nộp thuế nộp bản khai và hồ

sơ chứng minh ngƣời phụ thuộc thì toàn bộ dữ liệu này phải đƣợc nhập vào hệ

thống dữ liệu thông tin quản lý thuế, đồng thời với mỗi ngƣời phụ thuộc sẽ

đƣợc phát một mã nhận diện (ví dụ một loại mã số tƣơng tự mã số thuế). Trên

cơ sở đó, bất cứ trƣờng hợp nào khai trùng, mã nhận diện sẽ phát hiện và cho

phép loại bỏ. Theo kinh nghiệm của nhiều chuyên gia nƣớc ngoài về lĩnh vực

này thì việc sử dụng mã nhận diện sẽ cho phép loại bỏ gần nhƣ hoàn toàn

những trƣờng hợp khai trùng về ngƣời phụ thuộc, các dữ liệu về TNCN nộp

thuế cũng sẽ đƣợc các đơn vị chi trả thu nhập khai và đƣợc nhập vào dữ liệu

quản lý của cơ quan thuế. Cá nhân có thu nhập khai không đúng thu nhập dữ

liệu máy tính báo để cơ quan thuế biết.

Trong giai đoạn đầu triển khai Luật Thuế TNCN, cơ quan Thuế nên

dùng chủ yếu biện pháp kiểm tra, nhắc nhở để ngƣời nộp thuế khai đúng, đầy

đủ, nhƣng nếu nhắc nhở rồi mà cá nhân vẫn vi phạm thì cơ quan thuế phải áp

dụng các hình thức xử lý nghiêm theo quy định tại Luật Quản lý thuế tức là vi

phạm nhẹ thì phạt cảnh cáo, hành chính, vi phạm nặng có thể bị truy tố xử lý

hình sự.

Theo quy định mới của Bộ Tài chính, các cá nhân trốn thuế, nợ đọng kéo

dài ngoài việc bị cƣỡng chế thu nhập, khấu trừ lƣơng có thể sẽ phải kê biên tài

sản cho cơ quan Nhà nƣớc. Ví dụ: Đồ dùng sinh hoạt thông thƣờng nhƣ quần áo,

giƣờng tủ, bàn ghế.. sẽ không bị kê biên. Tuy nhiên, đồ dùng sinh hoạt giá trị cao

nhƣ tủ lạnh, TV, máy điều hòa, máy giặt, máy vi tính, đồ trang sức vàng bạc đá

quý sẽ bị kê biên. Riêng nhẫn cƣới, tuy là vàng quý nhƣng sẽ không bị kê biên.

Cơ quan thuế sẽ yêu cầu cơ quan, công ty nơi cá nhân nợ thuế làm việc

tiến hành khấu trừ thu nhập của cá nhân đó. Lƣơng, thƣởng, trợ cấp hàng

tháng có thể bị khấu trừ từ 10% đến 30%. Các khoản thu nhập khác của ngƣời

trốn thuế có thể bị khấu trừ đến 50%.



97



Trƣớc khi thực hiện các biện pháp cƣỡng chế nhƣ thu hồi mã số thuế,

đình chỉ sử dụng hóa đơn, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của

ngƣời nợ thuế, cơ quan chức năng nên công bố danh tính trên các phƣơng tiện

thông tin đại chúng.

2.3. Cải cách các thủ tục hành chính.

Ngành thuế phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính thuế trong đó

chú trọng cải cách hành chính thuế TNCN, hƣớng đến các mục tiêu đơn giản

và giảm thiểu các thủ tục hành chính cho các cá nhân và cơ quan chi trả thu

nhập. Cũng cần nói rằng thậm chí, việc áp dụng một cách khoa học về chính

sách thuế TNCN có thể liên quan đến mức độ thành công của công cuộc cải

cách hành chính này.



2.3.1. Cải thiện lƣơng của viên chức hành chính công thông qua

chính sách thuế TNCN hợp lý.

Nếu nhƣ xã hội ta tạo mọi điều kiện một cách công bằng cho mỗi công

dân phát triển nghề nghiệp và có đƣợc thu nhập thông qua công việc cá nhân

thì sự bình đẳng này cũng phải thể hiện ở chỗ ai làm ít, làm nhiều thì đều phải

đóng góp cho quốc gia tƣơng ứng với thu nhập của ngƣời đó. Nói một cách

khác: Mọi công dân đều phải đƣợc đối xử bình đẳng với thuế thu nhập.

Để có thể làm tốt cải cách hành chính, việc đầu tiên mà các nƣớc phát

triển đã làm là tăng lƣơng cho công chức để họ đảm bảo đƣợc đời sống cho bản

thân rồi sau đó là hoàn thành tốt chức năng của mình với đất nƣớc. Việt Nam ta

chắc cũng không thể bỏ qua chính sách này. Vậy đâu là liên quan giữa khoản

thất thu thuế do chính sách không thu thuế từ những ngƣời có thu nhập từ mức

trung bình trở lên trong xã hội và số tiền cần thiết để tăng lƣơng cho công chức?

Giả thiết có 2 triệu công chức cần đƣợc tăng lƣơng: Nếu bổ đầu 1 tỷ USD (tiền

thuế thất thoát hàng năm) cho 2 triệu ngƣời thì mỗi viên chức hành chính công



98



sẽ có thu nhập tăng thêm ít nhất 650.000đ/tháng so với mức lƣơng của họ hiện

nay.



2.3.2. Thay đổi tƣ tƣởng, nhận thức của ngƣời làm công tác thuế cũng

nhƣ ngƣời nộp thuế.

Đƣơng nhiên là giảm thiểu cơ quan hành chính, giảm thiểu các công

đoạn ra quyết định là một công đoạn quan trọng của cải cách hành chính, song

đó là Tinh giảm hành chính chứ chƣa phải là cải cách hành chính thực sự. Cái

“hồn” của công cuộc cải cách hành là thay đổi tƣ tƣởng từ ngƣời dân đến

ngƣời làm hành chính công là phải làm sao để chuyển Dịch vụ hành chính

công từ Xin/cho thành Nghĩa vụ/Trách nhiệm một cách nhanh chóng và hiệu

quả nhất cho mọi công dân.

Mối quan hệ nhân quả này có thể đƣợc hiểu thế này: Để có cải cách

hành chính thành công, phải có chế độ lƣơng thích hợp cho những ngƣời

trong biên chế, chính phần thuế thu nhập của mọi đối tƣợng có thu nhập (ít

nhất là tạm trừ ra lƣơng tối thiểu) sẽ đủ để tiếp sức cho đội ngũ công chức

hành chính công. Và khi ngƣời làm hành chính công hiểu rằng, lƣơng của họ

là từ đóng góp của mọi lao động mà ra thì sự tôn trọng của họ trƣớc thân dân

sẽ phải tăng lên. Về phía ngƣời dân, dù chỉ đóng thuế TNCN ở mức tối thiểu,

họ cũng cảm thấy “tự tin” hơn trƣớc những nhân viên hành chính công.

Chẳng phải tự nhiên mà trên thế giới này, các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ,

Anh hay Nhật luôn có đƣợc sự tôn trọng ở mặt bằng quốc tế. Bỏ đi những con

ngáo ộp về vũ khí thì trong con mắt thế giới, họ là những ngƣời đóng thuế đặc

biệt cao cho Liên Hiệp Quốc. Có thể suy ra rằng, trên bình diện quốc tế, dù là

còn thu nhập thấp thì ta cũng nên “đóng thuế”, và việc đóng thuế sẽ làm cho

ta bình đẳng hơn trong con mắt nhân loại và tự ta, chúng ta sẽ thấy mình

“đàng hoàng hơn”, tự tin hơn trong thời WTO.



2.3.3. Chống tham nhũng trong bộ máy hành chính.

99



Trên tinh thần gắn liền TNCN và thuế với việc phòng chống tham

nhũng, chính phủ Singapore đã quyết định tăng lƣơng gấp đôi cho cán bộ

công chức cấp cao nhà nƣớc. Tiêu chí của họ là nếu không tăng xứng đáng thì

chính quyền Singapore có thể trở thành một chính phủ có sự len lỏi của tham

nhũng nhƣ các quốc gia khác (Báo Lao động 7/4/07). Trƣớc khi nói về vấn đề

này, xin kể thêm một câu chuyện về mua sắm đồ cá nhân tại Mỹ. Một anh bạn

ngƣời Mỹ gốc Việt về Việt Nam làm ăn đầu tƣ từ hơn 15 năm nay. Cũng vì

phần nhiều công việc của anh đang triển khai ở Việt Nam nên việc nộp thuế

TNCN của anh này ở Mỹ chỉ ở mức bình bình. Thấy vợ chồng anh chỉ sử

dụng xe ôtô cũ, có ngƣời thắc mắc tại sao anh chị đã có tuổi rồi, không mua

lấy chiếc xe mới tinh kiểu nhƣ BMW hay Mercedes để đi cho an toàn. Câu trả

lời của anh thật sự đã gây ra nhiều suy nghĩ: ở xứ Mỹ này, khi đi đăng kí xe

ôtô ngƣời ta sẽ “xăm xoi” xem anh đóng thuế thu nhập bao nhiêu? Nếu trong

mã số thuế cá nhân, mức anh đóng chỉ đủ để mua xe Kia Hàn Quốc thì việc

anh tậu một chiếc Mercedes sẽ ngay lập tức chứng tỏ rằng anh đang có “vấn

đề” về thuế TNCN - ít nhất, anh đã có những khoản thu nhập không chính

đáng.

Nhƣ vậy, việc kiểm soát thuế TNCN đối với mọi đối tƣợng có thu nhập

sẽ là một công cụ đặc biệt hiệu quả để chống tham nhũng và Việt Nam cũng

nên áp dụng một cách thích hợp cho mình. Ví nhƣ có một đội ngũ thanh tra

các cán bộ ngành thuế, rồi có các đội kiểm tra chéo nhau giữa các đơn vị

trong cùng ngành hoặc trái ngành...

2.4. Chuẩn bị thật tốt các điều kiện cơ sở vật chất cho triển khai Luật

thuế TNCN.



2.4.1. Về công tác tuyên truyền, hỗ trợ.

Tuyên truyền, giáo dục tƣ tƣởng cho các đối tƣợng nộp thuế: Không

phải mọi công dân Việt Nam đều hiểu đƣợc Thuế TNCN đóng vai trò quan

trọng nhƣ thế nào đối với ngân sách quốc gia; đơn giản vì những ngƣời cả đời

100



không phải đóng lấy một xu nào cho công quĩ thì chắc chắn họ không thể có

cái cảm giác thuế liên quan đến họ nhƣ thế nào, cả về quyền lợi cũng nhƣ

trách nhiệm đối với thuế thu nhập.

Cơ quan thuế cần đẩy mạnh và phát triển các hình thức dịch vụ để phục

vụ, hỗ trợ ngƣời nộp thuế. Những năm qua, ngành thuế đã triển khai cơ chế

“một cửa”, “một cửa liên thông”, Tổng cục thuế cũng đã có hệ thống tổ chức

chuyên trả lời giải đáp chính sách thuế và sẽ đầu tƣ xây dựng các trung tâm

điện thoại giải đáp tự động về thuế TNCN; và cần thiết lập các đƣờng dây

nóng, bố trí thƣờng trực giải đáp vƣớng mắc của ngƣời nộp thuế tại tất cả các

cơ quan thuế trong cả nƣớc, đồng thời ngành thuế cũng cần phát động phong

trào xây dựng nếp văn hóa mới cho cán bộ thuế với mục tiêu phục vụ nhanh

nhất, tận tình nhất, hiệu quả nhất cho ngƣời nộp thuế.

Xây dựng và triển khai hình thức trao đổi thông tin trực tuyến và thƣ

điện tử giữa đối tƣợng nộp thuế và cơ quan thuế thông qua hệ thống mạng

ngành thuế.

Nghiên cứu hệ thống hóa các hình thức tuyên truyền hỗ trợ đƣợc áp

dụng trên thế giới: thƣờng xuyên cập nhật, nghiên cứu các hình thức tuyên

truyền hỗ trợ từ đó đƣa ra phƣơng thức thích hợp nhất cho bối cảnh Việt Nam

hiện nay. Xây dựng và triển khai chƣơng trình, nội dung giáo dục về thuế

TNCN bắt buộc ở các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên

phạm vi toàn quốc. Từ đó in ấn tài liệu, giáo trình chung về thuế TNCN cho

các đối tƣợng này, và mở rộng dần ra là đối tƣợng cán bộ công chức, cá nhân

kinh doanh...

Cần chuẩn hóa các nội dung tuyên truyển hỗ trợ và thống nhất triển

khai trên toàn quốc. Trƣớc hết cần rà soát toàn bộ nội dung của hệ thống tài

liệu tuyên truyền, bổ trợ; cập nhật các văn bản pháp luật trên website ngành

thuế... Có một yêu cầu đặt ra là tài liệu cũng nhƣ nội dung các chƣơng trình



101



tuyên truyền không đƣợc quá phức tạp, dài dòng mà phải ngắn gọn, xúc tích

để các đối tƣợng nộp thuế dễ tiếp thu và áp dụng.



2.4.2. Hoàn thiện hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin.

Thuế TNCN là một sắc thuế phức tạp với số đối tƣợng nộp thuế lớn,

đối tƣợng chịu thuế có nhiều nguồn và phát sinh ở nhiều nơi khác nhau, chỉ

có ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại mới có thể quản lý thuế

TNCN hiệu quả. Do đó phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào

quản lý thuế.

Cần thiết kế lại tổng thể hệ thống tin học theo hƣớng đáp ứng các yêu

cầu nghệp vụ cải cách: hệ thống mạng và hệ thống hạ tầng truyền thông, cơ sở

dữ liệu, hệ thống phần mềm ứng dụng và trang thiết bị tin học. Nâng cấp

website của ngành thuế hoặc xây dựng riêng một website về thuế TNCN, tạo

thêm các kênh giao tiếp giữa đối tƣợng nộp thuế và cơ quan thuế nhƣ hệ

thống quản lý trao đổi thƣ điện tử, hỏi đáp trực tuyến...

Một giải pháp quan trọng nữa là ngành thuế sẽ đẩy mạnh ứng dụng

công nghệ thông tin làm cơ sở để đối chiếu doanh số, chi phí và theo dõi kịp

thời, chính xác việc nộp thuế của các hộ kinh doanh. Mặc dù thừa nhận thực

tế là trƣớc đây, các hộ kinh doanh hầu hết đều không thực hiện chế độ kế toán

mà nộp thuế theo phƣơng thức khoán nên cơ sở dữ liệu về số đối tƣợng này

để phục vụ cho việc quản lý thuế TNCN sẽ phải thiết lập lại gần nhƣ từ đầu,

nhƣng ngành thuế vẫn phải làm tốt điều này, để giảm thiểu những rủi ro trong

công tác quản lý thu nhập, thiết lập một môi trƣờng quản lý thu nhập nói riêng

cũng nhƣ quản lý thuế TNCN nói chung minh bạch và hiệu quả. Kinh nghiệm

của các nƣớc đi trƣớc đó là bất cứ quốc gia nào, kể cả những có nền kinh tế xã hội phát triển nhƣ Nhật Bản, Úc, Mỹ... khi bắt đầu quản lý thuế TNCN

cũng phải trải qua thời kỳ xây dựng cơ sở dữ liệu ban đầu và tìm kiếm các

phƣơng thức quản lý phù hợp. Đây đƣợc xem là thời kỳ quá độ cần thiết để

đƣa Luật Thuế TNCN vào cuộc sống.

102



Để có thể gắn việc thu mọi loại thuế với cải cách hành chính thì không

phải chỉ có thay đổi từ tƣ tƣởng mà sự thay đổi đó chỉ có thể làm đƣợc khi có

sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin mang tính quốc gia: Mã số thuế

TNCN gắn liền với thẻ thông tin về thuế. Thậm chí thẻ có thể thay thế chứng

minh thƣ nhân dân (CMTND). Nếu mọi ngƣời dân đóng thuế đều có thẻ Thuế,

đƣơng nhiên, bảo hiểm y tế sẽ nằm ở trong thẻ này. Một cách tự nhiên, việc cần

có một thẻ thuế điện tử sẽ kéo theo một cuộc cách mạng tin học trong cải cách

hành chính, ít nhất là: CMTND - Thẻ thuế cá nhân và thẻ bảo hiểm y tế.

Nhƣ đã biết, có một vài công ty nhà nƣớc đang sản xuất chíp điện tử cho các

nhà khai thác viễn thông. Đối với họ, việc lập trình để biến các con chíp này

thêm chức năng CMTND cũng nhƣ có thể gộp cả mã số thuế thu nhập, thậm

chí cả bằng lái xe, thẻ bảo hiểm y tế trong một tấm thẻ là điều không phải quá

khó.

Hay một ứng dụng CNTT khác cũng rất khả thi đó là hệt thống mã

vạch điện tử: Mã vạch điện tử đã không còn xa lạ với ngƣời dân trong siêu

thị, chỉ một tiếng “bíp” đơn giản là hàng đã đƣợc thanh toán, điều đó cũng có

nghĩa rằng sau một tiếng “bíp” đó, thuế cũng đã đƣợc tính cho nhà nƣớc. Suy

rộng ra, mỗi một cá nhân cũng cần có một cơ chế “mã vạch” để theo dõi việc

nộp thuế thu nhập.



2.4.3. Đào tạo đội ngũ cán bộ ngành thuế.

Một biện pháp nữa là: cần chú trọng đào tạo lại đội ngũ cán bộ ngành

thuế nắm vững vai trò, nội dung chính sách trong cơ chế thị trƣờng, nâng cao

năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thuế. Cán bộ thuế cần có trình độ

cao và đồng đều, am hiểu về tin học, có khả năng phân tích kiểm tra sổ sách

kế toán, chứng từ để đối chiếu tờ khai thuế thu nhập của đối tƣợng nộp thuế.

Tổ chức các cuộc bồi dƣỡng cán bộ thƣờng xuyên, định kỳ nhằm cập nhật

thông tin về thuế TNCN và học hỏi kinh nghiệm quản lý kiểm tra thuế của các

nƣớc trên thế giới.

103



Ngoài ra có thể xây dựng tiêu chuẩn cho từng loại công chức thực hiện

từng chức năng quản lý của ngành. Đồng thời, đánh giá phân loại cán bộ thuế

theo trình độ, thâm niên công tác. Lựa chọn cán bộ có quá trình công tác tốt,

kinh nghiệm cũng trình độ tham gia các chƣơng trình đào tạo chuyên sâu tại

các nƣớc tiên tiến trong khu vực; mời các chuyên gia nƣớc ngoài vào Việt

Nam, tổ chức các khóa bồi dƣỡng chuyên sâu các chức năng quản lý thuế nói

chung và kỹ năng về thuế TNCN nói riêng.

2.5. Phát triển các dịch vụ thuế có liên quan.

Ngƣời Việt Nam cần quen với tƣ vấn thuế cũng nhƣ các dịch vụ thuế

liên quan khác liên quan. Từ trƣớc đến nay, đa số cá nhân ngƣời Việt Nam

đều không mấy khi phải nộp thuế. Thực tế, họ vẫn phải đóng thuế nhƣng đa

số sắc thuế của Việt Nam là thuế gián thu thông qua giá các hàng hóa, dịch vụ

sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất đã đƣa vào giá thành và thu hộ Nhà

nƣớc, ngƣời dân không cảm thấy mình bị thu thuế là vì thế.

Tuy nhiên, thuế TNCN là loại thuế trực thu tức là mỗi cá nhân phải tự

kê khai và nộp thuế với cơ quan thuế. Và xu hƣớng chung của các nƣớc trên

thế giới cũng nhƣ Việt Nam là các loại thuế trực thu này sẽ có xu hƣớng tăng

lên. Vì thế ngƣời dân Việt Nam thay vì thờ ơ với các sắc thuế nhƣ trƣớc đây

nay sẽ phải đau đầu hơn để làm sao nộp thuế ở mức thấp nhất nhƣng vẫn đúng

pháp luật. Hay nói cách khác là “lách thuế” có hiệu quả nhất.

Thông thƣờng, đối với thuế TNCN tính trên tiền lƣơng, tiền công thì

khá dễ tính nhƣng nếu đó là thu nhập từ kinh doanh chung của cả gia đình, lợi

nhuận từ kinh doanh bất động sản, chứng khoán thì việc tính toán vận dụng

tối đa các ƣu đãi, miễn trừ là không phải dễ dàng vì sẽ liên quan đến nhiều

pháp luật chuyên ngành khác. Hơn thế nữa, có thể nói việc khó khăn nhất với

tất cả các đối tƣợng nộp thuế đó là bản quyết toán thuế cuối năm phải nộp về

Cục thuế. Không phải ai cũng có thể kiểm soát hết đƣợc mọi thu nhập của

mình trong vòng 1 năm và lập đƣợc bảng quyết toán thuế cho riêng mình nhất

104



là những đối tƣợng trƣớc đây không chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế TNCN

và những cá nhân không hiểu biết về lĩnh vực tài chính - thuế, và cách tốt nhất

là phải nhờ tới các dịch vụ tƣ vấn thuế.

Thực tế, để thu thuế TNCN một cách hiệu quả, Tổng cục thuế đã triển

khai hệ thống các đại lý thu thuế, tức là các đơn vị làm dịch vụ thu thuế để thu

ở mức cao nhất có thể. Và ngƣợc lại, các cá nhân hoàn toàn có thể nghĩ đến

việc sử dụng các tƣ vấn để có thể đóng thuế ở mức thấp nhất và vẫn không bị

coi là phạm luật. Hay cuối năm các cá nhân có thể thuê các tƣ vấn viên, hay

các tổ chức kế toán (không nhất thiết họ phải là đối tƣợng đƣợc phép kinh

doanh dịch vụ tƣ vấn thuế) tổng hợp và hoàn thành bản quyết toán thuế cho

mình - một việc mà không phải cá nhân nào cũng có thể tự làm đƣợc hoặc rất

ngại làm quyết toán thuế.

Là ngƣời thuộc diện nộp thuế TNCN, do yêu cầu công việc không thể

trực tiếp kê khai, nộp thuế thì cá nhân có thể ủy quyền cho cá nhân khác là

ngƣời đƣợc phép kinh doanh dịch vụ tƣ vấn thuế thay mặt họ làm các thủ tục

nhƣ đăng ký, kê khai, quyết toán, hoàn thuế TNCN vì theo điểm 3.1 Mục III

Thông tƣ số 81/2004/TT-BTC (13/8/2004) của Bộ Tài chính hƣớng dẫn thi

hành Nghị định số 147/2004/NĐ-CP (23/7/2004) của Chính phủ quy định chi

tiết thi hành Pháp lệnh thuế TNCN với ngƣời có thu nhập cao qui định đối

tƣợng kê khai thuế nhƣ sau: “... Cá nhân đăng ký nộp thuế tại cơ quan thuế, kể

cả trƣờng hợp ủy quyền cho các tổ chức, cá nhân đƣợc phép kinh doanh dịch

vụ tƣ vấn thuế theo quy định của pháp luật”.



105



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(128 tr)

×