1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

-346 Giấy tờ có giá 466.91

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (441.2 KB, 66 trang )


2.3.3 DS CHO VAY CÁ THỂ THEO MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG •


BẢNG 4: DS CHO VAY CÁ THỂ THEO MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG
ĐVT: Tỷ Đồng
Chỉ tiêu năm
2009 năm
2008 Năm
2007
So sánh So sánh
20092008 20082007
Số Tiền
Số Tiền
SXKD-DV 101.2
42.4 253.1
58.8 138
-210.7 -83.2
Nhà Ở 52.2
26.8 87.2
25.4 94.7
-60.4 -69.2
Ơ Tơ 26.1
5.3 44.3
20.8 390
-39 -88.03
Tiêu Dùng 87.3
72.2 108.1
15.1 20.9
-35.3 -33.2
Tổng DS Cho Vay
266.8 146.7
492.7 120.1

81.86 -346


-70.2
Nguồn: Phòng Khách Hàng Cá Nhân
50 100
150 200
250 300
Năm 2009
Năm 2008
Năm 2007
SXKD-DV Nhà Ở
Ơ Tơ Tiêu Dùng
Hình 4: DOANH SỐ CHO VAY THEO MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG VỐN
Cho vay cá thể theo mục đích sử dụng vốn, đây là số tiền mà ngân hàng cho vay để người dân sử dụng vào các mục đích khác nhau trong đó chủ yếu là cho vay
để: Sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, nhà ở…Nhìn chung qua 3 năm , doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn tăng giảm khơng theo một chiều mà có sự giảm
xuống rồi lại tăng lên. Cụ thể: năm 2007 doanh số cho vay theo mục đích sử dung vốn là 429.7 tỷ đồng đồng, năm 2008 doanh số cho vay còn 146.7 tỷ đồng, giảm 346
tỷ tương đương 70.2 so với năm 2007. Đến năm 2009 doanh số cho vay này lại tăng lên so với 2008 nhưng vẫn thấp so với 2007 là: 266.8 tỷ đồng tức là tăng 120.1
tỷ đồng tương đương 81,86 so với năm 2008. Trong đó:
Cho vay Sản xuất kinh doanh - dịch vụ: Nhóm khách hàng vay vốn cho mục đích sản xuất kinh doanh - dịch vụ bao gồm: các cơ sở sản xuất các mặt hàng tiêu dung
như: Bánh trung thu, bánh kem, nem, gốm sứ, các vật dụng bằng tre nứa…hay các hộ cá thể kinh doanh cửa hàng bách hoá, các sạp kinh doanh trong các trung tâm chợ
lớn, các shop giày dép, quần áo thời trang. Qua bảng số liệu, ta thấy nguốn vốn vay của SXKD – DV luôn chiếm tỷ trọng lớn so với các khoản vay còn lại. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế theo chiều hướng tỷ lệ thuận thì các cơ sở sản xuất cũng như hộ gia đình kinh doanh cá thể ngày càng phat triển. Nhu cầu vốn của họ ngày
Cho vay Nhà ở: Trước đây khi có nhu cầu về xây dựng, sửa chữa nhà ở người ta thường hay vay mượn từ những người xung quanh hoặc tự để dành, rất ít người nghĩ
sẽ vay từ Ngân Hàng. Khoản từ năm 2004 trở lại đây, các dịch vụ tiện ích của Ngân Hàng phát triển với tốc độ khá cao đã tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận
nguồn vốn từ Ngân Hàng để cải thiện cuộc sống trong đó có nhu cầu về nhà ở. Do đó nhiều Ngân Hàng nói chung cũng như Chi Nhánh nói riêng đang hướng tới việc cấp
tín dụng đáp ứng nhu cầu về xây dựng, sửa chữa nhà ở cho các hộ gia đình và cá thể.
Nhìn vào bảng số liệu ta thầy năm 2007 đã chi ra hơn 87 tỷ đồng cho khoản vay này cao hơn rât nhiều so vơi năm 2008-2009. Nguyên nhân là do: Do nền kinh tế
tăng trưởng ở mức cao dẫn tới nhu cầu về đất đai phục vụ cho sản xuất kinh doanh và nhu cầu nhà ở của dân chúng liên tục gia tăng Thị trường bất động sản trở nên sôi
động, khá nhanh và mạnh trong năm 2007 sau một thời gian dài bị đóng băng, lượng BĐS được đầu tư xây dựng và giao dịch tăng lên khá nhiều, đặc biệt là phân khúc căn
hộ cao cấp.
Năm 2007, giá đất đã tăng từ 80-200 ở các quận 2,7,9 và tăng 70-80 ở quận Bình Chánh, Nhà Bè. Giá các căn hộ chung cư cao cấp đã tăng gấp 2 lần so với
mức giá ban đầu mà các nhà đầu tư đã thông báo. Tất cả là do sự đầu cơ trong kinh doanh nhà đất gia tăng mạnh mẽ; do chính sách của Nhà nước về đất đai; do yếu tố
tâm lý kỳ vọng vào khả năng sinh lợi vô tận của BĐS; và cuối cùng là do thiếu các thông tin về giá nhà đất.
Đến năm 2008-2009 trải qua với bao biến động lớn như khủng hoảng tài chính tồn cầu, sự giảm sút của thị trường chứng khoán… kéo theo thị trường bất động sản
trong nước trở nên ảm đạm hơn bao giờ hết, giá nhà đất trên mặt bằng cả nước bắt đầu sụt giảm rõ nét, diễn biến không đồng đều và khá phức tạp. Và quay trở lại tình
trạng “đóng băng” trên thị trường bất động sản. Nguyên nhân cầu giảm mạnh do giá bất động sản ở Việt nam hiện đang được đánh giá ở mức q cao so với thu nhập
Cho vay Ơ tơ: Có thể nói, năm 2007 là một năm tăng trưởng ngoạn mục của cả thị trường ô tô nội địa lẫn thị trường ô tô nhập khẩu. Bởi lẽ, 2007 là năm Việt Nam bắt
đầu thực hiện một số cam kết thương mại quốc tế, trong đó đáng chú ý nhất là việc mở cửa thị trường cho các loại xe nhập khẩu và đặc biệt là các quyết định giảm thuế
nhập khẩu. Cộng với một vài biện pháp kích thích tăng trưởng ngành ôtô khác, sức mua trên thị trường đã tăng đột biến. Ví dụ như chỉ tính riêng mặt hàng ôtô mới
nguyên chiếc, trong năm qua Bộ Tài chính đã đưa ra 3 quyết định giảm thuế kéo mức thuế suất thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc từ 90 xuống còn 60. Và năm 2007
kinh tế nói chung tăng trưởng rất mạnh. Mức sống người dân được nâng cao hơn và xe hơi dần trở thành phương tiện đi lại phổ biến hơn. Vì những nguyên nhân trên, các
Ngân Hàng trong nước nói chung và Chi Nhánh nói riêng rất thoáng trong việc cho vay để mua xe ô tô.Do vậy, năm 2007 đã chi ra gần 45 tỷ đồng cao nhất kể từ trước
đến nay để đáp ứng cho nhu cầu mua xe của khách hàng. Đến năm 2008 và 2009 đã co những thay đổi đảo ngược. Từ ngày 1132008, Bộ Tài
chính nâng thuế suất thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc từ 60 lên 70 và thuế tuyệt đối với xe cũ nguyên chiếc lên trung bình 10 quyết định này có hiệu lực từ ngày
142008.
Sau thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc, đến lượt thuế nhập khẩu linh kiện được điều chỉnh liên tục trong 2 tháng 5 và 6 với mức tăng trung bình tổng cộng từ 10-
20. Việc điều chỉnh thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc và thuế nhập khẩu linh kiện ngay lập tức đẩy giá xe nội và xe nhập lên, góp phần làm thị trường xe nguội dần,
khiến sức mua tụt dốc một cách ảm đạm.
Bên cạnh đó bước vào nửa cuối năm 2008 kinh tế thế giới suy thoái đã tác động đến Việt Nam. Các NH nói chung cũng như Chi Nhánh nói riêng đã ngừng cho
vay mua xe ô tô khiến sức mua ôtô giảm hẳn. Cụ thể, năm 2008 Chi nhánh chỉ chi ra 5.3 tỷ đồng còn 2009 có phần khả quan hơn khi Chi Nhánh chi ra 26.1 tỷ đồng giảm
rất nhiều so với năm 2007.
Cho vay tiêu dùng : trước đây người tiêu dùng, đặc biệt là các tiểu thương ở chợ rất ngại tiếp xúc nguồn vốn ngân hàng, vì nghĩ nó phức tạp. Còn phía ngân hàng thì ngại
cho vay tiêu dùng vì sợ rủi ro cao. Nhưng đến thời điểm này tình thế đã thay đổi. Khách hàng thuộc tất cả các tầng lớp đều thích đến ngân hàng để vay vốn, nhất là
lĩnh vực vay tiêu dùng như: như mua sắm hàng hóa, dịch vụ, du học, tiện nghi sinh hoạt gia đình, du lịch, mua bán chứng khốn… . Do đó, cho vay tiêu dùng là một thị
trường rộng lớn để cạnh tranh và phát triển. NHTMCPCTVN_CN3 sớm nhận thấy được điều đó nên đã chi ra một khoản lớn cho những khoản vay này. Điều này được
lý giải như sau: kinh tế thị trường ngày càng phát triển, thu nhập của người dân tăng theo cũng như đời sống của họ luôn được cải thiện và nâng cao. Vì thế, xu hướng tiêu
dùng của người dân ngày càng nhiều hơn, nhất là tầng lớp thanh niên. Nhưng với thu nhập hiện tại họ phải mất một khoảng thời gian tiết kiệm mới có đủ số tiền chi tiêu
cho các nhu cầu trên. Do đó, họ đã tìm đến NH xin vay vốn. Ưu điểm của nhóm khách hàng là họ có thu nhập ổn định. Căn cứ vào thu nhập này, NH sẽ cấp một hạn
Theo bản số liệu trong 3 năm qua tổng doanh số cho vay tiêu dùng có sự tăng giảm qua các năm. Cụ thể: năm 2009 tăng 15.1 tỷ đồng tương đương 20.9 so với
năm 2008, năm 2007 Chi Nhánh chi ra cho khoản vay này là 108.1 tỷ đồng, đến năm 2008 thì chi 72,2 tỷ đồng tức là giảm 33.2 so với năm 2007. Và nguyên nhân vì sao
thì ta hãy nhìn lại nền kinh tế Việt Nam khoảng thời gian 2007-2009. Nếu như kết thúc năm 2007 kinh tế Việt Nam phát triển một cách toàn diện và ngoạn mục, với
mức thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đạt kỷ lục 17,8 tỉ USD và tăng trưởng kinh tế đạt 8,4; thị trường chứng khốn có cả một năm thăng hoa. Thì đến
năm 2008-2009 Chúng ta đã phải đối mặt với những khó khăn về vấn đề thanh khoản của hệ thống tín dụng, lãi suất ngân hàng cao, những cơn sốt giá lương thực và
năng lượng, thị trường chứng khoán tiếp tục bị sụt giảm…Và đây cũng là lý do làm giảm nhu cầu chi tiêu trong năm 2008-2009.

2.4 PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (66 trang)

×