1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

NHẬN XÉT HOẠT ĐỘNG TẠI VIETINBANK_CN3 TP.HCM .1 ĐIỂM MẠNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (441.2 KB, 66 trang )


2.5 NHẬN XÉT HOẠT ĐỘNG TẠI VIETINBANK_CN3 TP.HCM 2.5.1 ĐIỂM MẠNH
VietinBank_CN3 Tp.HCM có hội sở tại 461- 465 đường Nguyễn Đình Chiểu, Q.3, TP.HCM. Với lịch sử phát triển lâu dài, đặc điểm địa bàn tập trung đông dân cư,
các cao ốc, khách sạn, siêu thị, hệ thống các trường trung học, đại học…Đó là những thuận lợi rất lớn đối với hoạt động kinh doanh của Chi nhánh.
Ngoài hội sở Chi Nhánh còn có hệ thống gồm 8 Phòng giao dịch PGD hoạt động tại các tuyến phố trung tâm của Tp.HCM. Với lợi thế nằm trên các trục đường
chính của quận, gần khu dân cư nên dễ dàng giao dịch, tiếp cận dịch vụ của Chi Nhánh cụ thể như sau:
Trụ sở chi nhánh: Nguyễn Đình Chiểu; PGD Cống Quỳnh;
PGD Vườn Chuối; PGD Lê Văn Sỹ;
PGD Hai Bà Trưng; PGD Cao Thắng;
PGD Phan Đăng Lưu; PGD Cách Mạng T8.
Với vị trí thuận lợi và mạng lưới rộng khắp như thế,VietinBank Chi nhánh 3 Tp. Hồ Chí Minh đã phát huy tối đa khả năng tiếp cận khách hàng từ mạng lưới, đẩy
mạnh huy động vốn, tạo điều kiện đưa nhanh các sản phẩm, dịch vụ của VietinBank đến với mọi đối tượng khách hàng…trong khu vực dân cư đông đúc này., Ngân Hàng
Công Thương Việt Nam - Chi nhánh 3 Tp. Hồ Chí Minh VietinBank Chi nhánh 3 đã phát huy tối đa lợi thế của một Ngân hàng thương mại đa năng, nâng cao khả năng
cạnh tranh với các ngân hàng trong và ngoài nước trên địa bàn Q.3 Tp.HCM. Trong chiến lược kinh doanh, phát triển mạng lưới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
của Chi nhánh. Nhiều năm qua, bên cạnh triển khai có hiệu quả các sản phẩm dịch vụ mới, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, VietinBank Chi nhánh 3 đã không ngừng mở
rộng mạng lưới hoạt động. Từ năm 2006, thực hiện chủ trương của VietinBank về mở rộng mạng lưới, hệ thống các PGD đã phát huy hiệu quả tích cực, trở thành vũ
khí hữu hiệu trong cạnh tranh, góp phần vào thành cơng của Chi nhánh 3. Việc đặt các PGD gần các doanh nghiệp DN, khu dân cư đã giúp ngân hàng tăng thêm khách
hàng, tăng lượng vốn huy động, nâng cao sức cạnh tranh.
Ngân hàng luôn có các văn bản chỉ đạo hướng dẫn kịp thời và chính xác nghiệp vụ khi có văn bản mới của NHNN, của các ngành và của Chính Phủ liên quan
đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Ngân hàng có đội ngũ cán bộ nhiều kinh nghiệm với nhiều năm cơng tác tại
Ngân hàng, ln hồn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đặc biệt VietinBank chi nhánh 3 Tp.HCM đã có một khoảng thời gian dài để
chứng minh và khẳng định vị thế cũng như tốc độ phát triển không ngừng của Chi Nhánh 3. Nên đã có được một thị phần rộng lớn và tạo được niềm tin với khách
hàng. Số khách hàng truyền thống, có uy tín qua q trình hoạt động của Phòng vẫn
Những kết quả đạt được trong huy động vốn, cho vay và đầu tư cũng như phát triển dịch vụ ngân hàng trên địa bàn Tp.HCM trong thời gian qua đã nói lên lợi thế và
hiệu quả tích cực từ mạng lưới kinh doanh rộng khắp của Chi nhánh 3. Ban Giám đốc Chi nhánh đã đề ra những biện pháp phù hợp nhằm thu hút mạnh các nguồn vốn,
thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo về công tác huy động vốn của VietinBank trong từng thời điểm; xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chính sách khách hàng; kết
hợp chặt chẽ công tác quy hoạch với đào tạo cán bộ chuyên sâu, chuyên nghiệp, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ giao dịch viên; tổ chức các lớp học kỹ năng giao
tiếp nhất là kỹ năng giới thiệu các sản phẩm dịch vụ, cung cấp sản phẩm trọn gói cho khách hàng.
Nhằm khơng ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, Ban Giám đốc Chi nhánh 3 đã thành lập Ban chăm sóc khách hàng, chuyên nghiệp hóa thủ tục, đảm
bảo nhanh chóng và chính xác. Tổ chức tặng quà khuyến mãi đối với những khách hàng có tiền gửi tại Chi Nhánh. Phân cơng cán bộ có năng lực quản lý tài khoản của
khách hàng và chịu trách nhiệm tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu của khách hàng. Giải đáp và xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của khách hàng, hướng dẫn
khách hàng sử dụng các hình thức thanh tốn phù hợp với các sản phẩm dịch vụ của Chi nhánh như: Internet Banking, chuyển tiền điện tử, thanh toán xuất nhập khẩu,
SMS Banking… nhằm phục vụ khách hàng một cách có hiệu quả, giữ được khách truyền thống và thu hút khách hàng mới.Xây dựng chính sách phí ưu đãi đặc biệt đối
với từng nhóm khách hàng và căn cứ mức độ giao dịch, 6 tháng một lần rà soát danh sách khách hàng để phân loại chăm sóc cho phù hợp.
Tổ chức thu chi lưu động tại chỗ cho một số các đơn vị như Ga Sài Gòn, Kho bạc quận 3, các cơ quan báo chí, khối bệnh viện, các quỹ hỗ trợ… Thu tiền kể cả
ngày nghỉ, ngày lễ tại nhà của khách gửi tiền tiết kiệm nhằm đảm bảo an toàn tài sản, tiết kiệm thời gian cũng như tạo niềm tin đối với khách hàng. Chủ động mở rộng cho
vay vốn đến các thành phần kinh tế, quan tâm tạo điều kiện, giúp giải quyết khó khăn trong quá trình học tập đối với những đối tượng là sinh viên các trường cao đẳng và
dạy nghề…
Năm vừa qua, riêng khối in ấn báo chí, Chi nhánh đã huy động được khoảng 200 tỷ đồng. Có 29 đơn vị báo chí mở tài khoản như: Báo Tuổi trẻ, Phụ nữ T.p HCM,
Vietnamnet… Còn đối với khối Vận tải Đường sắt đã có 11 đơn vị đăng ký mở tài khoản với số dư tiền gửi khoảng 180 tỷ đồng. Chủ trương cho vay hỗ trợ lãi suất của
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã thực sự đi vào cuộc sống thông qua việc Chi nhánh đã hỗ trợ cho một số các tổ chức kinh tế được vay hỗ trợ lãi suất với số tiền là
321 tỷ đồng.

2.5.2 ĐIỂM YẾU


Do cán bộ tín dụng cá nhân còn ít, cán bộ tín dụng cá nhân của Chi Nhánh một lúc phải đảm nhận quá nhiều công việc, làm cho hiệu quả công việc bị giảm
xuống. Việc cho vay cá thể dần chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số cho vay của
Chi Nhánh. Tuy nhiên, công tác thẩm định của Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn, việc kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng có đúng mục đích ghi trên hợp đồng
tín dụng hay khơng vẫn là vấn đề nan giải...Đây là điểm cần xem xét để khắc phục trong thời gian tới.
Máy móc thiết bị của Ngân hàng còn thiếu làm cho tiến độ cơng việc của Ngân hàng đơi lúc còn chậm làm khách hàng phải đợi lâu.

2.5.3 CƠ HỘI


Nếu như năm 2008 khủng hoảng xảy ra, năm 2009 bước qua khủng hoảng, sang năm 2010 bắt đầu vào điều kiện kinh doanh bình thường, nền kinh tế thế giới đã
vượt qua khủng hoảng. Chính sự hồi phục này là cơ hội phát triển cho tồn ngành Ngân Hàng nói chung cũng như VietinBank chi nhánh 3 nói riêng.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2010 được dự báo ở mức 4. Những nền kinh tế như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản bắt đầu tăng trưởng trở lại. Khi các nền kinh
tế lớn tăng trưởng, khơng ít thì nhiều kinh tế Việt Nam sẽ được hưởng lợi, dòng vốn FII và đặc biệt là FDI sẽ tốt hơn. Mãi lực đầu tư và thị trường tiêu thụ bắt đầu tăng
trưởng trở lại sẽ tác động đến xuất khẩu. Điều đó sẽ giúp các ngành ngân hàng trong nước tận dụng cơ hội để tăng trưởng và phát triển.
Mặt khác, theo cam kết WTO sau giai đoạn năm 2010 - 2012, các ngân hàng nước ngồi khơng bị ràng buộc khi tham gia kinh doanh trên thị trường Việt Nam và
trước đó khi đàm phán WTO, nhiều người dự báo trong năm 2010 - 2011 sẽ có nhiều ngân hàng con nước ngồi tham gia hoạt động. Nhưng thực tế, cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu xảy ra và với diễn biến thị trường hiện nay thì sự tham gia của ngân hàng con 100 vốn nước ngoài vào Việt Nam sẽ chậm lại, nên đây là cơ hội để các
ngân hàng trong nước tăng tốc.Điều quan trọng là ngân hàng phải biết hành động như thế nào, kết hợp với công cụ nào để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động.

2.5.4 THÁCH THỨC


Bên cạnh những cơ hội nêu trên thì Chi nhánh cũng tồn tại những thách thức vi mô và vĩ mơ như: Trên địa bàn Quận 3 có khá nhiều các NHTM như NH Đầu tư
và phát triển, NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, NHTMCP Á Châu, NHTMCP Đơng Á…Chính vì vậy đã tạo nên một sự canh tranh gay gắt giữa NHCT
Chi nhánh 3 với các NHTM khác.
Với hoạt động Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay, theo các chuyên tài chính, khủng hoảng đã dần đi qua, sự hồi phục đã diễn ra và cơ hội đang đến với ngành
ngân hàng, nhưng khơng hồn tồn bền vững. Chính vì thế, nếu không nâng cao sức cạnh tranh và xây dựng được định hướng phát triển mang đậm nét riêng, thì hoạt
động của mỗi ngân hàng khó có thể đạt hiệu quả cao. Có nghĩa, nếu ngân hàng khơng cẩn trọng thì sẽ phải còn đối mặt với nhiều thách thức.
Theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành tài chính, Bởi năm 2009, Việt Nam đã thực hiện cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Hệ
thống ngân hàng trong nước sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh lớn từ những ngân hàng nước ngồi trong năm 2009 và các năm tới, đòi hỏi khả năng quản trị của ngân
Năm 2010, Chính phủ đã đưa ra thơng điệp kiểm sốt tăng trưởng tín dụng không vượt quá 25, thấp hơn nhiều nếu so với con số 38 - 39 của năm 2009, hiện
chính sách tiền tệ đã bắt đầu được siết lại làm cho hoạt động của các ngân hàng sẽ khó khăn hơn và khó khăn lớn nhất vẫn là nguồn vốn; lúc này áp lực huy động vốn
tiếp tục gia tăng, dẫn đến cho vay ra cũng phải cẩn trọng và chọn lọc khách hàng tốt nhất để cho vay, người vay phải trả lãi suất cao. Điều đó cũng dễ hiểu, vì với một nền
kinh tế bắt đầu phục hồi thì vốn liếng sẽ trở nên khan hiếm. Trước đây, những người có vốn khó đầu tư, kinh doanh do các kênh đầu tư sụt giảm nên gửi tiền vào ngân
hàng để hưởng lãi suất, nhất là năm 2008 lãi suất tiền gửi tăng cao. Còn tình hình thị trường hiện nay đã thay đổi, khi các kênh đầu tư khác đã và đang dần hồi phục, nhiều
người sẽ rút vốn ra để đầu tư thay vì gửi vào ngân hàng. Thị trường bất động sản sẽ ấm lên và khả năng phục hồi vào cuối năm nay; Thị trường chứng khoán cũng sẽ
phục hồi và thị trường trái phiếu hấp dẫn hơn. Vì vậy, tiền gửi vào ngân hàng sẽ ít đi, đó là chưa kể đối với việc khống chế trần lãi suất huy động và đây cũng là vấn đề
khó khăn nhất của ngân hàng trong năm nay. Một khó khăn khác nữa đó là tín dụng thắt chặt, nên nguồn vốn cho vay bất động sản, chứng khoán vốn mang lại lợi nhuận
lớn cũng bị hạn chế.
3.1 NHỮNG TỒN TẠI, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH KHẮC PHỤC TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI VIETINBANK_CN3 TP.HCM

3.1.1 NHỮNG TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN


Bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh Chi Nhánh vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế cần phải nhanh chóng khắc phục như:
- Việc huy động vốn khó khăn khơng chỉ đối với Vietinbank _CN3 Tp.HCM mà còn nhiều đối với các Ngân Hàng khác nữa ở hiện tại và trong thời gian sắp tới. Bởi lẽ,
người dân hiện nay linh hoạt hơn trong việc đầu tư vốn của mình trong điều kiện nền kinh tế ngày càng hồi phục sau khủng hoảng nặng nề và chắc chắn nó sẽ còn phát
triển hơn nữa. Người dân đã sử dụng đồng vốn của mình để mở cửa hàng kinh doanh tạp hoá, mở nhà hàng, quán ăn, quán giải khát, đầu tư vốn đi xuất khẩu lao động, đầu
tư bất động sản, xổ số, mua sắm đồ dung tiện nghi trong gia đình, nhu cầu vui chơi,đi học…có thể nó mang lợi nhuận nhiều hơn so với gửi tiết kiệm tại Ngân Hàng để
hưởng lãi suất. Ngồi ra sự có mặt của công ty bảo hiểm đã làm ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động của Ngân Hàng. Nhiều hộ tham gia mua bảo hiểm nhân thọ, bảo
hiểm học tập cho con cái…So với Ngân Hàng, bảo hiểm có ưu thế hơn ở chỗ là: có nhân viên bảo hiểm đến tận nhà để vận động người dân tham gia và thấy được lợi ích
từ bảo hiểm rằng: Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường, nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố. Với những lợi ích
trên, nhiều khách hàng đã không chọn gửi tiền tiết kiệm vào Ngân Hàng. Điều này đã làm mất đi kênh huy động vốn cho Ngân Hàng.
- Mặc dù theo xu hướng mở rộng đối tượng khách hàng, nhưng số lượng khách hàng được vay tiêu dùng còn rất hạn chế. Chi nhánh mới chỉ cho vay chủ yếu đối với các
cán bộ Nhà Nước do Chi Nhánh có thể nắm vững được thu nhập của họ. Điều này đã làm hạn chế số lượng khách hàng vay vốn tại Chi Nhánh.
- Khâu kiểm tra sử dụng vốn sau khi giải ngân cho khách hàng còn hạn chế. Vẫn còn xảy ra tình trạng khách hàng sau khi vay vốn đã khơng sử dụng tồn bộ vốn vay cho
phương án sản xuất, kinh doanh như đã trình bày với Chi Nhánh. Đến khi xảy ra nợ xấu, họ mới bắt đầu tìm cách giả quyết.
- Mặc dù tỷ lệ nợ quá hạn của thành phần kinh tế cá thể hiện nay còn ở mức cho phép nhưng số nợ quá hạn vẫn còn khá cao chưa giải quyết được hết như nhiệm vụ đã đề
ra. Nguyên nhân các khoản nợ là do hoạt động sản xuất, kinh doanh bị thua lỗ dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ Chi Nhánh. Hoạt động sản xuất, kinh doanh cá thể
còn mang tính riêng lẻ, tự phát, theo phong trào, thường xảy ra tình trạng cung vượt qua so với cầu sản phẩm; bị người mua ép giá, các sản phẩm làm ra thường không ổn
định, khả năng sinh lời chưa cao. Mặc khác, là do cơng tác tìm hiểu thị trường, công tác thẩm định, xem xét hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh của cán bộ tín
dụng chưa tôt, gián tiếp gây ra các khoản nợ tồn đọng trong ngân hàng. Việc xử lý nợ từ tài sản đảm bảo còn rất nhiều khó khăn cho Chi Nhánh. Do các quy định của pháp
luật chưa hỗ trợ tốt cho Ngân Hàng trong việc chủ động xử lý tài sản khi hợp đồng tín dụng bị vi phạm.

3.1.2 CÁCH KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ


Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế với sự canh tranh gay gắt như hiện nay để có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường. Điều đầu tiên, phải nhận thấy những
Hoạt động Ngân Hàng đóng vai trò chủ đạo trên thị trường tài chính nhưng rủi ro rất đa dạng. Nếu có sự thu hẹp đáng kể về khối lượng vốn, Ngân Hàng sẽ có ít
nguồn lực để cho vay. Điều này gián tiếp gây ra sự suy giảm trong hoạt động kinh tế. Mặt khác, tính hệ thống và tác động dây chuyền trong hoạt động Ngân Hàng liên
thông khá lớn, nếu một Ngân Hàng khó khăn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động chung tồn ngành. Chính vì thế, Huy động vốn là một nghiệp vụ tạo nguồn vốn trong kinh
doanh, là khâu mở đường vững chắc không những mở rộng được nghiệp vụ tín dụng mà còn đem đến cho Ngân Hàng nhiều lợi nhuận.
Do vậy, đã đến lúc Chi Nhánh cần tập trung quản trị rủi ro thanh khoản, tín dụng và lãi suất. Chi Nhánh cần nâng cao khả năng dự báo và thực hiện tốt vai trò tư
vấn lãi suất đối với khách hàng, giúp doanh nghiệp phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho mình và Chi Nhánh.
Tăng cường các khâu quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi đối với khách hàng bằng nhiều hình thức như: gửi tiền có thưởng, xổ số trúng thưởng theo số thứ tự của sổ tiết
kiệm, số tài khoản tiền gửi…,lãi suất tương đối hợp lý, áp dụng biểu phí thanh toán hợp lý đối với những khách hàng quan hệ gửi tiền thanh tốn lớn và thường xun.
Ví dụ như các Tổng cơng ty, Bưu chính Viễn thơng, ngành Điện lực với phí biểu ưu đãi thấp nhất và thanh tốn nhanh chính xác. Tổ chức quảng cáo các hình thức huy
động rộng rãi đến các tổ chức kinh tế và cá nhân, mọi tầng lớp dân cư am hiểu các loại hình huy động của Chi nhánh gồm các loại hình huy động như: Tiết kiệm khơng
kỳ hạn thông thường; Tiết kiệm không kỳ hạn lãi suất bậc thang theo số dư; Tiết kiệm có kỳ hạn thơng thường;Tiết kiệm có kỳ hạn lãi suất bậc thang theo số dư; Tiết
kiệm có kỳ hạn lãi suất bậc thang theo thời gian;Tiết kiệm có kỳ hạn rút gốc linh hoạt; Tiết kiệm có kỳ hạn lãi suất thả nổi;Tiết kiệm dự thưởng; Kỳ phiếu; Chứng chỉ
tiền gửi .
Hiện tại, VietinBank triển khai các hợp đồng chuyển tiền đặc thù với nhiều ngân hàng lớn, có uy tín tại những quốc gia có đơng người Việt Nam đang sinh sống
và làm việc. Đó là:
Hoa Kỳ Wells Fargo Bank
Nga Russky Slaviansky Bank
Đức Deutsche Bank
Hàn Quốc Korea Exchange Bank
Đảo Síp Cyprus
Laiki Bank Cyprus Popular Bank
Arabia Al Rajhi Bank
Malaysia CIMB Bank
Qua những hợp tác đặc biệt này, VietinBank giúp khách hàng tiết kiệm được thời gian, chi phí khi chuyển tiền về Việt Nam. Với sự liên kết như vậy Ngân Hàng
Hợp tác với công ty xuất khẩu lao động, thông qua họ để tuyên truyền về dịch vụ cung cấp vốn có nhu cầu xuất khẩu lao động và các dịch vụ hỗ trợ nguồn tiền
ngoại hối chuyển về cho gia đình, người than, bạn bè. Chi Nhánh có thể thu hút nguồn kiều hối đáng kể chuyển về và gửi ở Chi Nhánh. Điều này sẽ đóng góp một
phần khơng nhỏ trong việc gia tăng nguồn vốn và phí dịch vụ cho Chi Nhánh.
Thực hiện giữa cơng tác tín dụng và cơng tác huy động vốn, tích cực thu nợ để tạo nguồn luân chuyển cho vay, gắn trách nhiệm cán bộ tín dụng trong cơng tác huy
động vốn. Tạo phong cách giao dịch của mỗi cán bộ: hồ nhã, nhiệt tình, vui vẻ, bí mật,
xử lý nghiệp vụ nhanh chính xác và ln lấy phương châm “khách hàng là thượng đế” trong mọi quan hệ kinh doanh.
Thứ hai, về hoạt động tín dụng cá thể:
Hiện nay, Chi NHánh hầu hết chỉ cho vay tín chấp đối với công nhân viên nhà nước. Tuy nhiên, không chỉ cơng nhân viên nhà nước mới có nguồn thu nhập ổn định
mà các nhân viên của nhiều cơng ty ngồi quốc doanh cũng có thu nhập ổn định và có nhu cầu vay vốn cho mục đích tiêu dùng và tâm lý của họ thích vay tín chấp hơn là
thế chấp. Do đó, Chi Nhánh nên liên kết và mở rộng hình thức dịch vụ trả lương cho nhân viên với các công ty tư nhân trên địa bàn một cách nhanh và sớm nhất có thể
trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, thông qua đó làm cơ sở để mở rộng tín dụng tiêu dùng trong dân cư. Vì xu hướng tín dụng tiêu dùng sẽ trở
thành xu hướng phát triển tất yếu khi nền kinh tế ngày càng phát triển.
Cán bộ tín dụng cần nắm bắt nhanh chóng các thơng tin thị trường diễn ra hàng ngày thông qua các phương tiện truyền thơng,sách báo…để có thêm cơ sở đánh
giá phương án sản xuất, kinh doanh của khách hàng. Để hạn chế các khoản nợ q hạn từ có đến khơng còn, Chi Nhánh cần thực
hiện tốt các công việc sau: Chú trọng vào tính khả thi và hiệu quả của dự án, cho vay phù hợp với điều kiện phát
triển kinh tế gia đình. - Phân cơng nhiệm vụ cho nhân viên theo khu vực, địa bàn, giao quyền được quyết
định cho vay trong hạn mức tuỳ vào khả năng và trình độ chun mơn. - Chấp hành nghiêm túc các qui chế, qui định, qui trình các văn bản hướng dẫn về
đầu tư tín dụng nhất là cơng tác thẩm định các dự án, phương án vay vốn. - Tiến hành phân loại nợ quá hạn theo nguyên nhân, cần làm rõ các nguyên nhân dẫn
đến nợ quá hạn để có hướng xử lý thực hợp cho từng nhóm. Nếu nguyên nhân thuộc về trách nhiệm của cán bộ tín dụng thì phải có những hình thức xử phạt cụ thể. Nếu
nguyên nhân thuộc về khách hàng hoặc những nguyên nhân khách quan khơng lường trước được thì NH phải thỏa thuận với khách hàng tìm nguồn thu khác để trả nợ hay
thực hiện thường xuyên các chính sách ưu đãi, chia sẻ khó khăn về lãi suất với khách hàng, hỗ trợ khách hàng phát triển bền vững như:thương lượng gia hạn nợ, điều
chỉnh kỳ hạn, giản nợ… bởi chính sự tồn tại và phát triển của khách hàng là quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Chính các giải pháp mềm dẻo và linh
hoạt này đã cứu khơng ít khách hàng từ chỗ sắp “khuynh gia bại sản” đến “ gượng” lại được tiếp tục tồn tại, phát triển và ngày càng gắn bó với ngân hàng. Nếu không
3.2 RỦI RO VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA KHI CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI VIETINBANK_CN3 TP.HCM

3.2.1 RỦI RO


Bất cứ hoạt động kinh doanh nào trong nền kinh tế thị trường đều gặp rủi ro. Đặc biệt hoạt động kinh doanh của Ngân hàng lại là một lĩnh vực kinh doanh nhạy
cảm càng không tránh được những rủi ro. Và các khoản nợ xấu là một vấn đề luôn làm cho các nhà quản trị NHTM quan tâm. Bất cứ NHTM nào dù có quản lý tài chính
chặt chẽ đến đâu thì vẫn khơng thể triệt tiêu hết nợ xấu, bởi vì nguy cơ rủi ro tiềm ẩn từ mọi nơi, mọi phía. Do đó quản lý hạn chế rủi ro là nhiệm vụ hàng đầu của các
NHTM. Bởi vì bản chất và chức năng của Ngân Hàng là một tổ chức tài chính trung gian chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức và cá nhân
có nhu cầu vay lại. Do đó, thực chất sở hữu những khoản vay là thuộc quyền sở hữu của những người gửi tiền vào Ngân Hàng. Do vậy, nếu một khoản vay nào bị thất
thốt khơng thu hồi được thì ngân hàng sẽ phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền.
Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân
Hàng, gây tổn thất cho Ngân Hàng, đó là khả năng khách hàng khơng trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho Ngân Hàng. Từ đó, có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi
ro tín dụng của NHTM như: - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu. - Tỷ lệ nợ xấu trên quĩ dự phòng tổn thất.
- Nợ đáng nghi ngờ nợ có vấn đề - có khả năng chuyển thành nợ xấu cao. - Nợ khơng có tài sản đảm bảo.
Ở đây ta sẽ đi sâu phân tích rủi ro tín dụng
ở đối tượng là khách hàng cá nhân và hộ gia đình kinh doanh cá thể:
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, trong những năm gần đây, mức tăng GDP bình quân hàng năm của VN thường giữ trên dưới 8. GDP bình quân đầu
người cũng liên tục tăng cao, từ 800 USD năm 2008 lên 950 USD năm ngối và năm nay có thể lên tới gần 1.200 USD. Điều này cho thấy mức sống của người dân đã
được cải thiện rất nhiều và chất lượng cuộc sống đòi hỏi phải được nâng lên.
Ngồi nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc thì thu nhập của người dân tăng sẽ là điều kiện để thúc đẩy tăng nhu cầu về chất lượng ở và đi lại. Chắc chắn nhu cầu về
xe máy, ôtô và mua sắm trang thiết bị gia đình cũng sẽ tăng lên. Thêm vào đó, theo xu thế của thời đại, nhu cầu xây nhà đẹp, sửa chữa nhà cho khang trang và tiện nghi
cũng sẽ cao hơn trước; mỗi hộ gia đình đều có thể tự kinh doanh và hiện nay số lượng các tiểu thương và hộ kinh doanh ngày càng tăng cao,quy mơ sản xuất thì ngày
càng mở rộng;... Và các khoản chi lớn thông thường cần đến sự hỗ trợ tín dụng. Hiện, các nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ chưa sẵn sàng cấp tín dụng cho người mua hàng,
do vậy nguồn tín dụng ngân hàng thường là sự lựa chọn đầu tiên. Trên thực tế, đến thời điểm này người tiêu dùng Việt Nam đã bắt đầu quen với việc vay vốn ngân hàng
để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu của mình. Trong bối cảnh ấy, cho vay tiêu dùng
2. Từ đảm bảo tín dụng: Trong quá trình phát mãi tài sản của khách hàng, do vì tâm lý của đa số người dân
cho rằng tài sản đó khơng phù hợp cho q trình sản xuất kinh doanh nên thời gian bán tài sản bảo đảm bị kéo dài nên ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ quá hạn.
Tài sản thế chấp của khách hàng đa số là bất động sản nên thời gian bán tài sản để thu hồi nợ có thể kéo dài, đơi khi khơng tiêu thụ được.
Trong q trình cho vay mà người bảo lãnh gặp phải những tình huống khó khăn như tai nạn, bệnh tật,… Điều đó có thể dẫn đến người bảo lãnh khơng có khả năng thực
hiện những lời cam kết của mình, tức là khơng có khả năng thay mặt người vay trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi.
Trong quá trình vay vốn nhiều gia đình gặp phải những hồn cảnh khó khăn như người thân gặp tai nạn, bệnh tật,…cho nên làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh
doanh làm cho hiệu quả giảm sút.
3. Đối với Ngân hàng - Các ngành nghề của các khách hàng đi vay là rất đa dạng: Đa phần các cán bộ
tín dụng Ngân Hàng
khơng thể có đầy đủ thơng tin cũng như hiểu biết về các ngành nghề lĩnh vực mà khách hàng đang đầu tư kinh doanh. Hơn nữa, các cán bộ Ngân
Hàng cũng rất khó thẩm định được số liệu tài chính do khách hàng cung cấp có “đúng đắn” và chính xác tuyệt đối hay khơng, trên thực tế các hộ kinh doanh cá thể có thói
quen kinh doanh khơng ghi chép sổ sách, hóa đơn…Vì thế, khi các cán bộ ngân hàng sử dụng các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp để phân tích trong cơng tác
thẩm định sẽ đưa ra cái nhìn lệch lạc thiếu chuẩn xác. - Bên cạnh đó cơng tác tiếp cận từng khách hàng để kiểm tra quá trình sử dụng vốn
vay có hợp pháp hay khơng thì rất khó khăn, điều đó làm cho việc kiểm tra khách
• Để cho chi tiết và cụ thể hơn ngoài những nguyên nhân tổng quan nêu
trên ta có thể phân tích sâu hơn rủi ro một vài khoản vay đối với cá nhân và hộ gia đình kinh doanh.

Cho khách hàng vay để mua căn hộ, mua nhà dự án
Là một nghiệp vụ có rất nhiều rủi ro. Nếu khơng kiểm sốt chặt chẽ, ngân hàng sẽ mất vốn hoặc gặp khó khăn khi thu hồi nợ. Thông thường, khách hàng mua căn hộ
khi vay vốn thường thế chấp bằng chính căn hộ, trong khi đây là sản phẩm hình thành trong tương lai.
Và việc cho khách hàng mua căn hộ, nhà dự án vay vốn và được thế chấp bằng chính căn hộ đó, ngân hàng phải chịu hai loại rủi ro. Thứ nhất là rủi ro về tài sản.
Không ai đảm bảo được chủ đầu tư triển khai dự án và hoàn tất đúng tiến độ. Thứ hai là rủi ro về trả nợ. Nếu khách hàng vay không trả được nợ, ngân hàng chỉ còn một
cách duy nhất là “nắm” chủ đầu tư, vì tài sản thế chấp của khách hàng chính là căn hộ, trong khi nó chưa hình thành. Ngân hàng chẳng có gì phát mãi để thu hồi nợ.
• Cho vay mua ơtơ
Rủi ro lớn nhất là đối với trường hợp cho vay khách hàng mà tài sản đảm bảo chính là chiếc xe phải vay vốn mới mua được. Xe do chủ xe đi, ngân hàng khơng
quản lý được, khách hàng tồn quyền sử dụng, nên cũng khó kiểm sốt được tài sản đảm bảo, đặc biệt trong những trường hợp xe bị rủi ro, chỉ còn trơng chờ vào bảo
hiểm. Vì vậy, tất cả các xe dùng làm tài sản đảm bảo đều phải mua bảo hiểm có giá trị tương đương 150 giá trị khoản vay.
Khơng kiểm sốt được nguồn trả nợ của khách hàng nếu không ổn định dẫn đến không thực hiện được phân kỳ trả nợ;
Rủi ro khi không quản lý được tài sản bảo đảm là xe ô tôtại thời điểm hiện nay đối với xe nhập khẩu giá trên hoá đơn thấp hơn nhiều so với số tiền thực tế bỏ ra
Điều kiện để trở thành khách hàng vay mua ơ tơ khá chặt chẽ. Đó là lý do tại sao thị trường dịch vụ này vẫn chưa thực sự sôi động theo mong đợi của nhiều người.
Khách hàng phải chứng minh được nguồn tài chính trả nợ và phải trả nợ trong thời gian ngắn. Không phải ai có nhu cầu mua xe cũng đáp ứng được yêu cầu của ngân
hàng.
Do vậy, thị trường giàu tiềm năng này vẫn đang chờ đợi những khách hàng thực sự có nhu cầu mua xe nhưng phải có thu nhập tốt để trả nợ trong ngắn hạn, hay
có tài sản đảm bảo khác thì có thể vay đến 90-100 giá trị xe.

Cho vay hộ kinh doanh cá thể Thói quen dùng tiền mặt, kinh doanh khơng hóa đơn chứng từ của các tiểu
thương, hộ kinh doanh là khó khăn mà NH gặp phải khi cho vay vốn. Do đặc thù của các tiểu thương, hộ kinh doanh như vậy nên NH rất khó xác định được doanh thu, thu
nhập của khách hàng khi quyết định cho vay. Bởi thế các NH không mấy mặn mà cho đối tượng này vay vốn nếu khơng có tài sản thế chấp là bất động sản.
Tuy đánh giá tiểu thương, hộ kinh doanh là đối tượng tiềm năng trong dịch vụ tín dụng, nhưng khi xây dựng kế hoạch cho nhân viên xuống tận nơi để cho vay và
thu hồi nợ hằng ngày thì khơng thực hiện được vì chi phí bỏ ra sẽ cao hơn so với các đối tượng vay vốn khác. Trong số ít các NH triển khai cho hộ kinh doanh, tiểu
thương vay bổ sung vốn lưu động, đầu tư mới hay nâng cấp sạp chợ..., Vietinbank là NH cho vay với hạn mức khá cao.

Cho vay có bảo đảm bằng số dư tài khoản, sổ thẻ tiết kiệm
Ngân Hàng áp dụng đối với cá nhân vì ko thể quản lý được sau khi cho vay,
đối với doanh nghiệp vay số tiền lớn ko quản lý được sẽ gây rủi ro tín dụng. Đối tượng cho vay chủ yếu là cá nhân thuộc đợn vị trả lương qua Thẻ ATM
tại Ngân hàng. Áp dụng cho cá nhân có thu nhập thường xuyên, hợp pháp, ổn định. Có tài sản
đảm bảo bằng các hình thức: Ký quỹ, thế chấp, cầm cố TS đảm bảo Ts đảm bảo phải dễ chuyển nhượng.

Đối với cho vay chứng khốn Ngân hàng thường căn cứ vào thị giá của cổ phiếu cầm cố để xác định giá trị
tài sản cầm cố, và mức cho vay, trong khi thị giá cổ phiếu có thể biến động thất thường theo quan hệ cung cầu trên thị trường và hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp dẫn đến rủi ro giảm giá tài sản đảm bảo và ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng trả nợ của khách hàng;
Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay vẫn chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố kinh tế-chính trị- xã hội ở trong và ngồi nước, cho nên rất khó dự báo một cách
chính xác mức độ và xu hướng biến động của thị trường chứng khốn. Yếu tố này có ảnh hưởng đến khả năng thẩm định hiệu quả vốn cho vay và nguồn thu hồi nợ của
TCTD khi cho khách hàng vay để đầu tư kinh doanh chứng khoán. Thơng tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp hồn tồn chưa minh bạch, có tình
trạng ‘nhiễu thơng tin’ trên thị trường…
Và để kiểm sốt rủi ro thường thì Ngân Hàng thường cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá đối với cơng ty chứng khốn, cho vay có cầm cố bằng chứng khốn
vàhoặc bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng sử dụng vốn vay để mua các loại chứng khốn với mục đích đầu tư ngắn hạn vàhoặc dài hạn, cho vay ứng trước tiền
• Như vậy, hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán, cho vay
đầu tư kinh doanh bất động sản, hay cho vay kinh doanh sản xuất , cho vay tiêu dùng khác...đối với cá nhân và hộ gia đình kinh doanh cá thể là một loại tín dụng mang lại
rủi ro rất cao, trước hết là các ngân hàng vẫn chưa có một cơ chế kiểm sốt chặt chẽ thu nhập của khách hàng cũng như chưa nắm được chuyện thay đổi công ăn việc làm
hay chỗ ở của người đi vay. Thêm vào đó, thị trường bất động sản sớm nắng, chiều mưa, nhu cầu bất động sản mang tính ảo nhiều hơn cũng là một nguyên nhân gây
nhiều rủi ro cho Ngân Hàng khi cho vay mua nhà, đổi nhà... tài sản đảm bảo là bất động sản Trong những trường hợp khách hàng xù nợ hoặc khơng có tiền để trả,
ngân hàng cũng khơng thể dùng luật rừng để đòi nợ. Thường thì ngân hàng chỉ có cách dựa vào pháp luật; và việc cho vay tiêu dùng chủ yếu dựa trên tín chấp, Một
trong những vấn đề khó khăn mà TCTD đề cập đến là thiếu thơng tin về khách hàng. Cho vay tín chấp, vì vậy, nhân thân của khách hàng là căn cứ rất quan trọng để quyết
định cho vay. Tuy nhiên, Việt Nam đang rất thiếu các trung tâm thông tin dữ liệu khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Trung tâm thơng tin tín dụng của NHNN CIC mới
chỉ cung cấp thông tin doanh nghiệp. Đây là lý do tại sao tín dụng tiêu dùng của các NH hiện nay chỉ tập trung cho cán bộ công chức trong hệ thống cơ quan hành chính
và nhân viên của một số doanh nghiệp lớn.
Và để hạn chế tính rủi ro trong cho vay cá nhân, các NH đều quy định phần lớn các hợp đồng cho vay là có tài sản thế chấp đảm bảo nên tính rủi ro khơng đáng
lo ngại mấy. Riêng vay tín chấp, tỉ lệ cho vay chỉ dừng lại ở mức từ 5-10 trên tổng dư nợ của khu vực khách hàng cá nhân.Để tránh rủi ro Bảo đảm cho các khoản vay
này là lương và thu nhập của người vay trên tài khoản cá nhân mở ngay tại NH cho vay.

3.2.2 BIỆN PHÁP


Trong quá trình phát triển của nền kinh tế tất yếu xuất hiện quan hệ tín dụng giữa các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Sự luân chuyển dòng vốn giữa một bên
CẦN vốn và một bên CÓ vốn nhàn rỗi đã xuất hiện quan hệ tín dụng. Hiện nay, cơng tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với
các Ngân Hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung. Việc đánh giá, thẩm định và quản lý tốt các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những
rủi ro tín dụng mà Ngân Hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân Hàng.
Đảm bảo tín dụng được coi là tiêu chuẩn xét duyệt cho vay nhưng phải thấy rằng đây không phải tiêu chuẩn quan trọng nhất hay nói cách khác nó khơng phải
mang tính ngun tắc. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường các hoạt động kinh tế diễn ra hết súc phức tạp. vì thế mọi dự đốn rủi ro của mơi trường đều mang tính
tương đối. Trong môi trường kinh doanh như vậy, đảm bảo tín dụng là một tiêu chuẩn bổ xung những biện pháp rủi ro tín dụng diễn biến khơng thuận lợi của môi
trường kinh doanh như hiện nay. a. Thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ: Thẩm định, đánh giá, lựa chọn khách
hàng để cho vay một cách chính xác, khi cho vay cần đưa ra mức tín dụng phù hợp
Thông tin về khách hàng là vấn đề luôn được quan tâm của người cho vay. Đây cũng là cơ sở quan trọng của người cho vay đưa ra quyết địng cấp tín dụng hay
khơng. Cho dù là khách hàng truyền thống hay khách hàng mới thì việc tìm hiểu thông tin về họ vẫn không thể bỏ qua và phải được coi là một trong những biện pháp
cần thiết nhằm ngăn chặn những rủi ro tín dụng xảy ra. - Làm tốt công tác thẩm định trong khi xem xét cho vay
Đặc thù của ngành cho vay đòi hỏi cán bộ cho vay phải nắm bắt được kiến thức cơ bản về thị trường, các ngành nghề, các thành phần kinh tế thuộc nhiều lĩnh
vực sản xuất với những thị trường riêng biệt và sản phẩm đầu ra của dự án kinh doanh của khách hàng. Cán bộ cho vay cần phải xem xét lại việc thẩm định khách
hàng nhằm mục đích nâng cao hiệu quả thẩm định, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Thẩm định về khách hàng nên tập trung vào một số nội dung sau:
+ Thẩm định tư cách pháp lý của bên đi vay + Thẩm định về kinh ngiệm sản xuất kinh doanh của bên đi vay
+ Tính tốn, xác định mức thu nhập của khách hàng vay +Thẩm định lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn.
b. Thực hiện tốt công tác giám sát, xếp hạng rủi ro và những biện pháp xử lý thu hồi nợ
 Giám sát cho vay
+ Xem xét khách hàng sử dụng đúng mục đích hay khơng + Kiểm soát được mức độ rủi ro cho vay phát sinh trong quá trình sử dụng vốn của
khách hàng.
 Phát hiện nhanh những yếu tố bất lợi hay những khoản cho vay chính khơng đúng hướng mà chính sách cho vay đã đặt ra cho từng đối tượng khách hàng, cho
từng giai đoạn.  Việc xếp hạng rủi ro dựa trên cơ sở mức độ tín nhiệm và khả năng trả nợ của
khách hàng.  Củng cố mối quan hệ giữa ngân hàng với chính quyền địa phương nơi cho vay
với những khoản nợ lớn: Thực tế hoạt động tín dụng của ngân hàng trong thời gian qua cho thấy vai trò của các cấp chính quyền, đồn thể trong việc hổ trợ cho người
dân vay vốn, đồng thời dựa vào uy tín của các cấp chính quyền để tác động thu hồi nợ vay là rất hữu hiệu.
 Từng cán bộ tín dụng phụ trách địa bàn và lãnh đạo phải nắm vững cụ thể thực trạng nợ quá hạn trong phạm vi mình quản lý để từ đó đưa ra những biện pháp
thu hồi nợ thích hợp. Những món nợ có khả năng thu hồi ngay, cán bộ tín dụng trực tiếp xuống gặp khách hàng để đôn đốc trả nợ. Những món nợ đang gặp khó khăn nên
cần có thời gian mới trả được thì tiến hành cho khách hàng lập cam kết thời gian thanh toán dứt điểm. Trường hợp người vay khó khăn q thì thu gốc trước, thu lãi
hoặc giảm miễn lãi theo chế độ quy định, các khoản nợ có khả năng trả nhưnh kì kèo, tránh né khơng trả nợ thì nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Trường hợp đã động
viên và áp dụng các biện pháp hành chánh nhưng chưa thu hồi được thì lập hồ sơ

c. Xác định giá trị tài sản đảm bảo


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (66 trang)

×