1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Nghiệp vụ cho vay và đầu tư: Nghiệp vụ thanh toán trung gian:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (423.11 KB, 59 trang )


có vai trò quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy q trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước và hình thành các cơng ty cổ phần, từ đó thúc đẩy mạnh phát triển lực lượn
sản xuất. NHTM là cơng cụ thực hiện chính sách tiền tệ của NHTM.
NHTM thực thi chính sách tiền tệ thơng qua NHTM bằng các công cụ như: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tiền gửi và cho vay, lãi suất tái chiết khấu …phần lớn các cơng
cụ thực hiện chính sách tiền tệ của NHTM chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và có hiệu quả của NHTM.
1.1.4 Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM. 1.1.4.1 Nghiệp vụ huy động vốn:
Nghiệp vụ huy động vốn là một hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này NHTM được phép sử dụng các
biện phápvà các công cụ cần thiết mà pháp luật cho phếp để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội với trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi thep đúng thoả thuận.
Nguồn vốn huy động được xem là nguồn vốn lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng, bao gồm các khoản sau:
-Tiền gửi tiết kiệm của cơng chúng: +Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn
+Tiền gửi tiết kiệm khơng kì hạn -Tiền gửi của các tổ chức kinh tế:
+Tiền gửi thanh toán +Tiền gửi kí quĩ
+Tiền gửi chun dùng +Tiền gửi có kì hạn
-Tiền gửi các tổ chức tín dụng: thong thường là tiền gửi thanh toán. -Tiền gửi của các cơ quan nhà nước.
-Tiền phát hành trái phiếu, kì phiếu…

1.1.4.2 Nghiệp vụ cho vay và đầu tư:


Nghiệp vụ cho vay là một trong các nghiệp vụ sử dụng vốn chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM.
Các khoản cho vay có thể được chia thành các loại sau:
SVTH : Phạm Thị Như Hương - Trang 6 -
-Theo thời hạn:
+ Cho vay ngắn hạn thời hạn dưới 1 năm +Cho vay trung hạn thời hạn 1 đến 5 năm
+Cho vay dài hạn thời hạn trên 5 năm -Theo tính chất đảm bảo:
+Cho vay có bảo đảm bằng tài sản +Cho vay khơng bảo đảm bằng tài sản
-Theo đối tượng vay vốn: +Cho vay bổ sung vốn lưu động
+Cho vay vốn cố định Trong nghiệp vụ đầu tư các ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn của mình và
các nguồn vốn cố định khác để hùn vốn liên doanh, mua cổ phần của các cơng ty, xí nghiệp, mua trái phiếu Nhà nước, tham gia kinh doanh trên thị trường chứng khoán, thị
trường hối đoái nhằm tăng them lợi nhuận…Tuy nhiên trong nghiệp vụ đầu tư này, ngân hang phải tuân thủ theo những quy định khống chế về quy mô và khối lượng vốn
tham gia.

1.1.4.3 Nghiệp vụ thanh toán trung gian:


Bên cạnh hai nghiệp chủ yếu trên, các ngân hàng ngày càng quan tâm nhiều hơn đến kinh doanh các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ cho nghiệp vụ khái thác nguồn vốn, đồng
thời tạo ra nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng thơng qua các khoản phí, hoa hồng… Nghiệp vụ này bao gồm các nghiệp vụ chủ yếu sau:
-
Thanh toán không dung tiền mặt: được tiến hành dưới sự dám sát của ngân hàng, thực hiện dưới các hình thức:
+Thanh toán bằng séc +Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi
+Thanh toán bằng thư tín dụng +Thanh tốn bằng thẻ thanh tốn
- Dịch vụ trung gian hưởng hoa hồng bao gồm các hoạt động: +Bảo lãnh
+Chuyển tiền +Tư vấn, môi giới
SVTH : Phạm Thị Như Hương - Trang 7 -
+Các dịch vụ khác như bảo quản vật kí thác, cho thuê tủ sắt, định gía doanh nghiệp, thu chi hộ ngân quĩ…
1.2 Marketing trong hoạt động ngân hàng 1.2.1 Thế nào là Marketing trong hoạt động ngân hàng ?
Marketing trong ngân hàng là tồn bộ q trình tổ chức và quản trị của một ngân hàng từ việc phát hiện ra nhu cầu đến việc đáp ứng tốt nhất những mong muốn nhu cầu
của các nhóm khách hàng đã chọn bằng hệ thống chính sách, biện pháp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của từng khách hàng, của tồn bộ nền kinh tế nói chung và sự tồn
tại phát triển của từng ngân hàng nói riêng. Marketing ngân hàng là một hệ thống tổ chức quản lý của một ngân hàng để đạt
được mục tiêu đặt ra của ngân hàng là thoả mãn tốt nhất nhu cầu về vốn, cũng như các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách hàng lựa chọn bằng các chính sách, các
biện pháp hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Marketing ngân hàng cũng dựa trên cơ sở chung của marketing căn bản, có vai
trò to lớn đối với sự thành bại của mỗi ngân hàng trong cơ chế thị trường. Các nghiên cứu đều cho thấy rằng các NHTM hoạt động kinh doanh trên cơ sở các hoạt động đã
được chiến lược hóa ln thành công hơn các NHTM kinh doanh tuỳ tiện theo kiểu đối phó, khơng dự báo chính xác trước được các thay đổi mơi trường bên ngồi cũng như
bên trong, không xác định trước các lợi thế cũng như yếu thế của ngân hàng trong mơi trường mới, vì vậy luôn rơi vào thế bị động và dễ gặp thất bại trước các đối thủ cạnh
tranh có kinh nghiệm hơn. Với cái đích cuối cùng là lợi nhuận, các NHTM đều phải thừa nhận rằng
marketing là công cụ kinh doanh, được coi như một công nghệ ngân hàng hiện đại không thể thiếu được nếu muốn tồn tại và phát triển. Thực tế có thể thấy marketing ngân
hàng có các tác dung dưới đây:

Marketing là công cụ kết nối hoạt động của các NHTM với thị trường •
Marketing là cơng cụ hữu hiệu thu hút khách hàng

Marketing là cơng cụ nâng cao khả năng cạnh tranh •
Marketing là cơng cụ hạn chế tối đa rủi ro Marketing ngân hàng có những đặc điểm khác biệt so với Marketing thuộc các
lĩnh vực khác. Đó là do đặc điểm hoạt động kinh doanh ngân hang quyết định.
SVTH : Phạm Thị Như Hương - Trang 8 -
Một trong những hoạt động của Marketing ngân hàng là phải tạo lập, giữ vững và phát triển mối quan hệ bền lâu với tất cả khách hàng. Như vậy khách hàng quyết định
sự sống còn của ngân hàng. sẽ hiểu được thị trường, phân loại được những khách hàng tiềm năng, tìm ra đoạn thị trường phù hợp nhất với khả năng của mình.
Marketing là cơng cụ để ngân hàng có thể nâng cao nhận thức về s cho các đối tượng khách hàng tiềm năng qua đó tăng số lượng khách hàng của mình.

1.2.2 Sự cần thiết của việc ứng dụng Marketing trong hoạt động ngân hàng.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

×