1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Đối với ngân hàng thương mại Đối với nền kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (251.55 KB, 33 trang )


Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
khích và thu hút khách gửi tiền trước hạn nếu có nhu cầu, nhưng khi đó khách hàng bị mất tiền lãi hoặc chỉ được trả lãi theo lãi suất tiền gửi khơng kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại. Căn cứ vào thời hạn có thể chia thành tiền gửi kỳ hạn tuần 1,2,3,4 tuần và kì hạn tháng
1,2,3,6,9,12,24,36 tháng . Căn cứ vào phương thức trả lãi có thể chia thành: •
Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ. •
Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ. •
Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi theo định kỳ tháng hoặc quý. Việc phân chia tiền gửi kỳ hạn thành nhiều loại khác nhau làm cho sản phẩm
tiền gửi của ngân hàng trở nên đa dạng và phong phú có thể đáp ứng được nhu cầu gửi tiền đa dạng của khách hàng.

2.1.3. Ý nghĩa của việc gia tăng tiền gửi


Tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng thương mại. Việc duy trì và mở rộng tiền gửi có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc mở rộng kinh doanh và gia tăng
lợi nhuận của ngân hàng. Vì lí do này, các ngân hàng đã tập trung mọi nỗ lực trong việc khai thác mọi nguồn vốn.

2.1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại


Tiền gửi là nguồn vốn ban đầu để ngân hàng tiến hành tạo tiền thơng qua cấp tín dụng bằng cách ứng trước vào tài khoản và sử dụng các phương tiện thanh tốn
khơng dùng tiền mặt. Khi cấp tín dụng bằng cách này ngân hàng đã không nhận 1 khoản tiền gửi mà tổng tiền gửi vẫn tăng, tất nhiên khơng thể tăng mãi mà có mức độ
nhất định. Việc tạo ra tiền từ nguồn tiền gửi ban đầu đã tạo ra một khối lượng tiền tệ lớn hơn, tạo cho nền kinh tế thêm sức thanh toán và tăng thêm lợi nhuận cho ngân
hàng.
SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 18
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
Tiền gửi tạo thành nguồn vốn cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lời của ngân hàng như cấp tín dụng, đầu tư, làm phương tiện thanh toán.
Ngân hàng thương mại cũng là một loại hình doanh nghiệp cho nên mục đích cuối cùng vẫn là lợi nhuận và khơi tăng lợi nhuận. Do đó, ngân hàng ln ra sức tìm
kiếm nguồn vốn này và sử dụng có hiệu quả nhằm trang trải chi phí, đứng vững trong cạnh tranh, kinh doanh có lời đồng thời tác động vào nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế
phát triển.

2.1.3.2. Đối với nền kinh tế


Bất kì quốc gia nào muốn phát triển đều cần vốn để đầu tư, xây dựng, phát triển sản xuất hàng hóa, tạo cơng ăn việc làm và của cải vật chất cho xã hội. Vốn từ
ngân sách thì có hạn không thể chi cho tất cả các nhu cầu. Vốn của mỗi doanh nghiệp, mỗi người dân thì tạm thời nhàn rỗi nhiều nhưng nhỏ bé, phân tán. Vì vậy,
vấn đề đặt ra là làm sao gom những đồng vốn này lại với nhau thành một khối lớn rồi dùng nó tài trợ cho các nhu cầu trên. Khơng ai khác, chính ngân hàng là người
đứng ra giữ vai trò trung gian hết sức quan trọng này: thu hút những đồng vốn từ nơi nhàn rỗi và chuyển nó sang nơi cần thiết.
Ở Việt Nam, theo đánh giá của các nhà kinh tế thì vốn nhàn rỗi còn nằm trong dân cư khá lớn, chủ yếu nằm dưới dạng dự trữ như vàng bạc, đá qúi kể cả tiền mặt.
Khơng ai khác ngồi ngân hàng có thể tạo dựng được nguồn vốn lớn lao đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, cũng như các nhu cầu đa dạng khác của mọi tầng lớp dân
cư. Hơn nữa, việc huy động nguồn vốn trong nước có ý nghĩa quyết định vì đây là nguồn tại chỗ, có giá trị lớn và thể hiện được sức mạnh, ý chí tự lực tự cường của
một quốc gia, dân tộc. Việc tập trung, gia tăng nguồn vốn kết hợp với việc sử dụng vốn và vai trò
trung gian thanh tốn. Ngân hàng đã làm được công việc quan trọng cho nền kinh tế là đẩy mạnh tốc độ lưu thông tiền tệ, vòng quay vốn của doanh nghiệp, cá nhân, làm
giảm lượng tiền mặt lưu thơng, tiết kiệm chi phí và thời gian cho mọi thành phần kinh tế.
SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 19
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
Ngân hàng thương mại khi huy động vốn còn đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước. Chẳng hạn, trong
điều kiện nền kinh tế đang có lạm phát hoặc giảm phát thì ngân hàng với cơng cụ hữu hiệu là lãi suất sẽ là một trong những biện pháp tích cực để điều tiết lượng tiền mặt
trong lưu thông. Ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và trả lãi ở mức thích hợp sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến ý thức tiết kiệm của mỗi người dân, tạo ra trong lòng họ ngân hàng như là một hình ảnh quen thuộc, một tiện ích, một nhu cầu khơng thể thiếu
trong đời sốn , đó cũng là tiền đề để phát triển kinh tế.

2.1.3.3. Đối với người gửi tiền


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

×