1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Một số khó khăn.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (518.07 KB, 83 trang )


với phương pháp phân tích, thẩm định vì phương pháp cũ chỉ đưa ra những nhận định về khả năng hoàn trả nợ của doanh nghiệp, về những khoản đảm
bảo của doanh nghiệp mà khơng có sự so sánh tương quan với các doanh nghiệp khác trong cùng một nghành hoặc trong cũng một chỉ tiêu nhất định.
Một điểm khác biệt trong hoạt động chấm đỉêm tại NHNT là một nhóm cán bộ tín dụng được phân cơng đảm nhiệm một nghành kinh doanh
nhất định. Các phân công này có hai ưu điểm lớn là cán bộ có thể tìm hiểu sâu về chun nghành mình được giao, tích luỹ kinh nghiệm trong q trinh
cơng tác từ đó nâng cao chất lượng quản lý tín dụng. Ngồi ra cách phân công này cũng khắc phục hạn chế của cá nhân khi được làm việc theo nhóm,
hiệu quả chắc chắn sẽ cao hơn. Với những cố gắng và nỗ lực mang tính tập thể, hoạt động chấm điểm
của NHNT đang dần dần trở thành một khâu quan trọng không thể thiếu trong quy trình thẩm định tín dụng tại ngân hàng, góp phần giảm thiểu chi
phí, thời gian và tăng khả năng cạnh tranh cho NHNT trong thời gian tới.

2.3.2.2 Một số khó khăn.


- Về nhân sự : do khối lượng công việc ngày một lớn mà hầu như sử dụng thủ cơng nên vấn đề nhân sự tín dụng sẽ tiếp tục là một mục cần được
chú trọng quan tâm cả về số lượng và chất lượng. - Về công nghệ thông tin: NHNT đang nghiên cứu triển khai hệ thống
chấm điểm bằng máy để đảm bảo hơn độ chính xác, tránh những sai sót mang tính chủ quan tron tính tốn của cán bộ tín dụng. Nhưng hiện nay tại
NHNT , việc chấm điểm và xếp hạng vẫn thực hiện thủ cơng, nên còn nhiều bất cập.
- Về nguồn thông tin và mức độ tin cậy đối với các thơng tin đó chưa cao: các báo cáo tài chính tại nước ta hiện nay có độ tin cậy chưa cao, các
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
69
công ty chưa thực làm minh bạch được hệ thống kế toán của doanh nghiệp mình. Chính điều này đã gây khó khăn không nhỏ cho ngân hàng trong việc
xác định các chỉ tiêu tài chính trong bảng chấm điểm tín dụng. - Về bảng chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp:
+ Chỉ tiêu quy mơ gồm 3 nhóm là khơng đủ, chưa sát với các tổng cơng ty có quy mơ lớn hiện nay
+ Trong 11 chỉ tiêu , có những chỉ tiêu quan hệ chéo với nhau, được xây dựng chưa dựa trên cơ sở mơ hình kinh tế lượng.
+Một số tiêu chí phi tài chính rất khó định lượng, chủ yếu dựa vào phương pháp chuyên gia đânh giá dựa trên kinh nghiệm và hiểu biết thị
trường như tiêu chí” vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp”, vì thế khó tránh khỏi các nhân tố chủ quan của người chấm, từ đó ảnh hưởng tới kết quả
chấm điểm, vì thế nên điểm được chấm hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức dùng làm tham khảo cho quá trình cấp tín dụng.
+ Các trọng số của từng chỉ tiêu chưa phản ánh được mức độ tác động của các yếu tố này đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
+ Dù hệ thống chấm điểm hiện nay đã bao gồm rất nhiều chỉ tiêu đánh giá xong chưa đầy đủ do hệ thống chấm điểm này được lấy từ hệ
thống ngân hàng của các nước phát triển nên có những điểm không phù hợp nhất định.
Để giải quyết vấn đề trên cần tìm ra ngun nhân ,từ đó giải quyết triệt để những khó khăn còn tồn đọng.
a Ngun nhân chủ quan.
- Trình độ nhân viên tín dụng: Trước khi quyết định cấp vốn cho khách hàng, NHNT thực hiện một
quy trình khá phức tạp, trong đó chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh nghiệp chiếm một vị trí khá quan trọng. Mỗi doanh nghiệp lại
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
70
mang những đặc tính nghành nghề khác nhau, đòi hỏi người chấm điểm phải có những hiểu biết nhất định về lĩnh vực mà mình đảm nhiệm. Ngồi ra
những hiểu biết đó phải phù hợp với nội dung chấm của bảng điểm tín dụng như: thị trường đầu ra, tình hình thị trường trong và ngồi nước, khả năng
phát triển của nghành trong thời gian tới .v.v. Để có được vốn kiến thức này cần có nhiều kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm. Trong khi đó đội ngũ
nhân viên tín dụng của NHNT còn khá trẻ, tuy có trình độ cao nhưng còn thiếu nhiều thơng tin thực tế, còn rất lạ lẫm với phương pháp phân tích tín
dụng mới này. Họ chưa có thói quen tự tìm hiểu đi sâu vào tình hình kinh doanh thực tếcủa doanh nghiệp, hầu hết chỉ dựa vào những tài liệu thông tin
do khách hàng cung cấp. - Cơ sở vật chất:
Để thực hiện tốt hoạt động chấm điểm tín dụng và chấm điểm khách hàng cần có hệ thống tin học để tính tốn và chấm điểm tự động như một số
nước đã áp dụng. Các cán bộ của ngân hàng hiện nay vẫn đang chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp theo cách thủ công, dễ xảy ra sai sót, mất nhiểu
thời gian để kiểm tra. Ngân hàng mắc vào hạn chế này là do thời gian qua ngân hàng tập trung vào một số mảng khác như thị trường thẻ .v.v. nên chưa
thể triển khai đúng mức chương trình này. Những nguyên nhân trên chủ yếu xuất phát từ phía ngân hàng. Đây là
điều tất yếu do NHNT mới áp dụng phương pháp này được hơn 3 năm, còn nhiều khó khăn chưa được khắc phục. Hy vọng trong thời gian tới, NHNT
có thể hồn thiện hệ thống chấm diểm nói riêng và tổng thể các hoạt động nói chung để xứng đáng với vai trò là ngân hàng thương mại quốc doanh
hàng đầu Việt Nam.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
71
b Nguyên nhân khách quan.
Những nguyên nhân từ bên trong là tất yếu nhưng bên cạnh đó ngân hàng cũng bị ảnh hưỏng bởi các nhân tố bên ngồi.
-
Chính sách của Nhà nước: hiện nay nhà nước ta chưa có một chế tài quy định cụ thể hoạt động trao đổi thông tin giữa các ngân hàng trong hệ
thống nên việc khai thác thông tin còn rất hạn chế, phụ thuộc chủ yếu vào thiện chí của các bên. Ngồi ra , việc kiểm tốn nội bộ trong doanh
nghiệp cũng khơng có quy định chặt chẽ từ phía bộ tài chính nên những báo cáo tài chính được trình từ phía doanh nghiệpcho ngân hàng có độ tin
cậy chưa cao, cán bộ tín dụng phải đi xác minh lại, tốn thời gian và nhiều chi phí phát sinh khác.
-
Chế độ kế tốn của Nhà nước: trước thời điểm năm 2004, chưa có một văn bản nào quy định buộc các doanh nghiệp phải kê khai chi phí laĩ vay
trong báo cáo kết quả kinh doanh và lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Ngồi ra, các doanh nghiệp khơng hiểu rõ được tầm quan trọng của các
báo cáo tài chính, đặc biệt là vai trò xác định mức ngân quỹ tối ưu, quản lý ngân quỹ thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ.Từ năm 2004, các
chuẩn mực kế toán mới ra đờiđạo điều kiện thuận lợi cho công tác chấm điểm tín dụng tại ngân hàng như chuẩn mực số 16 quy định chỉ tiêu chi
phí lãi vay phải có trong báo cáo kết quả kinh doanh ; chuẩn mực số 24 qui định rõ báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của báo
cáo tài chính. Tuy nhiên do tính cập nhật của chuẩn mực chưa cao, nhiều doanh nghiệp chưa thức hiện nghiêm túc nên khó khăn của ngân hàng
chưa thực sự được giải quyết triệt để.
-
Tại trung tâm thơng tin tín dụngCIC: CIC là nơi lưu trữ một lượng lớn dữ liệu về các doanh nghiệp, các thành viên có thể cung cấp,khai
thác, sử dụng với mục đích nângcao chất lượng tín dụng nhưng hiện nay
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
72
có một số tổ chức tín dụng khơng cung cấp thơng tin hoặc cung cấp khơng đầy đủ về khách hàng của mình do lo ngại về vị thế cạnh tranh của
mình. Tâm lý tuy khơng được khuyến khích nhưng khơng thể tránh khỏi trong điều kiện hệ thống an ninh của chúng ta chưa tốt, môi trường cạnh
tranh lại ngày càng gay gắt, nên các tổ chức đó nảy sinh những xu hướng tiêu cực là tất yếu.
-
Thông tin từ các nguồn khác không tập trung, tản mạn , phải tốn công chọn lọc ngiên cứu mới có thể sử dụng được.
- Thời điểm kiểm tốn tài chính doanh nghiệp và thời điểm lập bảng
chấm điểm tín dụng khơng trùng nhau nên sinh ra khó khăn cho cán bộ tín dụng trong việc xác định thông tin, độ tin cậy sẽ không cao và khơng
phản ánh đúng tình hình hoạt động tại thời điểm mong muốn.
-
Mỗi chi nhánh của ngân hàng tại khắp vùng miền trong cả nước đôi khi cũng mang những đặc trưng riêng của từng vùng, trong khi phương
pháp chấm điểm là dùng cho cả hệ thống NHNT vì vậy cũng có những điểm khơng tương thích.
Tóm lại những ngun nhân khách quan trên không phải chỉ tác động đến NHNT mà còn tới nhiều ngân hàng khác trong nước. Mỗi ngân hàng cần
tìm ra cho mình hướng giải quyết thich hợp trong điểu kiện nền kinh tế hội nhập và đang phát triển rất nhanh hiện nay.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
73
STT Chi nhánh
Kết quả xếp loại doanh nghiệp Tổng số AAA
AA A
BBB BB
B CCC
CC C
1 Hội sở TW
53 2
5 1
21 16
5 2
1 2
Vcb hà nội 95
1 5
21 26
34 7
1 3
Vcb hải phòng 31
5 4
11 7
3 1
4 Vcb đà nẵng
32 1
11 14
4 2
5 Vcb quy nhơn
59 1
4 10
28 15
1 6
Vcb nha trang 42
4 3
11 20
3 1
7 Vcb tp.hcm
73 3
5 19
24 12
10 8
Vcb vũng tàu 13
2 1
2 3
1 3
1 9
Vcb kiên giang 13
3 2
4 4
10 Vcb vinh
35 2
7 10
12 4
11 Vcb cần thơ
47 3
6 9
10 6
2 1
12 Vcb đồng nai
70 3
12 19
13 17
6 13
Vcb quảng ninh 24
2 8
6 4
2 2
14 Vcb an giang
48 1
1 16
22 6
1 1
15 Vcb huế
25 5
14 5
1 16
Vcb tân thuận 70
5 3
9 17
19 12
4 1
17 Vcb cà mau
13 1
3 2
7 18
Vcb hà tĩnh 34
2 2
11 5
5 3
2 19
Vcb thái bình 28
1 14
10 3
20 Vcb đắc lắc
28 2
1 5
17 2
1 21
Vcb bình tây 62
4 29
29 22
Vcb quảng ngãi 40
1 7
8 14
9 1
23 Vcb bình dương
52 1
6 11
16 14
4 24
Vcb gia lai 49
7 16
22 3
1 25
Vcb hải dương 7
2 4
1 Toàn nghành
1033 22
70 162
308 305
130 24
8
bảng lấy từ báo cáo họp tổng kết cuối năm 2005
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
74

Chương 3 Hoàn thiện phương pháp chấm điểm tại NHNTVN


3.1 Định hướng hoạt động tín dụng của NHNT trong năm tới.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (83 trang)

×