1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Theo phạm vi lãnh thổ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (389.05 KB, 76 trang )


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp -
9
-
+ Thẻ offline: là loại thẻ ghi nợ mà giá trị của những giao dịch sau nhiều ngày mới được khấu trừ vào TKTG của chủ thẻ.
- Thẻ trả trước Prepaid card- thẻ loại B: là loại thẻ mới được phát triển trên thế giới, khách hàng không được làm các thủ tục phát hành thẻ như: làm
giấy yêu cầu phát hành thẻ, mở tài khoản hoặc chứng minh tài chính, mà chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hàng cấp cho một tấm thẻ với
mệnh giá tương đương. Đặc tính của loại thẻ này giống như mọi thẻ bình thường khác, tuy nhiên thẻ chỉ được chi tiêu trong giới hạn số tiền có trong
thẻ và một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo ngân hàng phát hành, tức là hạn mức của loại thẻ này không có tính tuần hồn.
- Thẻ tín dụng Credit Card- thẻ loại C: Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Khi sử dụng thẻ này, chủ thẻ được cấp một hạn mức tín
dụng nhất định để chi tiêu tại những ĐVCNT. Hạn mức tín dụng do ngân hàng đưa ra căn cứ vào uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của khách hàng.
Khả năng đảm bảo được xác định dựa trên tình hình thu nhập, tình hình chi tiêu, tài khoản đảm bảo, địa vị xã hội… của khách hàng. Đây là một phương
thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt giúp cho người sư dụng có thể chi tiêu trước, trả tiền sau. Định kì, chủ thẻ sẽ nhân được sao kê từ ngân hàng. Chủ thẻ
phải thanh toán số tiền đã chi tiêu mà khơng phải trả lãi. Tuy nhiên nếu thanh tốn khơng đúng hạn, chủ thẻ sẽ phải chị phí suất chậm trả và các loại phí
khác. Sau khi thanh tốn đủ số tiền phải trả, ngân hàng sẽ khôi phục HMTD cho chủ thẻ. Điều này tạo nên tính tuần hồn, là đặc tính ưu việt của thẻ tín
dụng.

1.2.2.3. Theo phạm vi lãnh thổ


- Thẻ trong nước: có 2 loại Local use only card: là loại thẻ do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng
trong nước phát hành, chỉ dùng được trong nội bộ tổ chức đó mà thơi.
Võ Thanh Trà – TCDN46QN
Domestic use only card: thẻ thanh toán mang thương hiệu của TCTQT được phát hành để sử dụng trong nước.
- Thẻ quốc tế International Card: là loại thẻ khơng chỉ dùng được tại quốc gia nó được phát hành mà còn sử dụng được trên phạm vi quốc tế.
1.2.3. Các chủ thể tham gia dịch vụ thẻ của NHTM
1.2.3.1. Ngân hàng phát hành
Ngân hàng phát hành là ngân hàng phát hành thẻ cho các khách hàng có kết quả thẩm định do chính ngân hàng đó thẩm định đạt yêu cầu, và là ngân
hàng tạo sao kê cho chủ thẻ và quyết toán cho chủ thẻ. Ngân hàng phát hành có thể liên kết với một tổ chức tài chính tín dụng
khác trong việc phát hành thẻ, để xâm nhập thị trường mới, mở rộng đối tượng khách hàng. Đó là một cách tận dụng những ưu thế của bên thứ ba về
kinh nghiệm, khả năng am hiểu và xâm nhập thị trường, và vị trí địa lý. Các ngân hàng tham gia vào việc phát hành này gọi là ngân hàng đại lý.
Mọi khâu tổ chức thực hiện các cơng việc chính trong q trình phát hành thẻ như như quyết định hạn mức tín dụng cho khách hàng, ký kết hợp
đồng và in thẻ đều do ngân hàng phát hành thực hiện, các ngân hàng đại lý chỉ tham gia vào một phần của quá trình này hành như: nhận đơn xin phát hành
thẻ của khách hàng, hoặc có thể tham gia vào q trình thẩm định tài chính của khách hàng dựa trên kinh nghiệm và mối quan hệ sẵn có. Do đó, ngân
hàng phát hành là ngân hàng chịu trách nhiệm chính trong mọi khâu phát hành thẻ nên đòi hỏi ngân hàng đó phải uy tín lớn, có tiềm lực tài chính mạnh
để có khả năng đầu tư về mọi mặt. 1.2.3.2.
Chủ thẻ:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp -
11
-
Chủ thẻ là cá nhân hoặc người được uỷ quyền nếu thẻ do cơng ty uỷ quyền sử dụng có tài khoản tại ngân hàng và được ngân hàng phát hành thẻ.
Tên của chủ thẻ được ghi rõ trên thẻ và được sử dụng thẻ theo các điều khoản đã ký kết với ngân hàng trong hợp đồng sử dụng thẻ.
Chủ thẻ có 2 kiểu: chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Do một tài khoản thanh tốn có thẻ lập 2 thẻ: thẻ chính, thẻ phụ. Hai chủ thẻ đều có quyền thực
hiện các giao dịch thanh tốn bằng thẻ, và đều có trách nhiệm thanh tốn các khoản phát sinh trong kỳ, tuy nhiên chủ thẻ chính là người chịu trách nhiệm
thanh toán cuối cùng với ngân hàng. 1.2.3.3. Ngân hàng thanh toán
Ngân hàng thanh toán là ngân hàng chấp nhận các loại thẻ như một phương tiện thanh tốn thơng qua việc ký hợp đồng chấp nhận thẻ với các
điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ trên địa bàn với các điều khoản cam kết cơ bản như sau:
- Chấp nhận các đơn vị này vào hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng. - Cung cấp các thiết bị đọc thẻ tự động POS cho các đơn vị này kèm theo
những hướng dẫn sử dụng hoặc chương trình đào tạo nhân viên về nghiệp vụ thanh toán qua máy cho khách hàng.
- Quản lý và xử lý những giao dịch có sử dụng thẻ tại những đơn vị này. - Thông thường các ngân hàng thanh tốn sẽ thu phí chiết khấu từ các đơn vị
chấp nhận thẻ cho việc họ thực hiện các giao dịch qua thẻ tại đây. Mức phí này tuỳ thuộc vào từng ngân hàng.
Có rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành vừa là ngân hàng thanh tốn, khách hàng của họ có thể vừa là chủ thẻ, vừa là các đơn vị cung
ứng hàng hoá dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vừa là ngân hàng ngân hàng đại lý phát hành thẻ thanh toán
Võ Thanh Trà – TCDN46QN
quốc tế như Visa Card, Master Card… vừa là ngân hàng thanh toán cho khách hàng sử dụng những loại thẻ đó mà khơng do ngân hàng NHNT Việt Nam
phát hành. 1.2.3.4.
Đơn vị chấp nhận thẻ Các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ
như một phương tiện thanh toán được gọi là được gọi là một đơn vị chấp nhận thẻ. Các ĐVCNT có thể là nhà hàng, khách sạn, siêu thị, các trung tâm
thương mại, các đại lý bán vé máy bay… Điều kiện để trở thành một ĐVCNT, các đơn vị này phải có tiềm lực về
tài chính, có năng lực kinh doanh. Số lượng giao dịch hàng hoá, dịch vụ tương đối lớn. Đổi lại khi trở thành một ĐVCNT của ngân hàng, nó sẽ được
ngân hàng cung cấp các thiết bị, máy đọc thẻ POS, ngoài ra các nhân viên sẽ được ngân hàng đào tạo, hướng dẫn các nghiệp vụ thanh toán hàng hoá, dịch
vụ bằng thẻ cho khách hàng tại đơn vị.
1.2.4. Vai trò của dịch vụ thẻ trong việc phát triển kinh tế - xã hội
1.2.4.1. Đối với ngân hàng a Vai trò của thẻ đối với hoạt động huy động vốn của NHTM
Với thẻ ghi nợ, là loại thẻ phát hành dựa trên cơ sở tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng. Do đó số lượng thẻ phát hành càng nhiều thì số tài khoản tiền
gửi càng tăng, thơng qua đó vốn của ngân hàng cũng tăng một khoản tương ứng. Với thẻ tín dụng, nó cũng là một loại hình tín dụng, là một hình thức đầu
tư nhưng lại có tác dụng làm tăng vốn huy động của ngân hàng. Mặt khác trong quy chế phát hành, thanh tốn thẻ tín dụng, các ĐVCNT đều phải có tài
khoản tại ngân hàng. Mỗi giao dịch phát sinh, ĐVCNT gửi hoá đơn thanh toán đến ngân hàng và ngân hàng sẽ căn cứ vào đó để ghi có tài khoản tiền
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp -
13
-
gửi của ĐVCNT. Chính điều này làm tăng số dư tài khoản và tồn quỹ của ngân hàng. Đến ngày thanh tốn theo định kỳ, chủ thẻ sẽ thanh tốn tồn bộ
khoản tín dụng làm cho tồn quỹ của ngân hàng sẽ tăng lên trên thực tế. Đây là một hình thức huy động vốn của ngân hàng vừa là NHPH, vừa là NHTT.
b Vai trò của thẻ đối với cơng tác tín dụng của NHTM
Với hình thức thẻ tín dụng, ngân hàng còn có thể thực hiện các khoản cho vay theo hạn mức tín dụng nhất định, cho phép chủ thẻ chi tiêu trong hạn mức
ấy. Sau đó theo định kỳ, ngân hàng sẽ gửi hoá đơn thanh toán cho chủ thẻ. Nếu chủ thẻ trả đầy đủ ngay thì sẽ khơng phải trả lãi. Tuy nhiên trên thực tế
chủ thẻ chỉ trả một khoản đủ để duy trì hạn mức. Phần còn lại họ sẵn sàng chịu lãi nếu mức lãi suất tương đối thấp. Như vậy, với hình thức phát hành thẻ
tín dụng, ngân hàng đã mở rộng hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay tiêu dùng. Đây là hoạt động tín dụng và đầu tư an tồn, nhanh chóng và hiệu quả
do khoản vay này dựa vào uy tín hoặc khả năng tài chính cao của chủ thẻ. Mặt khác, để sở hữu thẻ, khách hàng phải luôn ký quỹ bằng số dư trên
tài khoản tiền gửi hoặc một khoản thế chấp nào đó thường là sổ tiết kiệm gửi tại ngân hàng. Trong thời gian sử dụng thẻ, khách hàng không được sử dụng
khoản ký quỹ này. Do vậy ngân hàng có thể sử dụng khoản ký quỹ như một nguồn vốn huy động khác.
Hơn nữa, khi hợp đồng thẻ tín dụng được ký kết sẽ gắn ngân hàng và chủ thẻ trong một mối quan hệ giao dịch lâu dài, đồng thời quan hệ giữa ngân
hàng và ĐVCNT cũng được gắn kết tương tự. Chừng nào thẻ tín dụng và các giao dịch của nó còn tồn tại thì giữa ngân hàng và ĐVCNT luôn tồn tại các
giao dịch kinh tế. Việc tạo lập được những quan hệ về tín dụng, thanh tốn lâu dài trong bối cảnh mơi trường kinh doanh ln biến động khó lường là một
thế mạnh vơ cùng lớn mà dịch vụ thẻ mang lại.
Võ Thanh Trà – TCDN46QN
c Vai trò của thẻ đối với hoạt động thanh toán của NHTM
Chức năng thanh toán của tiền tệ đang phát triển với nhiều mô thức đa dạng, hiện đại và ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất, lưu thơng
hàng hố, dịch vụ. Biểu hiện rõ nhất ở thị trường thẻ đang ngày càng khởi sắc khẳng định phương thức thanh toán bằng thẻ đang ngày càng thâm nhập thị
trường và sẽ trở thành phương thức thanh toán chủ đạo trong tương lai. Là một phương thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt nên thuận tiện cho ngân
hàng khi thanh tốn qua thẻ, bởi khi đó lượng khách hàng trực tiếp đến ngân hàng giao dịch thanh tốn sẽ giảm,làm giảm bớt lượng cơng việc của nhân
viên ngân hàng. Mặt khác thẻ là một sản phẩm cơng nghệ cao nên tạo cho hoạt động thanh tốn của ngân hàng có tính chun nghiệp cao hơn, hiệu quả
hơn, an tồn hơn. d
Vai trò của thẻ đối với thu nhập của NHTM Trước hết, ngân hàng sẽ có một khoản thu nhập rất lớn từ các khoản phí
giao dịch. Việc thanh tốn bằng thẻ rất nhanh chóng nên trong 1 ngày có thể thực hiện hàng triệu giao dịch. Do đó, tuy khoản phí của mỗi giao dịch khơng
lớn nhưng thơng qua hàng triệu giao dịch thanh tốn trong 1 ngày, ngân hàng thu được lợi nhuận lớn từ hoạt động thu phí thanh tốn thẻ. Bên cạnh đó,
riêng với thẻ ghi nợ, khi thanh tốn thì khách hàng sử dụng chính số dư trong tài khoản của mình ở ngân hàng, nên ngân hàng khơng phải bỏ vốn kinh
doanh mà vẫn thu được lợi nhuận. Đối với thẻ tín dụng, ngân hàng phải ứng trước cho khách hàng nhưng trong một thời gian ngắn đã thu hồi được số vốn
bỏ ra một cách an toàn, thuận tiện. Với các giao dịch thanh tốn tại các ĐVCNT thì ngân hàng sẽ khơng thu phí giao dịch của chủ thẻ. Tuy nhiên,
ngân hàng vẫn đảm bảo một nguồn thu hợp lý từ hoạt động này vì trong hợp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp -
15
-
đồng giữa ngân hàng và ĐVCNT có quy định một mức phí nhất định đối với ĐVCNT tính trên giá trị mỗi giao dịch mà chủ thẻ thanh toán tại ĐVCNT.
Đặc biệt, hàng năm ngân hàng còn thu nhập lớn từ khoản phí thường niên do chủ thẻ chi trả cho việc sở hữu thẻ của ngân hàng. Khoản thu lớn nhất của
ngân hàng khi tham gia thanh toán thẻ là phần chiết khấu thương mại mà ngân hàng được hưởng do thanh toán hộ các tổ chức phát hành. Một nguồn thu nữa
ngồi phí phát hành và thanh toán thẻ là các khoản thu từ phí tra sốt, phí cấp lại thẻ, phí tăng mức tín dụng tạm thời… Khoản thu này khơng cố định nhưng
cũng tạo ra nguồn thu đáng kể cho ngân hàng. Tất cả các khoản thu nhập từ nghiệp vụ thẻ có thể đem đến cho ngân hàng một tỷ suất sinh lời lên đến
20 năm tính trên tổng các khoản thu từ dịch vụ. Vì thế mà thị trường thẻ hết sức sơi động và có tính cạnh tranh cao. Các ngân hàng bằng cách này hay
cách khác đều háo hức nhảy vào thị trường thẻ. e
Vai trò của thẻ đối với một số hoạt động khác của NHTM Dịch vụ thẻ đã góp phần đa dạng hố danh mục sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng, do đó hạn chế được những rủi ro trong kinh doanh theo nguyên tắc “ không bỏ tất cả trứng vào một giỏ”. Với những tiện ích mà thẻ mang lại cho
người sử dụng, thanh toán thẻ đang là phương thức thanh toán phổ biến và rất được ưa chuộng nên làm tăng tính hấp dẫn của ngân hàng. Chất lượng dịch vụ
thẻ càng cao thể hiện trình độ kỹ thuật, cơng nghệ càng hiện đại, khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng càng lớn, càng được khách hàng đánh giá
cao, thương hiệu của ngân hàng đó càng vững mạnh. Ngoài ra, trở thành thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế giúp cho mỗi ngân hàng trở nên bình
đẳng về khả năng thanh tốn với các ngân hàng, tổ chức tài chính khác, mở rộng khả năng hoạt động của ngân hàng trên toàn cầu.
1.2.4.2. Đối với chủ thẻ
Võ Thanh Trà – TCDN46QN
Cũng như các phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền mặt khác, người ta sẽ khơng sử dụng thẻ ngân hàng nếu nó khơng đem lại những lợi ích nhất
định nào đó. Là một phương tiện thanh toán hiện đại, thẻ mang đến cho chủ thẻ rất nhiều tiện ích khi sử dụng.
 An tồn:
Ngày nay, khi nhu cầu thanh toán của mỗi cá nhân , tổ chức ngày càng tăng, việc mang tiền mặt bên mình gây ra nhiều bất tiện và nguy hiểm. Việc
sử dụng thẻ đã hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra do việc sử dụng tiền mặt đem lại. Chủ thẻ có thể thanh tốn tại bất kỳ nơi nào mà không cần mang
theo tiền mặt hay séc du lịch. Hơn nữa với quy trình và nghiệp vụ thanh toán thẻ do ngân hàng cung cấp, chủ thẻ có thể hồn tồn n tâm trước những
nguy cơ mất, cướp thẻ. Trong trường hợp này, nếu chủ thẻ chưa kịp thông báo cho ngân hàng , tài khoản của chủ thẻ sẽ được bảo vệ nhờ số PIN, ảnh và chữ
ký trên thẻ… Ngoài ra, thẻ được chế tạo dựa trên kỹ thuật mã hố từ tính và hiện đại
nhất là công nghệ sử dụng các vi mạch điện tử nên khó làm giả, độ an tồn cao hơn nữa khi thẻ còn có chữ ký của chủ thẻ. Do đó khi mua sắm hàng hố,
dịch vụ chủ thẻ phải ký vào hoá đơn thanh toán để người bán so sánh với chữ ký mẫu, đồng thời với những thơng tin đã được mã hố trên thẻ tạo nên bức
tường chắc chắn trước nguy cơ bị kẻ gian lợi dụng. 
Nhanh chóng, linh hoạt, thuận tiện: Khi chọn sản phẩm thẻ thì mục đích của chủ thẻ là không phải giữ hoặc
mang theo một lượng tiền mặt lớn, chủ thẻ có thể chủ động trong việc chi tiêu, việc thanh tốn dễ dàng, nhanh chóng. Thẻ có kích thước nhỏ gọn do đó
chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo người để sử dụng. Khi thanh toán tại các ĐVCNT, chủ thẻ chỉ cần xuất trình thẻ và ký vào hố đơn thì coi như việc
Chun đề thực tập tốt nghiệp -
17
-
mua bán đã hoàn tất. Với thẻ ghi nợ, khách hàng tự thực hiện giao dịch với ngân hàng thông qua các máy rút tiền tự động ATM hoặc tại các ĐVCNT.
 Được hưởng nhiều dịch vụ đi kèm:
Hiện nay, các tổ chức thẻ quốc tế đang ngày càng đa dạng hố loại hình phục vụ của mình nhằm đem lại độ thoả dụng cao nhất cho khách hàng.
Chẳng hạn như chủ thẻ sẽ được hưởng các dịch vụ bảo hiểm, đặt vé máy bay, thanh toán hoá đơn tiền điện, nước, điện thoại hoặc các dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ… 1.2.4.3. Đối với ĐVCNT
 Tăng doanh số bán hàng do thu hút được nhiều khách hàng và hầu hết các khách hàng có mức chi tiêu cao.
Chấp nhận thanh toán bằng thẻ là cung cấp cho khách hàng một phương thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng, tiện lợi và khách hàng thấy rõ được
tính chuyên nghiệp trong thanh toán của cơ sở kinh doanh. Do đó khả năng thu hút khách hàng sẽ tăng lên. Mặt khác, những khách hàng thanh toán bằng
thẻ, nhất là thẻ tín dụng quốc tế thường là những người có mức chi tiêu cao, một khi thanh tốn bằng thẻ họ ln có sẵn tiền trong tài khoản và dễ dàng chi
tiêu theo ý thích. 
Tiết kiệm chi phí ,dễ quản lý: Với việc chấp nhận thanh tốn bằng thẻ, ĐVCNT có khả năng giảm các khoản chi phí về tiền mặt như kiểm đếm,
bảo quản, nộp vào tài khoản ngân hàng… Chỉ với vài thao tác đơn giản, là đã thu được tiền mà không phải trả lại tiền thừa và nạp luôn vào tài khoản ngân
hàng. Tiết kiệm được rất nhiều thời gian, do đó giảm được chi phí nhân cơng cho ĐVCNT…
 An tồn: tránh được rủi ro tiền giả và nguy cơ bị trộm, cướp tiền
mặt hay séc tại đơn vị cung cấp hàng hố, dịch vụ.
Võ Thanh Trà – TCDN46QN
 Tăng vòng quay vốn: Khi dữ liệu về giao dịch thanh toán được
truyền tới NHTT, lập tức giá trị giao dịch đó sẽ được ghi Có ngay vào TKTG của đơn vị cung ứng hàng hố, dịch vụ. Số tiền đó có thể dùng được ngay vào
những mục đích kinh doanh khác, nhanh hơn nhiều so với dùng séc vì khơng mất thời gian chuyển đổi. Mặt khác khi sử dụng thẻ, khách hàng khơng phải
mua chịu mà thanh tốn ngay nên cơ sở cung ứng hàng hoá, dịch vụ thu được tiền ngay.
Do vậy, mặc dù phải trả cho ngân hàng thanh toán một tỷ lệ chiết khấu theo số tiền trong mỗi giao dịch, các ĐVCNT có nhiều lợi thế khi áp dụng
hình thức thanh tốn này. Hình thức này sẽ mang lại cho khách hàng sự tiện lợi, nhanh chóng, và đặc biệt an tồn. Do đó sẽ giúp các đơn vị này thu hút
một lượng khách lớn, nâng cao số giao dịch được thực hiện, giảm chi phí quản lý tiền mặt, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh.
1.2.4.4. Đối với nền kinh tế Thanh toán bằng thẻ sẽ làm thay đổi thói quen tiêu dùng tiền mặt trong dân
cư, thơng qua đó làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, hạn chế nguy cơ lạm phát nền kinh tế. Bên cạnh đó Ngân hàng Nhà nước sẽ dẽ dàng kiểm
soát được lượng tiền cung ứng, tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mơ, hạn chế được các hoạt động kinh tế ngầm.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH
VỤ THẺ CỦA NHTM 1.3.1.
Nhân tố thuộc về ngân hàng 1.3.1.1. Trình độ đội ngũ cán bộ làm cơng tác thẻ
Là một phương tiện thanh tốn hiện đại, thẻ thanh tốn mang tính tiêu chuẩn hố cao độ và có quy trình vận hành thống nhất. Do đó đòi hỏi ngân
hàng phải có một đội ngũ nhân lực có năng lực, trình độ và khả năng tiếp cận,
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp -
19
-
đảm bảo cho quy trình phát hành, sử dụng và thanh tốn thẻ diễn ra một cách thơng suốt, an tồn, hiệu quả và phát huy được những tiện ích vốn có của thẻ
thanh toán. Ngân hàng nào thực sự quan tâm, đầu tư thích đáng cho cơng tác đào tạo nhân lực, thu hút nhân tài thì ngân hàng đó sẽ chiếm được lợi thế
trong kinh doanh thẻ.

1.3.1.2. Năng lực tài chính và tình độ kỹ thuật cơng nghệ của ngân hàng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (76 trang)

×