1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

76.94 Giấy tờ có giá 466.91

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (441.2 KB, 66 trang )


ĐVT: Tỷ Đồng
Chỉ Tiêu Năm
2009 Năm
2008 Năm
2007
So Sánh 20092008
So Sánh 20082007
Số Tiền Số Tiền

1. TG dân cư 1,696.46


1,781.78 1,219.34 -85.32
-4.8 562.44
46
- Khơng kỳ hạn 119.66
142.58 304.835
-22.92 -16
162.255 -53.2
- Có kỳ hạn 1,576.8
1,639.2 914.505
- 62.4 -3.8
724.695 79.2

2. TGTCKT 643.17


377.84 797.06
265.33 70.2
- 419.22 -52.6
- Khơng kỳ hạn 576.4
283.38 542
293.02 103
-258.62 -47.7
- Có kỳ hạn 66.77
94.46 255.06
-27.69 -29.3
-160.6 -63

3. Giấy tờ có giá 466.91


248.82 315.55
218.09 87.64
-66.73 -21.1
Tổng VHĐ 2,806.54
2,408.44 2,331.95 398.1

16.5 76.94


3.3
Nguồn: Phòng Khách Hàng Cá Nhân
500 1000
1500 2000
2500 3000
Năm 2009 Năm 2008
Năm 2007
TG DC TG TCKT
G IẤY TỜ CÓ G IÁ TỔNG VHĐ
Hình 2: TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN QUA 3 NĂM 2007-2009
Hầu hết các Ngân hàng chỉ sử dụng vốn huy động để cho vay thì sẽ khơng đáp ứng hết nhu cầu về vốn khách hàng. Vì vậy ngồi vốn huy động tại chỗ thì Ngân
Hàng còn phải phụ thuộc vào vốn điều chuyển. Nguồn vốn này có lãi suất cao hơn lãi suất vốn huy động nên làm chi phí hoạt động kinh doanh tăng lên ảnh hưởng đến lợi
nhuận. Do đó Ngân Hàng ln phấn đấu tăng nguồn vốn huy động để giảm nguồn vốn này. Tuy nhiên, qua bảng số liệu cũng như biểu đồ ta thấy Chi Nhánh không
những không sử dụng vốn điều chuyển mà còn có một lượng VHĐ khá dồi dào mặc dù năm 2008-2009 là năm thế giới bị khủng hoảng tài chính nặng nề, hàng loạt các
quốc gia trên thế giới đã bị tàn phá mạnh mẽ, khốc liệt. Các định chế tài chính, dù khổng lồ tới đâu, vẫn bỗng chốc trở nên nhỏ nhoi trước những khoản thua lỗ tín dụng
đổ ụp xuống, và Việt Nam chúng ta cũng khơng nằm ngồi khủng hoảng đó nó đã tác động rõ nét tới nền kinh tế nước ta, Do đó, những người có vốn khó đầu tư, kinh
doanh do các kênh đầu tư sụt giảm nên gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất, nhất là năm 2008 lãi suất tiền gửi tăng cao.
Tổng VHĐ năm 2007 đạt 2,331.95 tỷ đồng, năm 2008 nguồn vốn này tiếp tục tăng và đạt 2,806.54 tỷ đồng vào năm 2009. Như vậy, sau 2 năm có rất nhiều biến cố
nguốn vốn huy động khơng giảm xuống mà còn tăng lên khoảng 39 tương đương 477.12 tỷ đồng. Tuy phần trăm tăng không nhiều nhưng đây cũng là một kết quả khả
quan.
Để có được kết quả như vậy là vì Chi Nhánh ln xác định nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng hàng đầu của mình, gắn nghiệp
Ta đã biết trong các loại tiền gửi thì TG Dân Cư là có tính ổn định nhất. Từ nguồn vốn huy động này Chi Nhánh có thể dễ dàng đầu tư trở lại cho các dự án kinh
doanh, sản suất khả thi. Vì lẽ đó TG Dân Cư luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng VHĐ cụ thể: năm 2009 TG Dân cư chiếm 60.44 Tổng VHĐ, năm 2008 chiếm gần 74
Tổng VHĐ và năm 2007 chiếm 52,3 Tổng VHĐ. Khách hàng nhận thức được mức độ an toàn của việc gửi tiền vào Ngân Hàng so với hình thức chơi hụi với lãi suất cao
nhưng dễ gặp rủi ro hoặc cất giữ tiền mặt làm giảm giá trị đồng tiền do yếu tố lạm phát. Mặc khác, Chi Nhánh đã đề ra và áp dụng linh hoạt nhiều hình thức huy động
tiền gửi như: tiết kiệm bốc thăm trúng thưởng, tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm lãi suất thả nổi… với mức lãi suất hấp dẫn và nhiều
phần thưởng giá trị nên thu hút luợng khách hàng đông đảo.
TG TCKT qua bảng số liệu ta thấy các TCKT chủ yếu gửi tiền vào khoản mục tiền gửi không kỳ hạn. Bản chất của TG TCKT là khoản mục khơng ổn định, chờ
thanh tốn. Mục đích của khách hàng khi gửi vào khoản mục này là để hưởng những tiện ích của Ngân Hàng nhằm thanh toán, chi trả trong kinh doanh đồng thời hạn chế
rủi ro và muốn sinh lợi từ đồng vốn tạm thời nhàn rỗi. Do vậy, tiền gửi không kỳ hạn của các TCKT chiếm tỷ trọng lớn hơn tiền gửi có kỳ hạn. Nguyên nhân là do họat
động kinh doanh có hiệu quả, quy mô được mở rộng nên việc trao đổi mua bán ngày càng nhiều. Từ đó mà họ xem việc gửi tiền vào Ngân hàng nhằm mục đích thanh toán
và chi trả tiền hàng là một phương tiện thanh tốn an tồn và hiệu quả hoặc do hiện tượng thừa vốn tạm thời ở một số doanh nghiệp. Mặc khác, do Chi Nhánh mở rộng
mạng lưới thanh toán, chuyển tiền điện tử, đáp ứng nhanh, kịp thời cho việc chi trả tiền hàng, thuận tiện cho việc thanh tốn khơng dùng tiền mặt nên đã thu hút rất
nhiều doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán. Điều này cho thấy khả năng huy động vốn từ các tổ chức này ngày càng khả quan hơn, uy tín của Chi Nhánh ngày càng
được nâng lên, nhiều tổ chức kinh tế tín nhiệm gửi tiền vào. Tuy nhiên, lượng tiền này chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu vốn của Chi Nhánh do sự cạnh tranh của
các Ngân Hàng khác trên cùng địa bàn đã làm phân tán.
Bên cạnh hình thức huy động trên, Chi Nhánh còn huy động vốn bằng cách phát hành các giấy tờ có giá. Điều này khơng nói lên hoạt động huy động vốn của
Chi Nhánh khơng hiệu quả và các giấy tờ có giá này thường được phát hành vào những tháng cuối năm, do đây là thời điểm gần tết nên người dân có xu hướng tiêu
dùng tăng dẫn đến nhu cầu vay vốn cao. Để đảm bảo nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng thì ngân hàng sẽ phát hành kỳ phiếu. Hơn nữa lãi suất kỳ phiếu
cao hơn so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm nên đã thu hút được người dân mua kỳ phiếu làm cho vốn huy động từ loại hình này tăng nhanh.
Tổng quan về VHĐ là như thế, tuy nhiên có một vài điểm đáng lưu ý đó là: TG Dân Cư Và TG TCKT tăng giảm không đều qua 3 năm và vì sao lại như vậy thì
ta sẽ nhìn lại tình hình kinh tế trong 3 năm vừa qua. Nền Kinh tế Việt Nam năm 2007 được đánh giá là phát triển toàn diện mọi
ngành nghề và mọi lĩnh vực. Kết thúc năm 2007 với mức thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đạt kỷ lục 17,8 tỉ USD và tăng trưởng kinh tế đạt 8,4. Thị trường
chứng khốn có cả một năm thăng hoa với chỉ số Vn-Index thường xuyên ở trên ngưỡng 1.000 điểm kể từ nửa cuối tháng 1-2007 cho đến giữa tháng 11-2007, xen
giữa là giai đoạn giảm nhẹ trong tháng 8 và 9-2007. Đến cuối 2007, Vn-Index vẫn đạt trên 900 điểm. Tâm lý chung là lạc quan và phấn khởi. Bởi vậy, NH đã có những
bước tiến thắng lợi ngoạn mục so với năm 2006. Tuy nhiên, chỉ số lạm phát lần đầu trở lại với 2 con số sau hơn một thập kỷ kể từ 1995
nhưng không thực sự khiến nhiều nhà kinh tế và giới kinh doanh lo âu.
Trước những dấu hiệu gia tăng lạm phát xuất hiện từ cuối năm 2007, ngay từ đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước NHNN đã theo đuổi chính sách tiền tệ thắt
chặt. Những động thái đầu tiên được thực thi trong quí I-2008 gồm: quy định tỷ lệ dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khốn khơng
vượt q 20 vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; tăng lãi suất cơ bản lên mức 8,75năm + 0,5; và phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc. Những liệu
pháp này đã gây “cú sốc” với nền kinh tế. Chưa kể tới sự sụt giảm của thị trường chứng khốn, phản ứng của thị trường tín dụng Việt Nam khá tiêu cực. Trước tiên là
khan hiếm nguồn tín dụng. Dù NHNN có “bơm” trở lại lưu thơng 33.000 tỉ đồng ngay trong tháng 3-2008, nhưng trong quá trình tái cơ cấu các khoản tín dụng và đáp
ứng yêu cầu tham gia mua tín phiếu bắt buộc, các ngân hàng thương mại NHTM khước từ phần lớn các u cầu tín dụng của doanh nghiệp. Thêm vào đó, lạm phát gia
tăng cũng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao theo nguyên lý “lãi suất dương”. Liên tiếp trong tháng 5 và 6-2008, lãi suất cơ bản được nâng lên 12, rồi 14, với biên độ dao
động cho phép là 150. Có thời điểm, lãi suất huy động vượt trên 20năm. Với đầu vào như vậy, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng vốn phải chấp nhận mức lãi suất rất
cao để tồn tại. Khơng ít đơn vị sản xuất kinh doanh chấp nhận dùng “thuốc độc tín dụng” để tồn tại. Chính vì những điều này đã làm cho TG Dân Cư tăng mạnh trong
năm 2008; cón TG TCKT giảm xuống do tình hình sản xuất trì trệ, khó khăn trong thanh tốn… sự thất bại hàng loạt trong hoạt động kinh doanh của nhiều doanh
nghiệp.
Mặc dù, tới cuối tháng 10-2008 mức lãi suất trần mới dần được hạ xuống, nhưng với cách can thiệp cương quyết bình ổn thị trường của Chính phủ và áp lực
thanh khoản giảm đáng kể của hệ thống NHTM, mặt bằng lãi suất đã bắt đầu giảm từ nửa cuối tháng 7-2008. Trong quý IV-2008, chính sách tiền tệ được NHNN nới lỏng.
Lãi suất cơ bản được điều chỉnh giảm đều đặn mỗi tháng 1. Từ ngày 5-12-2008, lãi suất cơ bản ở mức 10năm. Do vậy, TG Dân Cư đã giảm xuống 4.8 tương đương
85.32 tỷ đồng; thay vào đó người dân bắt đầu mua vàng để trữ vì lúc này giá vàng tăng khá nhanh. Tuy vậy, những chuyển biến tích cực khó mà xảy ra tức thì trong đầu
năm 2009 cùng với nhiều nguyên nhân khác nữa, bài tốn nguồn vốn tín dụng còn tiếp tục gây đau đầu không chỉ với nhà quản trị kinh doanh, mà còn cả với các ngân
hàng nước ta. Câu chuyện này tiếp tục kéo dài trong suốt cả năm 2009 và năm tiếp theo trong kế hoạch 2006 – 2010. Tuy nhiên, năm 2009 có phần ổn định hơn năm
2008 và dần bước vào giai đoạn phục hồi cho nên TG TCKT tăng cao hơn so với năm 2008 70.2 tương đương 265.33 tỷ đồng.
Tóm lại, dù trải qua nhiều khó khăn trong thời kỳ khủng hoảng toàn cầu, nhưng trong 3 năm qua nguồn vốn của Chi Nhánh có những chuyển biến tích cực,
VHĐ ngày càng tăng. Chi Nhánh ngày càng chủ động hơn trong việc HĐV và sử dụng vốn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh luôn được thuận lợi và hiệu quả.

2.3.2 TÌNH HÌNH CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN


Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì việc tạo lập nguồn vốn là vấn đề quan trọng hàng đầu. Khi huy động được vốn để có thể tạo ra lợi nhuận, hoàn trả tiền
gốc và lãi cho khách hàng đồng thời bù đắp chi phí kinh doanh, NHTM phải tiến hành kinh doanh dưới hình thức sử dụng vốn huy động được mà chủ yếu là cấp tín
dụng trong đó nghiệp vụ cho vay ln chiếm tỷ trọng lớn. Hoạt động cho vay khơng những có ý nghĩa đối với bản thân Ngân Hàng mà còn đối với nền kinh tế bởi vì nó
bổ sung nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất. Do vậy, hoạt động này cũng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm tàng, để có thể ngăn ngừa và giảm thiểu
rủi ro ngân hàng cần có quy trình tín dụng chặt chẽ.
• BẢNG 3: TÌNH HÌNH CHO VAY
Nguồn: Phòng Khách Hàng Cá Nhân ĐVT: Tỷ Đồng
Chỉ Tiêu Năm 2009
Năm 2008 So Sánh 20092008
Số Tiền
DS Cho Vay -Cá Thể
1,334 266.8
660 146.7
674 120.1
102 81.8
DS Thu Nợ -Cá Thể
274 36.8
40.02 5.3
233.8 31.5
81.6 594
Dư Nợ -Cá Thể
1060 230
629.98 105.8
430.02 124.2
68.3 117.4
Nợ Quá Hạn -Cá thể
9.09 1.32
6.51 2 .59
2.58 -1.27
39.6 -49
50 100
150 200
250 300
Năm 2009 Năm 2008
DS Cho Vay DS Thu Nợ
Dư Nợ Nợ Q Hạn
Hình 3: TÌNH HÌNH CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
Nhìn chung các chỉ tiêu của tồn chi nhánh nói chung và cho vay cá thể nói riêng liên tục tăng qua 2 năm cụ thể:
Về DS Cho Vay: Năm 2009 tổng DS cho vay đạt 1,334 tỷ đồng tăng 102 tương đương 674 tỷ đồng so với năm 2008; trong đó, cho vay cá thể đạt 266.8 tỷ đồng
chiếm khoản 20 tổng DS cho vay và tăng 81.8 tương đương 120.1 tỷ đồng so với năm 2008. Theo như phần 2.3.1 ta đã phân tích thì thấy được rằng tại sao DS cho vay
năm 2008 lại thấp như vậy là vì: Ngân hàng Nhà nước NHNN đã theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm hảm lạm phát như: quy định tỷ lệ dư nợ cho vay, chiết
khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khốn khơng vượt q 20 vốn điều lệ của tổ chức tín dụng;
tăng lãi suất cơ bản lên mức 8,75năm + 0,5, có thời điểm lãi suất huy động vượt trên 20năm dẫn đến phải tăng lãi suất cho vay
khiến càng ít khách hàng vay vốn; phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc và vì đáp ứng u cầu tham gia mua tín phiếu bắt buộc nên các ngân hàng thương mại
NHTM khước từ phần lớn các yêu cầu tín dụng của doanh nghiệp cũng như cá thể. Và với tình hình nhiều biến động như thế các ngân hàng trở nên dè dặt trong việc cho
vay vốn.
Sang 2009 đã có những chuyển biến tích cực, đồng tiền trở nên nới lỏng hơn. Chi Nhánh bắt đầu giảm lãi suất cho vay; và tham gia chính sách tăng nguồn vốn hỗ
trợ phát triển kinh tế. Với động thái này các khách hàng sẽ dễ dàng tiếp cận với vốn vay Chi Nhánh. Tuy nhiên,Năm 2009 là năm dè chừng các khoản cho vay của ngân
hàng. Các ngân hàng sẽ không dễ dãi cho vay mà sẽ suy xét cẩn thận hơn. Chính điều này đã làm cho Chi Nhánh thêm vững, đầu tư sẽ khơng dàn trãi mà tập trung. Do đó
khả năng lợi nhuận cũng khả quan, bên cạnh đó tránh những rủi ro không cần thiết.
Về DS Thu Nợ: Doanh số cho vay chỉ phản ánh số lượng và quy mơ tín dụng của Ngân hàng chứ chưa phản ánh được hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng cũng như
đơn vị vay vốn. Bởi vì, hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện ở việc trả nợ vay của khách hàng. Nếu khách hàng luôn trả nợ đúng hạn cho Ngân Hàng thì chứng tỏ Ngân
Hàng đã sử dụng vốn vay của mình một cách có hiệu quả, có thể ln chuyển được nguồn vốn một cách dễ dàng. Một trong những nguyên tắc trong hoạt động tín dụng
là vốn vay phải được thu hồi cả vốn gốc và lãi theo đúng hạn định đã thỏa thuận. Như vậy, doanh số thu nợ cũng là một trong những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của
cơng tác tín dụng trong từng thời kỳ. Năm 2009 thu về 274 tỷ đồng toàn chi nhánh tăng 81,6 tương đương 233.8 tỷ đồng; trong đó, cá thể thu về 36.8 tỷ đồng, còn
năm 2008 các thể thu về 5.3 tỷ đồng. Và vì sao DS thu hồi nợ thấp so với DS cho vay trong thời gian vừa qua bởi lẽ việc tiếp cận được vốn tín dụng từ ngân hàng của các
doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn dẫn đến tâm lý khơng muốn trả các khoản nợ đến hạn từ phía khách hàng, Do lãi suất cao nên khả năng hoàn trả của các con nợ bị giảm
sút, việc thu hồi nợ cũng khó khăn hơn, các khoản nợ xấu gia tăng, làm tăng khả năng rủi ro cho Chi Nhánh. Nguyên nhân cơ bản là do tình hình kinh tế có nhiều biến
động, hàng hóa tiêu thụ chậm, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế yếu. Do đó tốc độ thu hồi nợ của các ngân hàng trong năm 2008-2009 thấp so với năm 2007. Tuy DS
thu nợ thấp so với DS cho vay nhưng với bối cảnh thị trương kinh tế đầy biến động, Chi Nhánh gặp nhiều khó khăn thì đó là kết quả đáng mừng.
Về Dư Nợ: Cùng với sự tăng lên của DS cho vay thì Dư Nợ cũng tăng lên theo từng năm. Năm 2009 dư nợ đạt 1060 tỷ đồng tăng 68.3 tương đương 430.02 tỷ đồng so
Về Nợ Quá Hạn: Tính đến tháng 12 năm 2008 là 6.51 tỷ đồng, chiếm 1.03 dư nợ, và đến cuối năm 2009 là 9.09 tỷ đồng, chiếm 0.85 dư nợ; trong đó, năm 2009 cá thể
chiếm 1.32 tỷ đồng, còn 2008 thì 2.59 tỷ đồng. Nguyên nhân của việc nợ quá hạn năm 2008 tăng cao so với mọi năm là do chủ trương thắt chặt tín dụng chống lạm
phát, các ngân hàng đã cắt giảm hạn mức tín dụng. Đồng thời lãi suất tín dụng tăng cao, tình hình vay vốn của khách hàng gặp nhiều khó khăn dẫn tới chi phí giá thành
sản phẩm cao; lợi nhuận giảm kèm theo đó là năng lực tài chính suy giảm; vốn ln chuyển chậm khơng thực hiện đúng kế hoạch trả nợ Ngân Hàng dẫn tới nợ quá hạn
tăng đột biến. Các doanh nghiệp khó khăn về tài chính đều gặp phải trở ngại trong việc thanh toán tiền hàng; việc thu tiền bán hàng chậm doanh nghiệp không trả nợ
đúng hạn dẫn đến các Ngân Hàng phải điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ và chuyển nợ quá hạn vào các nhóm nợ thích hợp. Một số tổ chức tín dụng cho vay chưa khảo
sát kỹ khách hàng, phương án khả thi, cho vay vốn sai mục đích, khách hàng khơng hiệu quả, có nguy cơ phá sản, NH khó thu hồi hoặc không thể thu hồi được vốn và lãi
vay. Và đến năm 2009, thị trường kinh tế ổn định hơn với nhiều chính sách vi mơ và vĩ mơ và bắt đầu dè chừng với những khoản vay,thẩm định cẩn thận hơn… chính vì
vậy nợ q hạn đã giảm so vơi năm 2008 mặc dù DS cho vay, dư nợ tăng rất nhiều so với năm 2008 và đây là biểu hiện tốt cho hoạt động tín dụng của chi nhánh nói chung
và bộ phận cá thể nói riêng.

2.3.3 DS CHO VAY CÁ THỂ THEO MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG •


BẢNG 4: DS CHO VAY CÁ THỂ THEO MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG
ĐVT: Tỷ Đồng
Chỉ tiêu năm
2009 năm
2008 Năm
2007
So sánh So sánh
20092008 20082007
Số Tiền
Số Tiền
SXKD-DV 101.2
42.4 253.1
58.8 138
-210.7 -83.2
Nhà Ở 52.2
26.8 87.2
25.4 94.7
-60.4 -69.2
Ơ Tơ 26.1
5.3 44.3
20.8 390
-39 -88.03
Tiêu Dùng 87.3
72.2 108.1
15.1 20.9
-35.3 -33.2
Tổng DS Cho Vay
266.8 146.7
492.7 120.1

81.86 -346


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (66 trang)

×