1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Tình hình sử dụng nguồn vốn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (251.55 KB, 33 trang )


Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh

2.2.2.2. Tiền gửi có kì hạn


Nguồn vốn này tới nay vẫn chưa thể huy động được, có thể là do khách hàng vẫn thích và quen dùng loại tiền gửi khơng kì hạn hơn, cũng có thể là khách hàng
khơng biết có loại tiền gửi này. Vì thế, ngân hàng cần có kế hoạch mở rộng và phát huy nguồn vốn này.

2.2.2.3. Tiền gửi tiết kiệm khơng kì hạn


Số dư tiền gửi khơng kì hạn năm 2007 là 222 tỉ đồng, tăng 166 tỉ đồng so với năm 2006.
Doanh số gửi vào năm 2007 là 223 tỉ đồng tăng 124 tỉ đồng so với năm 2006. Doanh số rút ra năm 2007 là 65 tỉ đồng tăng 9 tỉ đồng so với năm 2006.

2.2.2.4. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn


Số dư tiền gửi có kì hạn năm 2007 là 248 tỉ đồng tăng 104 tỉ đồng so với năm 2006.
Doanh số gửi vào năm 2007 là 256 tỉ đồng tăng 81 tỉ đồng so với năm 2006. Doanh số rút ra năm 2007 là 144 tỉ đồng tăng 84 tỉ đồng so với năm 2006.

2.2.3. Tình hình sử dụng nguồn vốn


Tiền khơng đẻ ra tiền, nhưng vốn thì khơng thể sinh lời dù chỉ là lợi ích xã hội. Ngân hàng Á Châu chi nhánh Văn Lang đã có những kế hoạch có biện pháp sử
dụng vốn mang tính chiến lược nhằm phục vụ hiệu quả các mục tiêu đầu tư phát triển, mở rộng khách hàng, đa phương hóa tín dụng, đa dạng hóa dịch vụ kinh doanh
theo khả năng nguồn vốn và trong khuôn khổ cơ chế Trung Ương cho phép. Trong những năm qua ACB chi nhánh Văn Lang ln chủ động tìm kiếm
khách hàng tiềm năng, trên cơ sở giới thiệu từ khách hàng uy tín, khách hàng thân thuộc, khách hàng Vip. Ngân hàng gắn chiến lược sử dụng vốn với chiến lược huy
động vốn, thực hiện theo phương châm ‘‘đi vay để cho vay, thu nợ để cho vay’’.
SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 37
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
Điều gặt hái hết sức quan trọng, một thành quả vô giá trong hoạt động tín dụng của ACB chi nhánh Văn Lang đó là hiệu quả, uy tín, an tồn trong mọi lĩnh vực
kinh doanh. Đó là những khách hàng có uy tín truyền thống của ngân hàng, thường gọi là khách hàng Vip. Vượt qua những khó khăn thử thách gay gắt trong điều kiện
mới, nền kinh tế ngày càng phát triển và hội nhập sâu vào WTO. ACB đã tồn tại, đứng vững, ngày càng tăng trưởng nhanh và phục vụ vó hiệu quả trên địa bàn phụ
trách. Những thành quả đó chứng tỏ cơng tác sử dụng vốn của ngân hàng Á Châu chi
nhánh Văn Lang thật sự có hiệu quả, điều đó được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 18: Tình hình sử dụng nguồn vốn
Đ VT:tỷ đ ồng Năm
2 tháng cuối 2005
2006 2007
Doanh số cho vay 41
210 406
Mức tăng 169
196
Tốc độ tăng 412
93,3
Nguồn: Bả n báo cáo tài chính
Đồ thị 6: Biểu đồ thể hiện tình hình sử dụng vốn
50 100
150 200
250 300
350 400
450
2 tháng cuối năm 2005
Năm 2006 Năm 2007
Doanh số cho vay
SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 38
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
Bảng số liệu trên phản ánh được doanh số cho vay của ngân hàng giai đoạn 2005-2007, hoạt động của chi nhánh ngày càng được mở rộng, doanh số cho vay
ngày càng tăng, trong giai đoạn này doanh số cho vay tăng nhanh. Trong đó, năm 2006 doanh số cho vay là 210 tỷ đồng tăng 412, tức 169 tỷ đồng so với 2 tháng
cuối năm 2005. Năm 2007 doanh số cho vay là 406 tỷ đồng tăng 93,3, tức 196 tỷ đồng so với năm 2006.
Doanh số cho vay tăng đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của các thành phần kinh tế trong thị trường ở mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau.
Cho vay hết cỡ trong năm 2007 với mức tăng gần 130, sang 2 tháng đầu năm 2008, một số ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần đang ở trong
tình trạng căng thẳng VND. Trước và sau Tết Nguyên đán đã xảy ra tình trạng các ngân hàng khan hiếm
VND để cho vay. Lãi suất huy động, lãi suất cho vay và đặc biệt là lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng tăng cao chưa từng thấy.
Một trong những nguyên nhân là việc nhiều ngân hàng thương mại đã sử dụng vốn quá nhiều cho hoạt động tín dụng mà khơng chú ý đúng mức đến quản trị rủi ro
thanh khoản. Một chuyên gia tư vấn ngân hàng cho rằng: Năm 2007 là năm các ngân hàng
huy động vốn dễ dàng, có nhiều kênh để cho vay và đầu tư kiếm lời, nên một số ngân hàng đã tranh thủ huy động và cho vay thật nhiều, trong đó có việc đổ vốn vào lĩnh
vực bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán, mở rộng cho vay tiêu dùng... để kiếm lời nhanh mà không chú ý đúng mức đến cơ cấu danh mục đầu tư và cân đối
nguồn-sử dụng vốn một cách bền vững. Vì vậy, hiện nay nếu ngân hàng đang lâm vào tình trạng thiếu nguồn VND thì đó là cái giá phải trả cho sự phiên lưu của chính
mình. Những ngân hàng đang căng thẳng về vốn và phải vay với lãi suất cao trên thị
trường liên ngân hàng phần lớn là các ngân hàng đã tăng trưởng tín dụng VND cao quá mức trong năm 2007.
SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 39
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
Còn nhớ quý II, III năm 2007, toàn hệ thống ngân hàng có tình trạng tạm thời thừa vốn khả dụng VND. Lúc đó, trên TTLNH, cung lớn hơn cầu rất nhiều. Vì vậy,
một số ngân hàng đã chủ quan cho rằng khi nào cần vốn thì có thể vay dễ dàng trên thị trường liên ngân hàng nên đã đẩy mạnh cho vay với tỉ lệ sử dụng vốnvốn huy
động rất cao, thậm chí có một số ngân hàng thương mại cổ phần cho vay vượt trên 100 vốn huy động VND trừ phần dự trữ bắt buộc.
Một vấn đề đáng chú ý nữa là nhiều ngân hàng đã sử dụng tỉ lệ vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn khá lớn. Từ tháng 8.2007, nhiều ngân hàng đã đua
nhau đưa ra các chương trình cho vay tiêu dùng, cho vay lĩnh vực bất động sản với kỳ hạn ít nhất từ 1 năm đến dài nhất là 20 năm.
Trong điều kiện bình thường thì việc dùng một tỉ lệ nhất định vốn huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn cũng là chuyện bình thường. Tuy nhiên với Việt
Nam, khi Ngân hàng Nhà nước sử dụng các cơng cụ chính sách tiền tệ thắt chặt, nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng, nguồn vốn tiền đồng thị trường liên ngân hàng trở nên
khan hiếm... thì các ngân hàng đã tăng trưởng tín dụng quá nóng hoặc có tỉ lệ cho vay trung và dài hạntổng dư nợ cao lâm vào tình trạng căng thẳng tiền đồng.
Bài học quản trị thanh khoản
Những khoản vay trên thị trường liên ngân hàng giữa các tổ chức tín dụng với nhau thường chỉ để giải quyết những nhu cầu thanh khoản ngắn hạn, thậm chí
chỉ qua đêm. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng đã cho vay hoặc đi vay các khoản tiền rất lớn, kỳ hạn dài thậm chí đến 12 tháng trên thị trường liên ngân hàng. Điều này dẫn
đến tình trạng khi cần tiền thì các tổ chức tín dụng khác ngừng cho vay mà tiền của mình thì khơng rút về kịp vì gửicho vay có kỳ hạn.
Hiện nay, ngân hàng thương mại cổ phần là những tổ chức vay-mượn nhiều nhất trên thị trường liên ngân hàng. Ở địa bàn TP.Hà Nội, các ngân hàng thương mại
cổ phần chiếm đến 44tổng dư nợ cho vay và tiền gửi ở các ngân hàng khác trên địa bàn ngân hàng thương mại nhà nước 2 và vốn vay liên ngân hàng của các ngân
SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 40
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
hàng thương mại cổ phần chiếm 35,9tổng vốn huy động từ thị trường liên ngân hàng của địa bàn ngân hàng thương mại nhà nước 15,1.
Trên thị trường nội tệ liên ngân hàng đã có tình trạng khan hiến tiền đồng, sự thiếu hụt thanh khoản ngắn hạn tạm thời. Mặt khác một số ngân hàng thương mại,
chủ yếu là ngân hàng thương mại nhà nước dự trữ để đảm bảo thanh khoản cuối năm; do đó đã đẩy lãi suất đồng VN tăng nhanh, tăng cao có lúc lên đến 24 - 26năm.
Tuy nhiên, xem xét kỹ tình hình thì khơng phải ngân hàng nào hiện nay cũng căng thẳng tiền đồng. Một số ngân hàng vẫn dư sức cho vay các ngân hàng khác
nhưng họ cũng đang phải thủ thế. Mặc dù lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng hiện cao hơn nhiều cho
vay trực tiếp khách hàng, nhưng hoạt động ngân hàng có tính hệ thống. Nếu ngân hàng nào khó khăn trong việc trả nợ thì ngay lập tức các ngân hàng khác cũng bị tác
động. Vì vậy dù thừa vốn cũng ít ngân hàng nào dám cho vay nhiều trên thị trường liên ngân hàng trong bối cảnh hiện nay.
Tăng lãi suất chưa hẳn đã giải quyết được vấn đề
Đang có nhiều ý kiến cho rằng lãi suất được cho là thấp là thủ phạm của việc tiền gửi ngân hàng giảm mạnh, để cho lãi suất tăng sẽ giải quyết vấn đề căng thẳng
về vốn cho các ngân hàng và kiềm chế được lạm phát. Trên thực tế, muốn kiềm chế lạm phát thì chỉ khi nào ngân hàng nhà nước hút tiền về mới giảm được khối lượng tiền
trong lưu thơng, còn ngân hàng thương mại có huy động tiền gửi cũng phải cho vay lại nền kinh tế để tìm kiếm lợi nhuận, khơng ngân hàng thương mại nào chỉ hút tiền về giữ
lại quỹ để kiềm chế lạm phát. Tăng lãi suất để khuyến khích người gửi tiền thì cần phải có những điều tra,
đánh giá rõ hơn các khối lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội. Nếu không đánh giá đúng điều này thì tăng lãi suất chỉ khiến cho luồng vốn chạy quanh từ ngân hàng này sang
ngân hàng khác. Số liệu thống kê về sự tăng, giảm các loại nguồn vốn qua quỹ ngân hàng của TP
SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 41
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
HCM nói trên có lẽ cũng gợi một số điều đáng suy nghĩ. Đành rằng trong nền kinh tế thị trường thì lãi suất nên để thị trường tự điều tiết nhưng có lẽ ai cũng thấy rõ hậu quả
của cuộc đua tăng lãi suất hồi tháng 2 vừa rồi, khi các ngân hàng đã lao vào cuộc đua tăng lãi suất, vòng xốy này đã st nhấn chìm một số ngân hàng và làm cả hệ thống
lao đao chống đỡ. Lãi suất cho vay thì cao vọt, tiền bị hút mạnh vào ngân hàng, phần lớn nằm tại
quỹ ngân hàng thương mại và tài khoản gửi tại ngân hàng nhà nước. Xã hội lo lắng không hiểu điều gì đã diễn ra với hệ thống ngân hàng. Thị trường tài chính bị ảnh
hưởng. Ai cũng biết rằng ngân hàng có n thì nền kinh tế mới ổn. Vì vậy, tìm ra giải
pháp để giải quyết tình hình lãi suất ngân hàng hiện nay là rất cần thiết. Khơng nên để xảy ra tình trạng tự phát tái đua tăng lãi suất, nhưng cũng khơng thể để tình trạng mất
cân đối nguồn và sử dụng vốn của một số ngân hàng kéo dài ảnh hưởng đến tính an toàn hệ thống.
Nhiều ngân hàng thương mại và các chuyên gia đang kiến nghị ngân hàng nhà nước nên có biện pháp hỗ trợ để ổn định mặt bằng lãi suất như: Xem xét cho vay tái
cấp vốn đối với một số ngân hàng đang thiếu vốn khả dụng; Đáp ứng nhu cầu chào bán chứng từ có giá của các ngân hàng thương mại có đủ điều kiện trên thị trường mở;
Kiểm tra các ngân hàng thương mại nhà nước trong việc sử dụng vốn vay từ thị trường mở về cho vay lại các ngân hàng với lãi suất cao; Xem xét việc tạm thời giảm mức dự
trữ bắt buộc hoặc cho phép các ngân hàng dùng giá trị giấy tờ có giá để tính vào mức dự trữ bắt buộc...
Bên cạnh đó, thời gian tới, VNBA nên tổ chức cuộc họp với các hội viên để đánh giá tình hình hoạt động ngân hàng và bối cảnh kinh tế hiện nay, nếu cần thiết nên
có sự điều chỉnh lãi suất cho phù hợp hơn với tình hình. Nếu có tăng lãi suất thì cũng nên trong khuôn khổ mức đồng thuận.

2.2.4. Những bất cập trong việc huy động tiền gửi


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

×