1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Lãi suất Các hình thức huy động vốn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (251.55 KB, 33 trang )


Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
Người Việt Nam nói chung và nhân dân Gò Vấp nói riêng có thói quen sử dụng tiền mặt hơn là giao dịch qua Ngân hàng. Vì vậy nguồn tiền gửi huy động của
Ngân hàng Á Châu chi nhánh Văn Lang còn thấp so với nhu cầu vốn kinh doanh của Ngân Hàng cũng như so với số vốn nhàn rỗi thực tế tồn tại trong dân cư.
Trong công tác huy động vốn, lãi suất là yếu tố chủ yếu tác động đến tâm lý người gửi tiền. Thế nhưng lãi suất huy động có lúc quá thấp so với giá cả hàng hố
của thị trường bên ngồi nên kém hấp dẫn đối với người gửi tiền. Hình thức huy động vốn của Ngân Hàng còn đơn giản, các hình thức huy động
hiện nay còn mang nặng tính truyền thống, chưa đa dạng, phong phú. Chủ yếu là tiền gửi khơng kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, các hình thức huy động khác chưa
thực hiện. Đây cũng là hạn chế của Ngân hàng trong công tác huy động vì nguồn tiền nhàn rỗi cũng như tâm lý người gửi tiền rất khác nhau. Có người muốn gửi thời gian
dài, có người muốn gửi thời gian ngắn, có người thích gửi từng lần theo từng định kỳ… Vì vậy, Ngân hàng không thu hút được lượng tiền khách hàng đông hơn với số
dư tiền gửi cao hơn như mong muốn. Mặt khác trong công tác huy động vốn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, tiêu cực.
Hoạt động Ngân Hàng chưa gắn với các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp chi lương và các khoản thu nhập của công chức thông qua việc mở tài khoản tiền gửi
cá nhân cho những đối tượng trên. Séc cũng như các thể thức thanh tốn khác còn sử dụng hạn chế. Mặt khác, do
ảnh hưởng của trình độ dân trí nên việc mở rộng các hình thức thanh tốn là một trở ngại thực tế không nhỏ đối với số đông dân cư.
Tỷ trọng nguồn vốn ngoại tệ trong tổng nguồn vốn huy động còn quá thấp. Tỷ trọng nguồn vốn huy động loại trung và dài hạn thấp xa so với nợ trung, dài hạn; tỷ
trọng nguồn vốn có lãi suất thấp còn ít.

2.2.5. Những biện pháp mà Ngân hàng đã áp dụng trong thời gian qua


2.2.5.1. Lãi suất


SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 43
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
Lãi suất là công cụ rất quan trọng trong công tác huy động vốn và sử dụng vốn, nó chính là giá cả cho việc sử dụng tiền tệ. Cho nên xây dựng một mức lãi suất
hợp lý là điều rất cần thiết cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Lãi suất thích hợp có tác dụng thu hút các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi vào Ngân Hàng, từ đó tăng
nguồn tín dụng đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Lãi suất thích hợp giúp Ngân Hàng mở rộng hoạt động một cách hiệu quả, làm tăng sản lượng quốc gia, ổn định giá cả.
Vì vậy, trong hoạt động của mình Ngân hàng ln chú trọng việc điều chỉnh lãi suất kịp thời và tuân thủ khung lãi suất của Ngân Hàng Nhà Nước. Mức lãi suất cụ
thể trong năm 2008 là:
Bảng 19: Lãi suất năm 2008 Kì hạn
VNĐ năm
Khơng kì hạn 3,00
Kì hạn 1 thánglãi cuối kì 10,50
Kì hạn 2 thánglãi cuối kì 10,50
Kì hạn 3 thánglãi cuối kì 10,50
Kì hạn 6 thánglãi q Kì hạn 6 thánglãi cuối kì
10,50 Kì hạn 9thánglãi q
Kì hạn 9 thánglãi cuối kì 11,00
Kì hạn 12 thánglãi q 11,00
Kì hạn 12 thánglãi cuối kì 11,00
Kì hạn 13 thánglãi cuối kì 11,00
Kì hạn 24thánglãi q 10,50
Kì hạn 24 thánglãi cuối kì 10,80
Kì hạn 36 thánglãi q Kì hạn 36 thánglãi cuối kì
10.80 Nguồn: Phòng dịch vụ khách hàng
Nhìn chung Ngân hàng Á Châu chi nhánh Văn Lang đã thường xuyên điều chỉnh cơ chế lãi suất phù hợp với cơ chế thị trường, mang tính cạnh tranh lành mạnh,
đảm bảo theo khung lãi suất của Ngân Hàng Nhà Nước – vì vậy, phù hợp với chính sách điều tiết vĩ mơ nền kinh tế của chính phủ.
SVTH: Mai Thị Mỹ Hạnh 44
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh
Bên cạnh đó, do thực hiện tốt cơng tác huy động vốn như: tuyên truyền, tiếp thị, áp dụng các biện pháp thu hút khách hàng nên nguồn vốn huy động vẫn bình ổn
và tiếp tục tăng trưởng.

2.2.5.2. Các hình thức huy động vốn


Ngân Hàng Á Châu chi nhánh Văn Lang hiện đang áp dụng các hình thức huy động vốn như : tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiết kiệm khơng kỳ hạn, tiết
kiệm có kỳ hạn như 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng. Với những hình thức đa dạng như trên đã góp phần ổn định, tăng trưởng số dư vốn huy động bởi vì người
gửi tiền có thể lựa chọn những hình thức thích hợp với thời gian nhàn rỗi đồng vốn của mình.

2.2.5.3. Uy tín của Ngân Hàng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

×