1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Lãi suất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (251.55 KB, 33 trang )


Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ cho các nhu cầu chung của xã hội.
Khi có thị trường chứng khốn, hầu hết các đơn vị kinh tế có nguồn lực tài chính giàu mạnh đều tham gia vao thị trường này. Họ có thể trao đổi vốn trực tiếp với
nhau mà không phải qua trung gian vì vậy ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến việc huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại.

2.1.4.3. Lãi suất


Lãi suất là một trong những công cụ tài chính quan trọng nhất của các ngân hàng. Lãi suất huy động tiền gửi, còn gọi là lãi suất huy động vốn hay tiết kiệm, và
lãi suất cho vay là hai cơng cụ chính các ngân hàng dùng để nâng cao thế mạnh tài chính của họ và giúp đóng góp vào việc ổn định và phát triển nền kinh tế quốc
dân. Cơng cụ tài chính này thường được các Ngân hàng Trung ương của các quốc gia thường xuyên sử dụng để ổn định nền kinh tế trong nước. Khi nền kinh tế của họ có
dấu hiệu chậm lại, các Ngân hàng Quốc gia thường đưa ra một lãi suất cho các ngân hàng tư nhân vay rất thấp để khuyến khích việc họ vay và cho vay lại để tiêu dùng
hay đầu tư phát triển giúp hâm nóng nền kinh tế trở lại. Khi tốc độ phát triển của nền kinh tế tăng quá mau dẫn đến tình trạng lạm phát, giá cả leo thang thì các Ngân hàng
Quốc gia này sẽ đưa ra lãi suất cao để giảm thiểu số lượng tiền vay của các ngân hàng tư nhân và qua đó giảm nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Ở Việt Nam, đa số các ngân hàng thương mại lớn đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và chịu sự chi phối của Ngân hàng Nhà nước NHNN. Một cách nào đó,
việc tăng hay giảm lãi suất tiết kiệm hay cho vay đều phản ảnh chính sách của NHNN, chiến lược riêng của từng ngân hàng và có sự tác động của nền kinh tế thị
trường. Mỗi ngân hàng đều có chiến lược hay lý do riêng khi quyết định tăng lãi suất
tiền gửi. Điểm mấu chốt là khi tăng lãi suất này, các ngân hàng đều nhằm vào việc thu hút thêm lượng tiền hiện đang luân chuyển trong thị trường để phục vụ một mục
đích tài chính nào đó. Tùy vào nhu cầu tiền mặt của ngân hàng, của chính phủ hay
SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 22
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
các khách hàng lớn cần vay để mua bán, đầu tư vào dự án trọng điểm, các ngân hàng sẽ đưa ra mức lãi suất thấp hay cao để thu hút dân chúng bỏ tiền vào các tài khoản
hoặc quỹ tiết kiệm. Với các nền kinh tế phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng tiền mặt hay đầu tư vào các dự án tăng cao, ngân hàng thường khơng đủ tiền để cho vay nên
phải tìm cách huy động tiền gửi sau đó cho vay lại với một lãi suất cao hơn. Có những lý do khách quan do thị trường tác động và có những lý do riêng
biệt khác mang tính chất hay nhu cầu nội bộ của việc tăng lãi suất tiền gửi. Nhiều ngân hàng vì cần số lượng tiền cho vay lớn và để gấp rút đáp ứng nhu cầu phát triển
của chính phủ hay doanh nghiệp đầu tư, nhập khẩu, v.v. nên phải huy động tiền gửi qua việc tăng lãi suất tiết kiệm ngắn hay dài hạn. Các ngân hàng khác, vì vị thế và
nhu cầu cạnh tranh không muốn mất khách hàng, tuy khơng có nhu cầu tiền mặt lớn, thường vẫn phải tăng lãi suất để cùng đứng chung với các ngân hàng khác. Việc các
ngân hàng theo nhau tăng hay giảm lãi suất cũng là việc bình thường. Điều quan trọng là tất cả chúng ta cần quan tâm thường xun đến ngành ngân hàng vì tài chính
là huyết mạch của thị trường và sự phát triển của đất nước. Trong hoạt động ngân hàng, lãi suất là yếu tố kĩ thuật hàng đầu của dịch vụ
ngân hàng. Thông thường, lãi suất cao thì nguồn huy động nhiều, ngược lại lãi suất thấp sẽ làm cho nguồn huy động giảm đi. Vì vậy ngân hàng phải đưa ra một mức lãi
suất thật phù hợp.
2.2.
Phân tích thực trạng
2.2.1. Tình hình vốn tại chi nhánh 2.2.1.1. Vốn huy động

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

×