1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Các hình thức huy động vốn.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (366.1 KB, 75 trang )


Ở nước ta hiện nay, thị phần hoạt động của tín dụng chiếm khoảng 80. Con số này khá cao chứng tỏ hoạt động tín dụng là chủ yếu, quyết
định sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng thương mại. Mà muốn có hoạt động tín dụng phải có vốn, muốn có vốn phải huy động vốn và chủ
yếu từ nền kinh tế. Như vậy huy động vốn phải là bước khởi đầu quan trọng nhất để có được bước khởi động tiếp theo trong q trình thực hiện
hoạt động tín dụng. Qua q trình huy động vốn, Ngân hàng sẽ có vốn để cho vay và thu lợi nhuận, góp phần thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của
Ngân hàng.

1.1.4. Các hình thức huy động vốn.


Ngân hàng thương mại muốn có tiền để đem đầu tư hoặc cho vay, thì trước tiên Ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định và ổn định. Trong
khi đó lượng vốn tự có là rất ít, muốn có một lượng vốn lớn hơn thì hầu hết các Ngân hàng phải đi huy động vốn. Các hình thức huy động vốn của
Ngân hàng được thực hịên dưới hình thức sau :
1.1.4.1. Căn cứ theo thời gian huy động vốn. - Huy động ngắn hạn: đặc điểm của hình thức này là chíêm tỷ trọng
khá cao trong tổng nguồn huy động, được sử dụng chủ yếu để cho vay ngắn hạn từ 12 tháng trở xuống, lãi suất thường thấp .
- Huy động trung hạn: loại vốn này có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, ngân hàng chủ yếu sử dụng cho doanh nghiệp vay khoản tín
dụng trung hạn.
- Huy động dài hạn: hình thức huy động này chiếm tỷ trọng nhỏ, đây là khoản vay mà Ngân hàng huy động lớn trên 60 tháng, chi phí cho việc
huy động này là cao hơn so với 2 hình thức trước, nguồn này Ngân hàng thường dùng để cho vay dài hạn như đầu tư xây dựng cơ bản, mở rộng sản
xuất kinh doanh ...
8
8
1.1.4.2 Căn cứ vào đối tượng huy động vốn. - Huy động vốn từ dân cư: Vốn này có nguồn gốc từ những khoản
dự phòng cho tiêu dùng và rủi ro trong tương lai. Khi xã hội ngày càng phát triển thì các khoản dự phòng cũng tăng lên. Nắm bắt được quy luật này,
Ngân hàng thương mại đã sử dụng nghiệp vụ huy động để tăng thêm nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu kinh tế và thu được lợi nhuận .
- Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp: Các doanh nghịêp do nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh nên các đơn vị
này thường gửi một khối lượng tiền lớn vào Ngân hàng để hưởng tiện ích thanh tốn. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, quan hệ với
các đối tượng này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế và đáp ứng u cầu thanh tốn của họ. Do có sự đan xen giữa
các khoản phải thu và các khoản thanh tóan nên ln tồn tại một số dư nhất định trên tài khoản của Ngân hàng. Nguồn này được Ngân hàng huy
động, có chi phí thấp và sử dụng cho vay khơng chỉ ngắn hạn mà còn cả trung dài hạn. Tuy nhiên nguồn này có hạn chế là tính ổn định và độ lớn
phụ thuộc vào quy mơ, loại hình của doanh nghiệp .
- Huy động từ các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác: Vốn này nhằm để giải quyết tình trạng thiếu vốn của Ngân hàng. Vốn vay này bao
gồm : vay Ngân hàng Trung Ương và các tổ chức tín dụng .
Theo quy định, ở Việt Nam vốn vay giữa hai Ngân hàng được thoả thuận bằng hợp đồng tín dụng, vốn cho vay phải được đảm bảo bằng hình
thức thế chấp hoặc cầm cố bằng tài sản đi vay; tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại Ngân hàng Trung Ương, các chứng từ có giá khác. Trong trường hợp, các
Ngân hàng thương mại đã vay mượn lẫn nhau nhưng vẫn thiếu vốn, mất khả năng thanh tốn thì Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng
Trung Ương thơng qua việc chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá. Ngân hàng Trung Ương bằng việc cho vay để bổ sung nguồn vốn tín dụng
ngắn hạn theo kế hoạch đã phân phối cho các Ngân hàng thương mại quốc
9
doanh; tái chíêt khấu các thương phiếu, trái phiếu kho bạc mà các tổ chức tín dụng đã cho khách hàng vay chưa đáo hạn.
1.1.4.3. Căn cứ vào công cụ huy động vốn. - Huy động tiền gửi không kỳ hạn tiền gửi có thể phát séc.
Đây là loại tiền gửi mà chủ nhân có thể rút tiền hoặc trả cho bên thứ ba bằng cách phát hành séc. Đặc điểm quan trọng đối với người gửi là:
chuyển nhượng dễ dàng, mục đích giao dịch là chính, thường được mệnh danh là tiền gửi theo u cầu, khơng vì mục đích kiếm lãi. Đối với Ngân
hàng chỉ cần bỏ ra một chút chi phí cho việc quản lý tài khoản hoặc trả lãi nếu có thì cũng rất nhỏ . Số dư của loại tiền này phụ thuộc vào từng thời
kỳ trong năm và khả năng của Ngân hàng trong việc dự đoán về biến động của thị trường tiền tệ. Ngân hàng thường sử dụng hai loại tài khoản: tài
khoản thanh toán và tài khoản vãng lai.
+ Tài khoản thanh toán là loại tài khoản mà chủ sở hưũ của nó có tồn quyền sử dụng số tiền trong phạm vi số dư tiền gửi.
+ Tài khoản vãng lai là tài khoản thường được sử dụng cho các tổ chức kinh tế, nó có thể có số dư bên có hoặc bên nợ. Dư bên có phản ánh
số tìên hiện có trong tài khoản của khách hàng, ngược lại với số dư bên nợ phản ánh số tín dụng Ngân hàng cấp cho khách hàng vay. Lãi suất hai bên
đều do hai bên thoả thuận.
Tìên gửi khơng kỳ hạn có chi phí huy động thấp, song có tính ổn định thấp. Nếu thu hút được lượng khách hàng lớn, đảm bảo ln có một số dư
ổn định, Ngân hàng có thể dễ dàng trong việc đa dạng hoá nghiệp vụ của mình thơng qua việc mua bán các chứng khốn có tính linh hoạt cao như kỳ
phiếu, tín phiếu kho bạc.
- Huy động tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm:
10
10
Nếu tiền gửi không kỳ hạn số dư tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng gửi tiền, thì tiền gửi có kỳ hạn và tiết
kiệm lại phụ thuộc vào lãi suất trả lãi.
- Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền mà chủ sở hữu có quỳên rút ra theo thời hạn đã thoả thuận với Ngân hàng, mục đích chính của loại tiền gửi này
là hưởng lãi chứ không phải vì hưởng các tiện ích trong thanh tốn. Đặc trưng của loại tiền gửi này là không dùng thanh toán, hiệu quả sử dụng của
nguồn vốn này đối với Ngân hàng rất cao vì nó có kỳ hạn rõ ràng. Chi phí về nguồn vốn cho loại tiền gửi này đối với Ngân hàng cao hơn tiền gửi
không kỳ hạn.
- Tiền gửi tiết kiệm: Đối với Ngân hàng thương mại, tiền gửi tiết kiệm là công cụ huy động vốn có từ lâu. Vốn huy động từ các khoản tiền
tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tìên gửi của Ngân hàng. Loại tiền gửi này thường chia thành :
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đối với loại này, chủ sở hữu có thể rút ra bất kỳ lúc nào mà không phải báo trước, số dư tài khoản này thường
không lớn, ưu điểm hơn tiền gửi giao dịch là số dư này ít biến động, Ngân hàng thường phải trả lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Nguyên tắc của loại tiền này là một khi khách hàng gửi tiền vào loại tài khoản này, họ sẽ không được rút ra cả
gốc lẫn lãi trừ khi đã đến hạn rút tiền. Tuy nhiên yếu tố cạnh tranh thu hút tiền gửi, một số Ngân hàng thương mại vẫn cho phép Ngân hàng rút tiền
trước thời hạn nhưng một phần tiền lãi đã được khấu trừ .
- Huy động vốn qua phát hành các công cụ nợ: Đây là nguồn vốn Ngân hàng huy động một cách chủ động trên thị
trường tài chính gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Trong nhiều trường hợp thiếu vốn, Ngân hàng sử dụng phương pháp này để huy động
vốn trên thị trường tài chính: phát hành các giấy tờ có giá trị như các giấy tờ vay nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Việc chuyển nhượng các giấy tờ
11
có giá trên từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác phụ thuộc vào thoả thuận giữa Ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu
và trái phiếu.
- Trái phiếu là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ khách hàng của nhà Ngân hàng với cam kết sẽ thanh toán một số tiền xác định vào một
ngày xác định trong tương lai.Việc phát hành trái phiếu của Ngân hàng được tiến hành trong toàn hệ thống, mục đích chủ yếu để huy động vốn
trung và dài hạn phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh có quy mơ lớn và dài hạn .
- Kỳ phiếu Ngân hàng là một giấy nhận nợ ngắn hạn do Ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân cư, chủ yếu phục vụ cho những kế
hoạch kinh doanh xác định của một Ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh tế. Kỳ phiếu Ngân hàng được phát hành theo từng đợt hay còn
gọi là kỳ phiếu có mục đích, phát hành dựa trên tình hình nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn trong thời kỳ trước mắt của Ngân hàng. Loại này có ưu
điểm vốn huy động được khá linh hoạt, có tính lỏng cao, dễ dàng chuyển đổi sang tiền hoặc các hình thức khác; mệnh giá, loại tiền sử dụng, phương
thức trả lãi đa dạng đáp ứng nhu cầu của người mua. Lãi suất của kỳ phiếu thường ổn định và hấp dẫn.
1.1.4.4.Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng huy động vốn. Chất lượng huy động vốn của Ngân hàng chỉ có thể được cải thiện
khi phân tích ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Nhóm nhân tố ảnh hưởng có thể chia ra làm hai
loại:
Những nhân tố khách quan. Nền kinh tế là một hệ thống gồm nhiều hoạt động kinh tế có liên
quan biện chứng và tác động lẫn nhau. Sự biến động của một hoạt động kinh tế đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực còn lại.
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại được coi như một chiếc
12
12
cầu nối giữa các lĩnh vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế. Do vậy, sự tác động ổn định hay bất ổn định, tăng nhanh hay chậm chạp của nền kinh
tế đều tác động mạnh mẽ đến hoạt động của Ngân hàng. Rõ ràng hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của Ngân hàng
luôn gắn với môi trừơng kinh doanh. Môi trường này gồm Pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Việc huy động vốn và sử dụng vốn của Ngân hàng đều tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của các chủ thể, tốc
độ chu chuyển vốn, tình trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát. Chính vì vậy mà hoạt động của Ngân hàng cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật, đôi khi
còn chặt chẽ hơn cả đối với doanh nghịêp. Trên thực tế Ngân hàng chịu sự tác động của rất nhiều chính sách, các quy định của chính phủ, Ngân hàng
Trung Ương ; đó là Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh tế, Luật dân sự … Do sự ràng buộc về pháp luật, nghiệp vụ huy động vốn chắc chắn sẽ thay
đổi và quy mô, hiệu quả của công tác huy động vốn cũng bị tác động. Cụ thể chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất, tín dụng ... thay đổi sẽ ảnh hưởng
đến khả năng thu hút vốn cũng như chất lượng nguồn vốn . Điều kiện kinh tế - xã hội.
Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu mơi trường chính trị khơng ổn định. Sự ổn định về chính trị hay chính sách ngoại giao cũng tác
động mạnh mẽ đến quan hệ vốn của Ngân hàng với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Nếu một nước có nền an ninh ổn định thì kinh tế
sẽ phát triển dẫn đến thu nhập của người dân cao, họ sẽ đem gửi nhiều tiền vào Ngân hàng không những đối với người trong nước mà còn cả người
nước ngoài.
Đây là yếu tố khách quan đối với Ngân hàng, yếu tố này ảnh hưởng chung việc mở rộng và khơi thông nguồn vốn của cả nền kinh tế. Trong đó
nguồn huy động của Ngân hàng thương mại, cụ thể trong nền kinh tế nếu kinh tế tăng trưởng cao thì mới có tích luỹ trong các doanh nghiệp các tổ
chức kinh tế và dân cư, do đó nguồn tiền gửi, nguồn tiết kiệm tăng nhanh
13
trong thời kỳ này. Ngược lại, nếu nền kinh tế bị suy thối thì lượng tiền gửi, tiền tiết kiệm sẽ giảm xuống,
Mặt khác khi nền kinh tế phát triển và ổn định kiến thức của người dân nâng lên, việc nắm giữ tiền trong dân cư giảm xuống, mọi hoạt động
giao dịch của khách hàng đều thông qua Ngân hàng. Đây cũng là yếu tố làm cho nguồn huy động được tăng lên.
Lạm phát là yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến Ngân hàng rất lớn đến công tác huy động vốn Ngân hàng, người dân gửi tiền vào Ngân hàng hy
vọng họ sẽ thu được khoản lãi nhất định. Lạm phát cao hoặc biến động mạnh có thể làm trượt giá đồng tiền thì họ sẽ chuyển các tài sản của họ
dưới dạng tiền gửi thành các hình thái khác do đó nó có tác động mạnh đến việc huy động vốn của Ngân hàng.
Những nhân tố chủ quan.
Chính sách lãi suất cạnh tranh. Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền có được so với số tiền gốc mà
người gửi tiền nhận được từ Ngân hàng, hay là phần vay phải trả cho Ngân hàng về khoản vốn vay. Lãi suất là giá cả của khoản tiền mà người mua
phải trả cho người bán. Do vậy người bán ln muốn bán với giá cao, còn người mua cũng luôn muốn mua với giá thấp. Như vậy người dân có có
nhu cầu gửi tiền vào Ngân hàng thì cái đầu tiên phải là lãi suất của Ngân hàng đó so với Ngân hàng khác.Tuy lãi suất huy động khơng đóng vai trò
quyết định nhưng với một lãi suất huy động cao thì bao giờ cũng tạo được sự quan tâm đối với khách hàng. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ
dù cho những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiết kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ một cơng cụ mà họ đang có sang
tiết kiệm hoặc đầu tư hay từ một tổ chức tín dụng này sang một Cơng ty hoặc một tổ chức tín dụng khác.
Tuy vậy cạnh tranh bằng lãi suất là cạnh tranh có giới hạn. Một Ngân hàng nếu không bị khống chế bởi lãi suất huy động “trần” và lãi suất cho
14
14
vay “sàn” của NHTW, thì cũng bị khống chế bởi chính lợi nhuận và sự tồn tại của Ngân hàng.
Các dịch vụ do Ngân hàng cung ứng.
Để phát huy được hết khả năng của các khoản tiền gửi, Ngân hàng đã ra một phạm vi dịch vụ cho vay rộng lớn cùng với sự phát triển không
ngừng mạng lưới cung cấp các dịch vụ và nới rộng các chức năng khác của mình để đáp ứng các nhu cầu dịch vụ phụ trợ của khách hàng chẳng hạn
dịch vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng, ký phát thư bảo lãnh, chuyển đổi tiền tệ từ loại này sang loại khác, bố trí thời gian tiếp khác
phù hợp.... Hoạt động Ngân hàng là kinh doanh kiếm lời và cạnh tranh ngày càng tăng giữa các Ngân hàng với nhau. Bởi cạnh tranh tăng lên, nên
hoạt động Ngân hàng vấp phải khó khăn ngày càng nhiều trong việc tìm kiếm lợi nhuận. Ngun nhân đó khiến các Ngân hàng khơng ngừng tìm tòi
những hình thức dịch vụ mới nhằm mở rộng kinh doanh. Một Ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên có nhiều lợi thế hơn các Ngân hàng có
các dịch vụ hạn chế. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ Ngân hàng là cạnh tranh khơng có giới hạn. Trong nền kinh tế hiện đại, các
Ngân hàng cạnh tranh với nhau chủ yếu bằng con đường này.
Hình thức huy động vốn cũng là một yếu tố ảnh hưởng : Do mục tiêu của người gửi tiền của những người gửi tiền là khác nhau, nên việc thoả
mãn nhu cầu đa dạng của họ đòi hỏi Ngân hàng phải có hình thức huy động vốn thích hợp tuỳ vào từng thời điểm, địa điểm, từng nhóm khách hàng …
Một Ngân hàng sẽ có lợi thế hơn so với Ngân hàng khác khi nó có các hình thức huy động vốn phong phú, linh hoạt...
Chính sách khách hàng.
Trong cơng tác khách hàng, Ngân hàng thường chia khách hàng ra làm nhiều loại để có cách thức đối xử phù hợp. Với những khách hàng lâu
năm giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, được Ngân hàng tín nhiệm, thì Ngân hàng sẽ có một chính sách ưu đãi về lãi suất, kỳ hạn của
món vay, cũng như thực hiện việc xét thưởng đối tác, có như vậy Ngân
15
hàng mới có khả năng thu hút khách hàng và tăng nhanh khả năng hoạt động vốn của mình. Để xây dựng được chiến lược khách hàng đúng đắn thì
Ngân hàng cần tìm hiểu động cơ thói quen mong muốn của người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng thơng qua phân tích lợi ích của khách
hàng. Trên cơ sở thơng tin của khách hàng Ngân hàng có thể đưa ra một hệ thống chính sách và biện pháp để có được quy mơ và chất lượng nguồn vốn
mong muốn. Hệ thống chính sách có thể gồm:
- Chính sách về giá cả lãi suất tiền gửi: tỷ lệ hoa hồng, chi phí dịch vụ hay còn gọi là chính sách giá cả các sản phẩm và dịch vụ tài chính .
- Chính sách trong phục vụ giao tiếp. Công nghệ Ngân hàng.
Trong cạnh tranh, các Ngân hàng không ngừng đổi mới công nghệ, bởi lẽ, các dịch vụ, đặc biệt các dịch vụ về chuyên môn Ngân hàng sẽ được
đa dạng, chất lượng ngày càng tốt hơn, đảm bảo các loại dịch vụ được cung ứng nhanh chóng, an tồn và hiệu quả. Tất nhiên với cơng nghệ Ngân hàng
tiên tiến sẽ giúp Ngân hàng phục vụ được khách hàng một cách tốt hơn, chỗ đứng của Ngân hàng đó trên thị trường sẽ vững vàng hơn thì sẽ có
nhiều khách hàng biến đến Ngân hàng đó cơng nghệ cao có khả năng giúp cho Ngân hàng đó có khả năng thanh tốn nhanh, thủ tục ít rườm rà. Điều
này cũng làm cho khả năng huy động vốn của Ngân hàng cũng dễ dàng hơn.
Chính sách cán bộ.
Một đội ngũ cán bộ có trình độ chun mơn cao, có tinh thần trách nhiệm, được bố trí cơng việc phù hợp với năng lực, đồn kết thân thiện,
ln ln là nền tảng của sự thành cơng. Nói chung, người ta đều mong muốn giao dịch kinh doanh với một hãng bề thế với các nhân viên dễ mến
lịch sự và có kiến thức.
Chính sách tiếp thị.
16
16
Là sản phẩm của cạnh tranh và hệ quả của sự nghiên cứu tìm tòi các dịch vụ mới - các Ngân hàng trở nên quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực tiếp
thị Marketing. Tiếp thị không đơn giản chỉ là vấn đề bán ra một sản phẩm nào đó, mà đây là cả một quá trình phát hiện, tìm kiếm khách hàng để tạo
ra những sản phẩm thích hợp cho họ, thuyết phục họ “mua” chúng thay vào việc “mua” những sản phẩm có chức năng tương tự do ngời khác cung cấp.
Một trong những biện pháp thuyết phục mà các Ngân hàng hiện đang làm đó là quảng cáo. Trong hoạt động Ngân hàng hiện đại, quảng cáo được chú
ý và có một chi phí nhất định dành cho cơng tác này. Uy tín của Ngân hàng.
Trong q trình hoạt động mỗi Ngân hàng sẽ tạo cho mình một hình ảnh riêng trong lòng khách hàng. Một Ngân hàng lớn có uy tín trong nhiều
năm sẽ có lợi thế trong huy động vốn so với Ngân hàng khác. Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp Ngân hàng có được sự ổn định khối lượng huy
động vốn và tiết kiệm chi phí huy động. Thậm chí trong điều kiện lãi suất huy động vốn thấp hơn chút những người gửi tiền vẫn lựa chọn Ngân hàng
có uy tín để gửi mà tìm những nơi trả hấp dẫn hơn vì họ tin rằng đồng vốn của mình tuyệt đối an tồn.

1.1.5. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nghiệp vụ huy động vốn


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (75 trang)

×