1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (441.2 KB, 66 trang )


Theo bản số liệu trong 3 năm qua tổng doanh số cho vay tiêu dùng có sự tăng giảm qua các năm. Cụ thể: năm 2009 tăng 15.1 tỷ đồng tương đương 20.9 so với
năm 2008, năm 2007 Chi Nhánh chi ra cho khoản vay này là 108.1 tỷ đồng, đến năm 2008 thì chi 72,2 tỷ đồng tức là giảm 33.2 so với năm 2007. Và nguyên nhân vì sao
thì ta hãy nhìn lại nền kinh tế Việt Nam khoảng thời gian 2007-2009. Nếu như kết thúc năm 2007 kinh tế Việt Nam phát triển một cách toàn diện và ngoạn mục, với
mức thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đạt kỷ lục 17,8 tỉ USD và tăng trưởng kinh tế đạt 8,4; thị trường chứng khốn có cả một năm thăng hoa. Thì đến
năm 2008-2009 Chúng ta đã phải đối mặt với những khó khăn về vấn đề thanh khoản của hệ thống tín dụng, lãi suất ngân hàng cao, những cơn sốt giá lương thực và
năng lượng, thị trường chứng khoán tiếp tục bị sụt giảm…Và đây cũng là lý do làm giảm nhu cầu chi tiêu trong năm 2008-2009.

2.4 PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY



BẢNG 5: CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI CHI NHÁNH
Chỉ tiêu Đơn vị tính
2009 2008
1. Tổng nguồn vốn Tỷ đồng
3111.94 2738.74
2. Vốn huy động Tỷ đồng
2806.54 2408.44
3. Doanh số thu nợ Tỷ đồng
274 40.02
4. Tổng dư nợ Tỷ đồng
1060 629.98
5. Nợ quá hạn Tỷ đồng
1.32 2.59
6. Dư nợ bình quân Tỷ đồng
845 606.2
7. Tổng dư nợTổng nguồn vốn 34
23 8. Tổng dư nợVốn huy động
lần 0.38
0.26 9. Nợ quá hạnTổng dư nợ
0.12 0,41
10. Ds thu nợDư nợ bình quân vòng
0.32 0.066

2.4.1 PHÂN TÍCH TỔNG DƯ NỢ TRÊN TỔNG NGUỒN VỐN


Trải qua 2 năm hoạt động đầy khó khăn, đặc biệt năm 2008 có nhiều biến cố đã xảy ra và làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động tín dụng của chi nhánh. Ở đây,

2.4.2 PHÂN TÍCH DƯ NỢ TRÊN VỐN HUY ĐỘNG


Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sử dụng vốn huy động của Ngân hàng. Qua bảng số liệu ta thấy trong 2 năm qua ngân hàng đã không khai thác triệt để nguồn vốn
huy động của mình, biểu hiện là chỉ tiêu này qua qua 2 năm đều nhỏ hơn 1. Tuy nhiên, chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 khơng có nghĩa là chi nhánh chưa khai thác triệt để
nguồn vốn huy động của mình, mà là do phần lớn nguồn vốn huy động được lại đổ vào mua tín phiếu bắt buộc theo quy định của chính phủ thực hiện chính sách thắt
chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát vào đầu năm 2008 kéo dài đến 2009. Tóm lại, trong 2 năm vừa qua nguồn vốn huy động của Ngân hàng luôn tăng trưởng nhưng
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng dù đã có gói hổ trợ lãi suất từ phía NHNN. Và để đánh giá mộ cách chính xác hiệu quả hoạt động tín dụng của
Ngân hàng ta cần xét thêm tỷ số nợ quá hạn trên tổng dư nợ, nhằm hiểu rõ hơn về mức độ rủi ro tín dụng của Ngân hàng trong 2 năm qua.

2.4.3 PHÂN TÍCH NỢ QUÁ HẠN TRÊN TỔNG DƯ NỢ


Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Dư nợ của Ngân hàng tăng qua các năm nhưng tỷ lệ nợ quá hạn lại giảm qua các năm và còn
ở mức thấp. Năm 2008 tỷ lệ nợ quá hạn chỉ có 0,41. Tỷ lệ nợ quá hạn năm 2009 giảm còn 0.38 nằm dưới mức cho phép của NHNN là 5. Có được kết quả này,
một phần chứng kiến cảnh các NH trên thế giới bị lạm phát và cơn bão khủng hoảng tín dụng của Mỹ tàn phá nặng nề như thế nào từ đó rút được bài học cho NH Việt
Nam nói chung và Chi Nhánh nói riêng. Chi Nhánh đã có những bước chuẩn bị và đề phóng, bắt đầu dè chừng với các khoản cho vay, không cho vay ồ ạt mà sẽ suy xét
cẩn thận hơn; đề ra các giải pháp hữu hiệu, cứng rắn trong việc xử lý nợ, tránh những rủi ro không cần thiết.

2.4.4 PHÂN TÍCH DOANH SỐ THU NỢ DƯ NỢ BÌNH QN


Chúng ta biết một Ngân hàng mà việc sử dụng đồng vốn có hiêu quả hay không thì không thể chỉ nhìn vào các chỉ tiêu như: doanh số cho vay, doanh số thu nợ,
tỷ lệ nợ quá hạn… mà còn phải căn cứ vào vòng quay vốn tín dụng. Nếu vòng quay vốn tín dụng càng cao thì chứng tỏ Ngân hàng đa dạng hóa hình thức cho vay và thu
hồi nợ tốt , góp phần giảm tỷ lệ nợ quá hạn đồng thời làm cho đồng vốn huy động của Ngân hàng khỏi bị ứ đọng và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Qua bảng số liệu ta thấy vòng quay vốn tín dụng của Chi Nhánh qua 2 năm qua là chậm. Nguyên nhân một phần là do các món vay chưa đến hạn thu hồi nên làm
cho dư nợ bình quân tăng cao kéo theo vòng quay vốn tín dụng chậm. Mặt khác, doanh số thu nợ cũng có sự gia tăng nhưng tốc độ tăng không thể kịp với tốc độ tăng
của dư nợ bình qn, chính vì thế vòng quay vốn tín dụng của Chi Nhánh chậm. Do
2.5 NHẬN XÉT HOẠT ĐỘNG TẠI VIETINBANK_CN3 TP.HCM 2.5.1 ĐIỂM MẠNH

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (66 trang)

×