1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng Nội dung của hợp đồng tín dụng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (441.2 KB, 66 trang )


Trường hợp khoản vay bị chuyển nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo mức qui định của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước không vượt quá 150 lãi suất
cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng.
Tùy theo từng phương pháp cho vay và cách trả lãi, Ngân hàng có thể sử dụng hai cách tính lãi:
- Lãi đơn: lãi tính độc lập khơng nhập vào vốn gốc mà chỉ tính một lần vào cuối kỳ hạn;
- Lãi kép: lãi tính theo lối nhập vào vốn gốc từng kỳ để tăng vốn.

1.3.6 HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG A. Khái niệm


Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa một bên là ngân hàng bên cho vay với một bên là cá nhân bên đi vay nhằm xác lập các quyền và nghĩa
vụ nhất định của các bên trong quá trình vay tiền, sử dụng và thanh toán tiền vay.

B. Đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng


Hợp đồng tín dụng ngân hàng: do ngân hàng soạn thảo theo mẫu, nhưng không có nghĩa là bên đi vay khơng được quyền u cầu bỗ sung hoặc thay đổi một
số điều khoản của hợp đồng. thông thường, mẫu hợp đồng được soạn trước giúp cho việc giao kết hợp đồng được nhanh chóng, ít mất thời gian trên cơ sở sự thỏa thuận
của hai bên. Về mặt hình thức hợp đồng tín dụng ngân hàng phải được lập thành văn bản.
Điều khoản chủ yếu: là những điều khoản buộc phải có trong hợp đồng tín dụng, nếu thiếu một trong các điều khoản này thì khơng phát sinh hiệu lực của hợp
đồng. Bên cho vay: là ngân hàng
Có giấy phép thành lập và hoạt động do NHNN cấp. Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp.
Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng đối với khách hàng.
Bên đi vay: là các cá nhân và hộ gia đình kinh doanh thoản mãn các điều kiện vay vốn của ngân hàng.

C. Nội dung của hợp đồng tín dụng


Là tổng thể các điều khoản do các bên có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng, và khơng vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái
với đạo đức xã hội. Nội dung của hợp đồng tín dụng phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc
đồng thuận về ý chí. Tuy nhiên các điều khoản này muốn có hiệu lực pháp lý ràng buộc đối với các bên thì chúng phải thỏa mãn các tiêu chí sau:
• Điều khoản về điều kiện vay vốn
• Điều khoản về đối tượng hợp đồng.
• Điều khoản về đối tượng vốn vay.
• Điều khoản về phương thức thanh tốn vốn vay.
• Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay.
• Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng.
Ngoài những điều khoản nêu trên, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảm bằng biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì các bên có thỏa
thuận một điều khoản riêng lẻ về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay nằm trong hợp đồng tín dụng, hoặc thành lập một hợp đồng phụ đính kèm hợp đồng chính.Nội dung
hợp đồng quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ tín dụng. mẫu hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm, phụ lục hợp đồng tín
dụng
1.4 RỦI RO KHI CHO VAY Là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do
nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động và
có thể làm cho ngân hàng bị phá sản Biểu hiện rủi ro: Nợ xấu ngày càng lớn, lãi chưa thu hồi ngày càng tăng.
Rủi ro tín dụng =
Nguyên nhân phát sinh rủi ro: Một thực tế cho thấy rằng, cho dù quá trình xét duyệt cho vay của các CBTD có cẩn thận, kỹ lưỡng đến đâu đi nữa vẫn khơng hồn
tồn tránh được rủi ro nợ xấu. Vì vậy, nguyên nhân gây ra nợ xấu tại các NHTM ngồi từ phía chủ quan của NHTM mà còn phải kể đến nguyên nhân từ khách hàng
vay vốn và các yếu tố khách quan bên ngoài. A. Nguyên nhân từ phía các NHTM
Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do nguyên nhân chủ quan như quá trình phân tích và thẩm định tín dụng khơng kỹ lưỡng dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay.
Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn khơng đúng mục đích nhưng
ngân hàng vẫn không phát hiện để ngăn chặn kịp thời.
Hay sự sa sút về đạo đức của cán bộ tín dụng và người phê duyệt tín dụng, thiếu tinh thần trách nhiệm , cố tình cho vay vì lợi ích riêng của mình. Hiệu quả của
cơng tác tổ chức, kiểm tra, giám sát của hệ thống ngân hàng còn kém nên chậm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm.

B. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (66 trang)

×