1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nghiệp vụ huy động vốn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (366.1 KB, 75 trang )


Là sản phẩm của cạnh tranh và hệ quả của sự nghiên cứu tìm tòi các dịch vụ mới - các Ngân hàng trở nên quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực tiếp
thị Marketing. Tiếp thị không đơn giản chỉ là vấn đề bán ra một sản phẩm nào đó, mà đây là cả một quá trình phát hiện, tìm kiếm khách hàng để tạo
ra những sản phẩm thích hợp cho họ, thuyết phục họ “mua” chúng thay vào việc “mua” những sản phẩm có chức năng tương tự do ngời khác cung cấp.
Một trong những biện pháp thuyết phục mà các Ngân hàng hiện đang làm đó là quảng cáo. Trong hoạt động Ngân hàng hiện đại, quảng cáo được chú
ý và có một chi phí nhất định dành cho cơng tác này. Uy tín của Ngân hàng.
Trong q trình hoạt động mỗi Ngân hàng sẽ tạo cho mình một hình ảnh riêng trong lòng khách hàng. Một Ngân hàng lớn có uy tín trong nhiều
năm sẽ có lợi thế trong huy động vốn so với Ngân hàng khác. Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp Ngân hàng có được sự ổn định khối lượng huy
động vốn và tiết kiệm chi phí huy động. Thậm chí trong điều kiện lãi suất huy động vốn thấp hơn chút những người gửi tiền vẫn lựa chọn Ngân hàng
có uy tín để gửi mà tìm những nơi trả hấp dẫn hơn vì họ tin rằng đồng vốn của mình tuyệt đối an toàn.

1.1.5. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nghiệp vụ huy động vốn


1.1.5.1 Sự gia tăng ổn định của vốn huy động:
Khối lượng và cơ cấu vốn hiện tại.
Không thể nói đến hiệu quả huy động vốn cao nếu việc huy động vốn không đáp ứng nổi nhu cầu về khối lượng vốn cho kinh doanh. Khối
lượng vốn phải đạt một qui mô nhất định theo kế hoạch huy động của Ngân hàng. Đồng thời cơ cấu vốn cần hợp lý thể hiện ở tỷ lệ giữa vốn
huy động ngắn hạn với dài hạn, giữa vốn nội tệ với vốn ngoại tệ, tỷ lệ vốn huy động vốn tự có = 20 lần, tỷ lệ vốn ngắn hạn dùng để cho vay
trung và dài hạn là 25.
Sự tăng trưởng của vốn huy động về số lượng và thời gian:
17
Vốn huy động phải có sự tăng trưởng về số lượng để có thể thoả mãn các nhu cầu về khối lượng vốn cho tín dụng, thanh tốn cũng như
các hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của Ngân hàng. Đồng thời vốn huy động phải có sự ổn định về mặt thời gian. Nếu Ngân hàng
huy động được một lượng vốn lớn nhưng khơng ổn định, thường xun có khả năng một dòng tiền lớn bị rút ra, Ngân hàng ln phải đối đầu với
vấn đề thanh tốn thì lượng vốn dành cho vay và đầu tư sẽ không lớn, như vậy hiệu quả huy động vốn sẽ là không cao. Ngược lại, nếu nguồn
vốn huy động ổn định Ngân hàng sẽ yên tâm sử dụng phần lớn số vốn đó vào các hoạt động có thu nhập cao.
Nguồn vốn tăng đều qua các năm, đạt mục tiêu đề ra và có độ gia tăng đều đặn là nguồn vốn tăng trưởng ổn định.
Cơ cấu nguồn vốn huy động phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn
Sự biến đổi về cơ cấu vốn sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay, đầu tư và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro của hoạt động kinh
doanh. Xu hướng biến đổi cơ cấu vốn huy động phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong tương lai về cho vay ngắn hạn, trung dài hạn, cho vay
nội tệ và ngoại tệ… 1.1.5.2 Tiết kiệm chi phí lãi và chi phí khác về huy động
Lãi suất huy động:
Lãi suất luôn luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của tất cả các chủ thể kinh tế. Người gửi tiền muốn một lãi suất cao để đồng tiền gửi của
mình thu về nhiều tiền lãi. Người vay tiền lại muốn một lãi suất thấp để tiết kiệm chi phí sản suất kinh doanh, tăng lợi nhuận. Là trung gian đóng
vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên, Ngân hàng phải tìm cách dung hồ lợi ích của tất cả các bên, trong đó điều quan trọng là phải đảm bảo
lợi nhuận cho Ngân hàng. Vì vậy trong huy động vốn, mỗi Ngân hàng đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm được những
18
18
nguồn vốn sao cho chi phí huy động là nhỏ nhất và sử dụng số vốn đó để cho vay với một lãi suất được chấp nhận trên thị trường. Chi phí huy
động vốn thường được đánh giá chủ yếu bởi mức lãi suất huy động từng nguồn; lãi suất huy động bình qn, tính bằng bình qn gia quyền của
lãi suất các nguồn theo khối lượng từng nguồn; chênh lệch đầu vào đầu ra. Các nguồn huy động của Ngân hàng có mức lãi suất, kỳ hạn, qui mơ
khác nhau mà trong thực tế khi cho vay không phân biệt rạch ròi là từ nguồn nào do đó Ngân hàng phải tính mức lãi suất bình qn để đảm bảo
được chênh lệch giữa hai lãi suất đầu ra và đầu vào dương.
Mặt khác cùng với một mức chi phí trả lãi bình qn, sự đa dạng hố trong lãi suất cho phù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần
thiết. Sự đa dạng hố lãi suất làm tăng tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà Ngân hàng đặt ra. Nếu chính sách lãi suất mà đúng đắn, Ngân
hàng sẽ tối hiệu hố được chi phí trong khi vẫn hồn thành kế hoạch về nguồn vốn.
Chi phí khác: Bên cạnh chi phí chính là lãi suất, trong quá trình huy động vốn
Ngân hàng còn phải chịu một số chi phí khác như chi phí tiền lương cho nhân viên tham gia cơng tác huy động vốn, chi phí in ấn phát hành, chi
phí cơ sở vật chất, chi phí giao dịch, quảng cáo…
Nếu Ngân hàng giảm chi phí huy động bằng cách hạ lãi suất thì việc huy động vốn sẽ rất khó khăn vì nó khơng khuyến khích người dân
gửi tiền vào và khơng cạnh tranh được với các Ngân hàng khác có lãi suất cao hơn. Do đó việc giảm chi phí huy động bằng cách giảm lãi suất
là rất khó mà Ngân hàng phải tìm cách giảm thiểu được các chi phí khác nêu trên.
1.1.5.3. Độ đa dạng các hình thức huy động:
Số lượng các công cụ huy động: Tuỳ theo đặc điểm kinh doanh mà mỗi Ngân hàng áp dụng một hệ
thống các công cụ khác nhau trong quá trình huy động vốn. Số lượng các
19
công cụ này tuỳ thuộc và cũng là một yếu tố phản ánh năng lực của một Ngân hàng. Chỉ những Ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng,
phong phú, có trình độ nhân viên cao, có năng lực quản lý tốt mới có điều kiện phát triển nhiều loại công cụ huy động vốn khác nhau.
Sự đa dạng về kỳ hạn và các loại tiền tệ sử dụng: Đó là khả năng huy động các nguồn vốn với các kỳ hạn khác
nhau, trong đó có cả nội tệ và ngoại tệ và với mức lãi suất khác biệt tương ứng sao cho người gửi tiền chấp nhận được và cảm thấy hợp lý.
Nhờ đó Ngân hàng đạt được cơ cấu về kỳ hạn và loại tiền mong muốn để đáp ứng được tối đa các nhu cầu sử dụng vốn tránh tình trạng thừa vốn
ngắn hạn trong khi thiếu vốn trung dài hạn, thừa vốn nội tệ nhng lại thiếu vốn ngoại tệ.
1.1.5.4. Một số chỉ tiêu khác: Ngồi các chỉ tiêu chính trên, hiệu quả cơng tác huy động vốn còn
được đánh giá qua một số chỉ tiêu sau: Mức độ hoạt động của vốn huy động: được đánh giá qua chỉ tiêu
hệ số sử dụng vốn. Hệ số sử dụng vốn càng tiến đến một thì càng tốt trong điều kiện vẫn đảm bảo các giới hạn an toàn trong hoạt động kinh
doanh, điều này thể hiện nguồn vốn huy động được sử dụng tối đa.
Mức độ thuận tiện cho khách hàng: Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền, rút tiền, các dịch vụ kèm theo của Ngân hàng… tiết kiệm được
thời gian và chi phí cho khách hàng.
Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định. Một số chỉ tiêu khác như số lượng vốn bị rút trước hạn, kỳ hạn
thực tế của nguồn vốn… Trên đây là một số chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả công tác huy
động vốn. Tuy nhiên, một chỉ tiêu thì khơng thể phản ánh đầy đủ được, ta phải kết hợp nhiều chỉ tiêu thì mới đánh giá đúng và thực chất hiệu quả
công tác huy động vốn tại một Ngân hàng thương mại.
20
20
1.2. Kế toán huy động vốn. 1.2.1. Nhiệm vụ, yêu cầu của kế toán huy động vốn.
1.2.1.1 Nhiệm vụ : Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế tốn theo đối tượng và nội dung
cơng việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu,
nộp thanh toán nợ, kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản, phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài
chính, kế tốn. Phân tích thơng tin, số liệu kế toán, tham mưu đề xuất các giải pháo
phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế tốn.
Cung cấp thơng tin, số liệu kế tốn theo quy định của pháp luật. 1.2.1.2. Yêu cầu
Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế tốn, sổ kế tốn và báo cáo tài chính.
Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán. Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thơng tin, số liệu kế tốn
Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc nội dụng và gía trị
của nghiệp vụ kinh tế, tài chính. Thơng tin, số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ khi phát
sinh đến khi kết húc hoạt động kinh tế, tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán, số liệu kế toán phản ánh kỳ này
phải kế tiếp theo số liệu kế tốn của kỳ trước.
Phân loại, sắp xếp thơng tin, số liệu kế tốn theo trình tự, có hệ thống và có thể so sánh được.
21

1.2.2. Tài khoản sử dụng trong kế toán huy động vốn.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (75 trang)

×