1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Nhóm các phương thức huy động vốn hướng đến mục tiêu lợi nhuận.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (450.55 KB, 58 trang )


loại trên, tác giả một lần nữa phân loại các phương thức huy động vốn của các tổ chức tín dụng một cách cụ thể hơn. Ở mục này, tác giả sẽ chỉ tiến hành phân tích các phương thức huy động này ở
những khía cạnh chung nhất, tức vấn đề sẽ khơng chỉ được phân tích dưới khía cạnh luật học mà còn mở rộng ra ở những khía cạnh rộng hơn, đặc biệt là những vấn đề mang tính nghiệp vụ trong
hoạt động của một ngân hàng và các vấn đề liên quan đến tính kinh tế trong từng nghiệp vụ được phân tích.
Để tiện cho q trình phân tích cũng như do những đặc tính khá khác biệt về mặt chủ thể cũng như những vấn đề khác liên quan đến các thủ tục thực hiện và vai trò của chúng trong tổng thể hoạt
động của một ngân hàng, ở đây, các phương thức huy động vốn sẽ được chia thành hai nhóm: 1 nhóm các phương thức huy động vốn hướng đến mục tiêu lợi nhuận; 2 và nhóm các phương thức
huy động vốn xuất phát từ mục đích đảm bảo an tồn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.
14

1.1.4.1. Nhóm các phương thức huy động vốn hướng đến mục tiêu lợi nhuận.


Căn cứ vào sự phân loại của Luật Các tổ chức tín dụng, về cơ bản, nhóm các phương thức huy động vốn này bao gồm 2 hoạt động chính:

Hoạt động nhận tiền gửi: Theo quy định của khoản 1 điều 45 luật này, ngân hàng được huy động các loại tiền gửi của tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng khác.

Hoạt động phát hành giấy tờ có giá: Cũng theo điều 46 của luật này, quy định: “Tổ chức tín dụng được phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của
tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng nhà nước.” Đây là những quy định khá chung và tồn diện về nhóm các hoạt động này, dưới đây sẽ là
những phân tích khái quát nhất về những loại hình nghiệp vụ cụ thể:
a
Hoạt động nhận tiền gửi.
Trong các hình thức huy động vốn của tổ chức tín dụng, đây là phương thức huy động vốn cổ xưa nhất và cho đếm hiện nay nó vẫn là hình thức huy động vốn quan trọng nhất về mặt kinh tế và
chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động ở mỗi tổ chức tín dụng. Việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi là một hình thức huy động vốn đặc trưng riêng có của các tổ chức tín dụng và
của các tổ chức khác được nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, tùy thuộc vào các loại hình hoạt động mà các tổ chức này được phép thực hiện các loại hình huy động vốn bằng tiền
gửi khác nhau.
Tuy pháp luật khơng có định nghĩa nào về hoạt động nhận tiền gửi của các ngân hàng, nhưng theo quy định tại khoản 9 điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng, đã đưa ra một định nghã khá cụ thể
về tiền gửi, cụ thể: “Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi khơng kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền
14
Việc phân loại này về cơ bản mang tính tương đối, trên thực tế, mục tiêu kinh tế và mục tiêu lợi nhuận là 2 mục tiêu luôn đặt song hành trong mọi hoạt động của ngân hàng thương mại, đó là đặc trưng lớn nhất của hoạt động ngân
hàng. Chính vì vậy, mọi hoạt động huy động vốn trên thực tế ít nhiều đều hướng đến hai mục đích này, tuy nhiên, tùy từng loại phương thức huy động khác nhau mà mục tiêu nào được đề cao, và là mục tiêu chính yếu. Có thể dễ dàng
nhận thấy rõ vấn đề này thơng qua việc hoạch tốn lợi nhuận của các ngân hàng, và dấu hiệu điển hình nhất đó là lãi suất huy động của ngân hàng so với lãi suất thực trên thị trường vào cùng một thời điểm dĩ nhiên cũng phải tính đến
các vấn đề về chi phí huy động vốn và tính ổn định của nguồn vốn.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc khơng hưởng lãi và phải được hồn trả cho người trả tiền”.
Căn cứ vào các loại hình tiền gửi này có thể tạm phân chia thành các hình thức huy động vốn như sau:

Huy động tiền gửi khơng kỳ hạn là loại huy động mà khơng có sự thỏa thuận giữa
khách hàng và NHTM về thời hạn rút tiền Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi được khách hàng gửi vào các tổ chức tín dụng để thực
hiện các khoản chi trả, thanh tốn hoặc vì mục đích đảm bảo an toàn cho tài sản của họ
15
. Tiền gửi khơng kì hạn là khoản tiền gửi đang chờ thanh toán hoặc nhằm đáp ứng nhu cầu rút tiền tức thời
của khách hàng, đây không phải là số tiền mà khách hàng để dành nên khách hàng có thể rút hoặc sử dụng để thanh tốn bất kì lúc nào theo yêu cầu. Loại tiền gửi này thường cũng được chia thành
2 loại:

Tiền gửi giao dịch còn gọi là tiền gửi thanh tốn. Mục đích chính của khoản tiền gửi
này là tạo ra phương tiện thanh toán cho khách hàng. Thường loại tiền gửi này được quản lí ở các tổ chức tín dụng trên một tài khoản thanh tốn
16
hoặc tài khoản vãng lai
17
. Vì tính khơng ổn định của nó nên tài khoản này thường khơng được trả lãi hoặc được trả lãi nhưng với lãi suất rất thấp và
cũng chính vì tính khơng ổn định này mà để đảm bảo an tồn tín dụng các ngân hàng phải có một tỉ lệ dự trữ khá cao để thực hiện thanh toán. Đối với khản tiền gửi này, khách hàng được sử dụng các
cơng cụ thanh tốn để chi trả như ủy nhiệm chi, séc và các lệnh khác,…

Tiền gửi phi giao dịch tiền gửi khơng kì hạn có trả lãi: là khoản tiền gửi nhàn rỗi mang
tính tạm thời. Mục đích chính của khoản tiền gửi này là khách hàng gửi tiền để đảm bảo an tồn, thuận tiện cho tài sản của họ mà khơng nhằm mục đích thực hiện các dịch vụ thanh tốn của ngân
hàng thương mại.
Điểm chung của cả 2 loại hình tiền gửi này là chúng đều có mức độ thay đổi rất lớn và do đó cần có mức dự trữ cao. Tuy nhiên, đây là nguồn vốn có chi phí khá thấp, nếu các ngân hàng có một
kế hoạch tài chính tốt cùng với những hoạch tốn hợp lí thì đây cũng là một trong những nguồn vốn khá lớn mang lại lợi ích kinh tế cao đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại. Các ngân
hàng thường không trả lãi cho các khoản tiền gửi này nhưng để thu hút nguồn vốn này các ngân hàng thường cung cấp cho ngân hàng một số những dịch vụ miễn phí và thậm chí có thể trả một
khoản lãi nhỏ. Về cơ bản, đây không phải là một nguồn vốn ổn định, tuy nhiên, nếu thu hút được số lượng lớn và có một chu kì ổn định, vẫn có thể là một nguồn vốn rất khả dụng và lợi nhuận cao hơn
hẳn so với các nguồn vốn khác.

Tiền gửi có kì hạn là loại huy động tiền gửi có sự thỏa thuận của khách hàng và ngân
hàng về thời hạn rút tiền bản chất của nó là tiền tích lũy. Mục đích của khách hàng đối với loại tiền gửi này là đầu tư kiếm lời. Về nguyên tắc, người gửi
tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thanh toán. Tuy nhiên, trên thực tế để thu hút khách hàng gửi lọai
15
Ở mỹ gọi khoản tiền gửi này là tiền gửi theo yêu cầu, ở pháp thì gọi tiền gửi này là tài khoản séc.
16
Tài khoản tiền gởi thanh tốn hay còn gọi là tài khoản giao dịch hặc tài khoản séc, tài khoản này dư có, khách hàng này chỉ được sử dụng trong phạm vi tiền gửi của mình. Tài khoản séc hay tài khoản thanh toán hiện nay ở việt
nam gồm 2 loại: a tài khoản thanh toán dùng cho doanh nghiệp; b tài khoản thanh tốn dùng cho cá nhân.
17
Tài khoản này có thể dư có hoặc dư nợ, nghĩa là khách hàng ngồi sử dụng số tiền gửi của mình còn được dùng khoản tiền do ngân hàng cho vay theo sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
tiền gửi này, các tổ chức tín dụng có thể cho phép khách hàng được rút tiền trước hạn nếu số tiền rút ra lớn thì phải thơng báo trước với tổ chức tín dụng một vài ngày trong trường hợp này người
gửi tiền được hưởng mức lãi suất thấp, đôi lúc là lãi suất phạt. Tiền gửi có kì hạn là loại tiển gửi mang tính ổn định, nên các tổ chức tín dụng thường chú trọng các biện pháp kích thích để huy
động loại tiền gửi này. Phổ biến nhất vẫn là phương thức làm đa dạng hóa các loại hình tiền gửi này, đặc biệt việc đưa ra nhiều kì hạn thanh toán để đáp ứng nhu cầu khách hàng, đối với mỗi loại
kì hạn áp dụng các mức lãi suất khác nhau, thường thì kì hạn càng dài, lãi suất càng cao. Phương thức thứ hai đó là kèm theo các hợp đồng này là các dịch vụ hậu mãi của các ngân hàng thương mại
dành cho khách hàng, hoặc cũng có thể là các giải thưởng rút thăm,… Phương thức thứ ba thường hạn chế hơn nhưng rất thịnh hành trong giai đoạn gần đây của thị trường tài chính Việt Nam là cạnh
tranh về lãi suất huy động vốn. Đây là phương thức dễ dàng thu hút sự quan tâm của khách hàng nhất nhưng cũng khá nguy hiểm và khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương
mại, đặc biệt là trong giai đoạn mà thị trường vốn khan hiếm, vấn đề này sẽ được phân tích cụ thể hơn ở chương 2.
Đặc tính quan trọng nhất của khoản tiền gửi này là có tính an tồn cao, tính ổn định khá cao do thời gian hoàn vốn đã được xác định trước, các ngân hàng sẽ có cơ sở rất chắc chắn cho việc hoạch
định chiến lược quản trị nguồn vốn của mình. Chính vì vậy, các ngân hàng thương mại thường chủ động hơn khi sử dụng nguồn vốn này, dự trữ thấp, nhiều lợi nhuận hơn và ngân hàng thương mại
có thể dùng khoản tiền này để cấp các hạn mức tín dụng dài hạn hơn,… Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của nó là chi phí cao do sự cạnh tranh lãi suất, lãi suất này cao hơn nhiều so với lãi suất tiền
gửi khơng kì hạn.

Tiền gửi tiết kiệm.
Theo quy định của khoản 1 Điều 6 Quyết định số 11602004QĐ-NHNN về viêc ban hành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm vào ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt
Nam: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và
được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.”
Nhìn chung, tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi chỉ dành cho cá nhân
18
, nó là khoản tiền gửi chỉ dành cho cá nhân chứ khơng phải để thanh tốn, nó được kí gởi vào tổ chức tín dụng nhằm mục
đích cất giữ hộ hoặc hưỡng lãi theo định kì. Đây là loại hình kí thác rất đa dạng và phổ biến trong nền kinh tế trên toàn thế giới.
Tiền gửi tiết kiệm được chia thành 2 loại tiền gửi tiết kiệm có kì hạn và tiền gửi tiết kiện khơng kì hạn.

Tiền gửi tiết kiệm khơng kì hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền
theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kì ngày giờ làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi
18
Tại điều Điều 3 quyết định số 11602004QĐ-NHNN về viêc ban hành quy chế về tiền gửi tiết kiệm quy định về
Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm là : 1. Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam là các cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài đang sinh
sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. 2. Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ là các cá nhân người cư trú.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
tiết kiệm
19
. Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm khơng kì hạn khác với tiền gửi tiết kiệm có kì hạn ở chổ: tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các công cụ dịch vụ
thanh tốn bằng các cơng cụ thanh tốn không dùng tiền mặt để chi trả cho người khác, trừ trường hợp tài khoản tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam của người cư trú được sử dụng để chuyển
khoản thanh tốn tiền vay của Chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó; hoặc chuyển khoản sang tài khoản khác do chính
chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.
20

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền
sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm
21
. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn khác với tiền gửi có kì hạn chỉ ở chổ khách hàng gửi tiền gửi tiết kiệm có kì hạn chỉ
có thể là cá nhân. Có thể nói, xét về giá trị, các khoản tiết liệm thường nhỏ hơn so với các tài loại tiền gửi khác
nhưng số lượng khá nhiều, vì vậy, nếu xét về tổng thể, đây vẫn là một nguồn vốn khá tiềm năng của các ngân hàng thương mại. Trên thực tiễn, các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm rất phong phú và đa
dạng, đây là một phương cách thu hút lượng khách hàng của các ngân hàng thương mại, đáp ứng nhu cầu đa dạng và biến đổi thường xuyên của nhóm khách hàng đơng đảo này. Nhìn chung, đặc
trưng chính của nguồn vốn này là có độ ổn định cao, tuy nhiên, mặt trái kèm theo của nó là chi phí huy động vốn khá cao chi phí giao dịch bình qn, chi phí trả lãi, chi phí thiết lập mạng lưới chi
nhánh,…
b Huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá.
Phát hành giấy tờ có giá là loại hình giao dịch huy động vốn khá thơng dụng của các tổ chức tín dụng và thường được quy định một cách rõ ràng, cụ thể trong pháp luật của nhiều nước trên thế
giới. Trong nền kinh tế thị trường, phát hành giấy tờ có giá là giải pháp huy động vốn khá dễ dàng và thuận lợi của các tổ chức kinh tế nói chung và tổ chức tín dụng nói riêng từ cơng chúng. Các
giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thi trường vốn dưới hình thức giấy nhận nợ hoặc chúng chỉ tiền gửi, trong đó tổ chức tín dụng cam kết trả gốc,
lãi cho người mua sau một thời gian nhất định.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá ban hành kèm theo Quyết định số 072008QĐ-NHNN ngày 24 tháng 03 năm 2008 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam:
“Giấy tờ có giá” là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều
khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua.”
Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành có thể thể hiện dưới hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ, có thể là loại có ghi danh hoặc khơng ghi danh. Hình thức chứng chỉ ghi danh áp dụng đối
19
Khoản 8 điều 6 quyết định số 11602004QĐ-NHNN về viêc ban hành quy chế về tiền gửi tiết kiệm.
20
Khoản 2 Điều 11 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm Quyết định số 11602004QĐ-NHNN.
21
Khoản 9 Điều 6 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm Quyết định số 11602004QĐ-NHNN.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
với người mua là cá nhân. Hình thức chứng chỉ vô danh
22
áp dụng đối với người mua là cá nhân và tổ chức. Hình thức ghi sổ áp dụng đối với người mua là tổ chức có tài khoản tiền gửi tại tổ chức tín
dụng phát hành giấy tờ có giá đó. Trường hợp phát hành giấy tờ có giá bằng hình thức ghi sổ, tổ chức tín dụng phát hành phải cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá cho người mua. Các
giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành được chuyển nhượng quyền sỏ hữu dưới hình thức mua bán, tặng cho, trao đổi hoặc thừa kế, hoặc người sở hữu giấy tờ có giá cũng có thể làm vật thế
chấp
23
. Về cơ bản, huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá gồm có hai hình thức chính, phát
hành kì phiếu ngân hàng và trái phiếu.

Kì phiếu ngân hàng còn gọi là chứng chỉ tiền gửi là giấy nợ ngắn hạn mà ngân hàng
thương mại phát hành để huy động vốn ngắn hạn thời hạn dưới 1 năm. Loại cơng cụ này có khả năng tạo cho ngân hàng thương mại một nguồn vốn ổn định trong một thời gian ngắn. Kì phiếu
ngân hàng là một loại giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao, chủ thể sở hữu nó có thể dễ dàng chuyển đổi nó thành tiền mặt thơng qua các giao dịch trên thị trường tiền tệ. Loại chứng khốn này
khá thơng dụng, rất dễ chuyển đổi, tính rủi ro thấp vì chủ thể phát hành nó là các ngân hàng thương mại, những chủ thể có tiềm lực về tài chính khá ổn định. Tuy nhiên, lãi suất khá thấp chính vè vậy
lợi nhuận khơng cao so với các loại chứng khốn khác. Đây thường là lựa chọn đầu tư mang tính bền vững. Nhờ vào tính thanh khoản này mà loại hình huy động vốn này thu hút được một lượng
lớn nguồn vốn đầu tư. Có thể nói, đây là một công cụ tương đối chủ động và linh hoạt của các ngân hàng thương mại và phương thức phát hành có thể nói là khơng q phức tạp.

Trái phiếu là giấy nợ mà ngân hàng thương mại phát hành để huy động nguồn vốn ở
trung và dài hạn. Nếu căn cứ vào đối tượng khách hàng, có thể tạm chia loại hình trái phiếu thành hai nhóm, trái phiếu thuộc vốn huy động và trái phiều thuộc vốn tự có. Trái phiều thuộc vốn huy
động là trái phiếu có thời hạn linh hoạt, người mua là chủ nợ thường được ưu tiên thanh toán nợ trước. Trái phiếu thuộc vốn tự có là trái phiếu có thời hạn từ 10 năm trở lên, người mua là chủ nợ
thứ cấp. Loại hình trái phiều thường có hai phương thức phát hành, hoặc là phát hành theo mệnh giá tức hình thức trả lãi sau hoặc phát hành theo hình thức chiết khấu tức trả lãi trước. Nhìn
chung, đối với các ngân hàng thương mại, đây là nguồn vốn có tính ổn định cao nhất và đặc biệt với hình thức huy động này, ngân hàng luôn ở vị thế chủ động khi huy động vốn: chủ động về thời
gian, quy mô vốn, thời gian,… tuy nhiên, điểm hạn chế của loại hình huy động này là chi phí huy động cao hơn các loại hình khác, cụ thể đó là lãi suất huy động, đây cũng chính là điểm hấp dẫn các
nhà đầu tư lựa chọn loại chứng khoán này, ít rủi ro và cũng có một lợi nhuận đáng kể
24
.
22
“Giấy tờ có giá vơ danh” là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ khơng ghi tên người sở hữu. Giấy tờ có giá vơ danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá. khoản 5 điều 4 quyết định số 11602004QĐ-
NHNN về viêc ban hành quy chế về tiền gửi tiết kiệm
23
Điều 14, 15 Quy chế phát hành giấy tờ có giá ban hành kèm theo quyết định số 072008QĐ-NHNN.
24
ở các nước trên thế giới, tiền gửi tạm thơi chia thành 2 loại, tiền gửi có kì hạn vè tiền gửi khơng kì hạn, tiền gửi khơng kì hạn về cơ bản bao gồn các loại: tiền gởi dùng séc, tiền gửi rút tiền tự dộng hay tiền gửi thông dụng, tài
khoản ATS, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có thơng tri, và ký thác đặc biệt.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
Tổ chức tín dụng muốn được huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá phải thỏa mãn những điều kiện mà pháp luật quy định và tn theo các quy trình thủ tục luật định.
1.1.4.2.
Nhóm các phương thức huy động vốn xuất phát từ mục đích đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.
a
Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng.
Vấn đề này được quy định tại điều 47 Luật Các tổ chức tín dụng: “Các tổ chức tín dụng được vay vốn của nhau và của tổ chức tín dụng nước ngồi.” Ngồi ra nó cũng được quy định cụ thể tại
Quyết định của thống đốc Ngân hàng nhà nước số13102001QĐ-NHNN ngày 15 tháng 10 năm 2001 về việc ban hành Quy chế vay vốn giữa các tổ chức tín dụng.
Nguồn vốn đóng vai trò sống còn đối với sự tồn tại của các ngân hàng thương mại nói riêng và với cả các định chế tài chính bởi vì nó chính là kênh lưu chuyển nguồn vốn của tồn nền kinh tế,
một nguyên nhân khác cũng không kém phần quan trọng là vì tính nhạy cảm của thị trường loại hàng hóa này. Mỗi ngân hàng là một kênh lưu chuyển vốn, các dòng vốn này thơng nhau qua sự
tương quan của nó với ngân hàng trung ương và thị trường tài chính. Khác với tính độc lập mang tính cá thể của các loại hình doanh nghiệp khác, sự tồn tại của các ngân hàng nằm trong mối quan
hệ ràng buộc lẫn nhau, cũng giống như dòng nước lưu chuyển giữa các con kênh, hoạt động của mỗi ngân hàng sẽ dễ dàng chịu sự tác động của các ngân hàng khác, nếu một ngân hàng nào trong
hệ thống gặp sự cố, sẽ có khả năng tác động xấu tới tất cả các ngân hàng còn lại, nếu không được giải quyết một cách cẩn trọng, nguy cơ sụp đổ hệ thống là hồn tồn có khả năng xảy ra, vấn đề này
đã diễn ra rất nhiều lần trong lịch sử thị trường tài chính của nhiều quốc gia trên thế giới. Chính vì mối tương quan trên, các ngân hàng cần tồn tại trong một môi trường lành mạnh và giữ gìn mối
tương quan tốt với các định chế tài chính khác để đảm bảo cho chính sự tồn tại của mình. Nghiệp vụ vay vốn giữa các tổ chức tín dụng xuất phát từ mục tiêu và mối tương quan trên.
Lẽ sống của các ngân hàng thương mại là nhận kí thác và cho vay. Ngân hàng thương mại phải cho vay tới mức mà ngân hàng trung ương cho phép để tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng không phải lúc
nào hoạt động của các ngân hàng đều thuận lợi. Dầu thận trọng cách mấy trong việc cho vay, ngân hàng thương mại cũng khó tránh khỏi có lúc thiếu khả năng chi trả hoặc quá kẹt tiền mặt. Lúc đó,
các ngân hàng thương mại thường cần có một nguồn vốn khá lớn và đặc biệt là tức thời, trong tình cảnh đó, vay của các tổ chức tín dụng khác là một trong những lựa chọn.
Quan hệ vay vốn này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng. Đối tượng vay và cho vay thường là các tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp. Cũng như các hợp đồng vay vốn thông thường
khác, về nguyên tắc, khi thực hiện cho vay, đi vay các bên phải đảm bảo nguyên tắc: bên vay phải hoàn trả nợ gốc, lãi tiền vay và các loại phí nếu có đúng hạn cho bên vay. Việc cho vay, đi vay
cũng phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và các thông lệ quốc tế tương ứng. Về thời hạn vay, các bên có thể thỏa thuận, tuy nhiên, đây thường là các khoản vay ngắn hạn chẳng hạn vay
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
qua đêm. Về biện pháp bảo đảm, các bên thỏa thuận áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm trong từng trường hợp cụ thể. Hình thức bảo đảm tiền vay có thể là bảo đảm bằng tài sản hoặc
bảo lãnh của các tổ chức tín dụng khác, tuy nhiên, một biện pháp bảo đảm tiền vay khá thông dụng là bảo lãnh của ngân hàng trung ương. Về phương thức cho vay, các bên có thể áp dụng phương
thức cho vay từng lần, theo hạn mức tín dụng hoặc các phương thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Trên thực tế từ trước đến nay, các hợp đồng vay vốn giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng theo dạng này thường được thiết lập trên mối quan hệ hợp tác lâu dài, thân tình giữa các tổ chức
này với nhau, đó là mối quan hệ “có đi có lại”. Khi thị trường tài chính phát triển hồn thiện hơn, cạnh tranh gay gắt hơn, rủi ro gia tăng, các ngân hàng đã chủ động hơn trong việc tiếp cận nguồn
vốn mang tính “bảo hiểm” này. Các ngân hàng không chờ đến khi lâm vào tình trạng thiếu hụt nguồn vốn mới tìm kiếm các hợp đồng vay vốn này mà chủ động thiết lập các cam kết với các đối
tác khác thường là mang tính hai chiều, cam kết này có thể ở dạng một hợp đồng tương lai có điều kiện. Chẳng hạn, một ngân hàng thỏa thuận với một tổ chức tín dụng khác khi ngân hàng cần vốn
hoặc lâm vào một tình trạng cụ thể nào đó, tổ chức tín dụng đó phải cấp cho ngân hàng một lượng tín dụng nhất định với một mức lãi suất có thể được xác định trước hoặc tùy thuộc vào tình trạng
thị trường. Với một cam kết như vậy, khả năng đảm bảo nguồn vốn của các ngân hàng chắc chắn sẽ cao hơn.
Các ngân hàng phải tổng hợp, báo cáo, Ngân hàng nhà nước tình hình cho vay và đi vay với các tổ chức tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Ngoài ra, khi một ngân hàng thỏa
mãn các điều kiện mà pháp luật quy định thì có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng nước ngồi.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, các nghiệp vu vay vốn giữa các tổ chức tín dụng ngày càng đa dạng và phong phú hơn, các ngân hàng đang tận dụng tối đa những ích
lợi của thi trường tiền tệ để tìm kiếm nguồn vốn khả dụng. Với những nghiệp vụ mới này, vấn đề vay vốn giữa các tổ chức tín dụng khơng đơn thuần dựng lại ở mục đích đảm bảo khả năng thanh
tốn hay an tồn trong hoạt động ngân hàng như trước nữa. Dưới đây là một số nghiệp vụ cụ thể:
 Vay ngắn hạn dự trữ tại ngân hàng trung ương.
Để chuẩn bị cho các hoạt động thanh toán bù trừ và chuyển nhượng lẫn nhau, kể cả quy định dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương áp đặt, tất cả các ngân hàng thương mại đều phải kí gởi
những khoản tiền mặt tại kho của ngân hàng trung ương, khoản dự trữ này thường khơng sinh lời. Trong q trình hoạt động của mình, có lúc ngân hàng thương mại gặp những tình huống thiếu hụt
dự trữ hoặc quá kẹt tiền mặt, đây là điều khá thường xuyên. Trong khi đó, có những ngân hàng thừa dự trữ. Để đảm bảo dự trữ theo quy trình của ngân hàng trung ương, các ngân hàng cho vay lẫn
nhau để bù đắp thiếu hụt này, thủ tục cho vay được tiến hành thường qua kí phát hoặc điện tín. Trong vòng vài phát sau, ngân hàng thừa dự trữ trong ngày hơm đó sẽ viết séc hoặc gửi điện tín đến
chi nhánh ngân hàng trung ương tại địa phương , yêu cầu chuyển một phần tiền từ dự trữ của ngân
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
hàng mình qua cho dự trữ của ngân hàng xin vay. Việc cho vay qua vay lại như thế này diễn ra thường ngày trong hệ thống các ngân hàng thương mại, tuy nhiên các khoản nợ này thường rất
ngắn, thường chỉ là một vài ngày.

Chiết khấu giấy tờ có giá: thường khi thiếu nguồn vốn thanh tốn tức thời, các ngân hàng thương mại thường tìm sự cứu cánh của mình trên thị trường tiền tệ, họ bán các chứng khốn mà
mình đang nắm giữ cho các tổ chức tín dụng khác để giải quyết nhu cầu về tiền mặt. như đã được đề cập ở trên, các giấy tờ có giá ln được xem là một hình thức của tiền tệ và khá dễ dàng chuyển
hóa thành tiền mặt. các hợp đồng này có thể là hợp đồng mua bán đứt đoạn hoặc hợp đồng mua bán có cam kết mua lại trong một khoản thời gian được thỏa thuận trước.

Cầm cố giấy tờ có giá: đây thực tế là hợp đồng vay tiền trong đó cầm cố giấy tờ có giá là một hình thức bảo đảm.
Như đã được trình bày ở trên, nguồn vốn này thường chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại nhưng nó đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự an
tồn và hoạt động bình thường của các ngân hàng, có thể ví như “kênh bảo hiểm”. Các ngân hàng nên chỉ xem nó là cứu cánh mang tính tạm thời và tuyệt đối khơng lệ thuộc vào nó, chính vì vậy,
nguồn vốn này chỉ nên được sử dụng để đáp ứng những mục tiêu thanh tốn mang tính tức thời, tức ngân hàng khơng có khả năng dự tính được khả năng phát sinh của nó. Vì thực tế, nguồn vốn này
thường có chi phí khá cao, mức lãi suất lại thường vô cùng nhạy cảm với diễn biến của lãi suất thị trường. Tuy nhiên, nhìn chung tính ưu điểm của nguồn vốn này là nó có độ ổn định cao hơn nhiều
so với nguồn vốn huy động dĩ nhiên nếu ngân hàng có một kế hoạch tài chính rõ ràng, có khả năng đáp ứng tức thời, với số lượng lớn và thời hạn rất ngắn ngày, tuần. Xét từ phía chính sách
tiền tệ quốc gia, với phương thức này, không làm thay đổi lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế, chính vì vậy, sẽ khơng ảnh hưởng đến việc điều chỉnh chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.
b
Vay vốn của Ngân hàng nhà nước.
Ngân hàng trung ương là nơi phát hành tiền, là nơi thực thi và điều hành chính sách tín dụng quốc gia và là ngân hàng của các ngân hàng. Chính vì vậy, khi các ngân hàng thương mại lâm vào
tình trạng khó khăn về tài chính, ngân hàng trung ương trở thành cứu cánh cuối cùng. Thông thường tất cả các ngân hàng thương mại hay có thể gọi là ngân hàng trung gian trong mối quan hệ
tương quan với ngân hàng trung ương và một số tổ chức tài chính khác được hưởng quyền vay tiền tại ngân hàng trung ương trong những tình huống thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt vốn. cho dù ngân
hàng trung ương áp dụng mức lãi suất chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao hay thấp như thế nào đi nữa, nó vẫn phải cho các ngân hàng trung gian vay khi họ kẹt thanh khoản để tránh những khủng
hoảng tài chính xảy ra cho hệ thống.
Về phía ngân hàng trung gian, vay mượn tại ngân hàng trung ương là một nghiệp vụ hết sức tiện lợi vào mỗi khi nó hạ lãi suất chiết khấu trong chính sách cung ứng tiền nới lỏng để kích thích
cho vay đầu tư. Những lúc đó, tiền trở nên dồi dào. Trường hợp khơng may là khi ngân hàng trung
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
gian đến vay giữa khi ngân hàng trung ương khơng muốn khuyến khích sự bành trướng tín dụng, hoặc thậm chí nó đang có chính sách thắt chặc cung tiền để chống lạm phát hay vì mục tiêu già
khác. Lúc đó lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn được đưa lên cao và với những khoản lỗ trông thấy khi vay vốn của ngân hàng trung ương, các ngân hàng chỉ miễn cưỡng vay trong những tình
huống thật sự ngặt nghèo và cần thanh toán những khoản nợ tức thời. Dù vay ít hay nhiều, vay từ ngân hàng trung ương vẫn là một khoản mục hiển nhiên trong tài sản nợ của các ngân hàng thương
mại. thời gian vay ngắn hay dài, hiệu quả của tiền vay cao hay thấp phụ thuộc chính vào tương quan giữa lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng trung ương và lãi suất cho vay của
ngân hàng thương mại, mức tiền mà ngân hàng thương mại muốn vay, và khả năng quản trị nguồn vốn của ngân hàng thương mại đó.
Về phía ngân hàng trung ương, tái cấp vốn là một trong những nghệp vụ quan trọng của nó nhằm thực hiện chính sách tiền tệ của mình. Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, ngân
hàng trung ương luôn là chủ nợ của các ngân hàng. Với vai trò là chủ nợ, ngân hàng trung ương dễ dàng điều kiển và giám sát hệ thống ngân hàng trung gian. Với nhiệm vụ này, nó dễ dàng kiểm sốt
lượng cung tiền trong lưu thơng. Một vấn đề khác cũng đóng vai trò chủ đạo đối với khả năng điều tiết của ngân hàng trung ương là việc ngân hàng trung ương chỉ được phép cho các ngân hàng
thương mại vay ngắn hạn. Đây là một vấn đề mang tính ngun tắc, vì chỉ có vậy ngân hàng trung ương mới có thể phản ứng nhanh trước những rối loạn có thể xay ra trong hệ thống tiền tệ bằng
cách thay đổi chi phí tái cấp vốn. Hơn nữa, ngân hàng thương mại là các ngân hàng sống bằng nghiệp vụ cho vay, nếu ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại vay vốn dài hạn, các
ngân hàng thương mại có thể lợi dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng, đó là mục tiêu mà ngân hàng trung ương khơng hướng đến. Hơn nữa nếu ngân hàng trung ương có những khoản nợ phải đòi dài
hạn, thì khác nào họ tự chôn vùi tiềm năng điều tiết của họ và thúc đẩy những bất ổn tiềm tàng trong hệ thống ngân hàng mà nó quản lí. Do vậy, tiền đề đối với một hệ thống ngân hàng hai cấp có
hiệu lực là thiết lập một cơ chế cạnh tranh của các ngân hàng trung gian, đặc biệt là trong việc huy động nguồn vốn.
Ngân hàng thương mại có thể vay vốn của các ngân hàng trung ương thông qua các công cụ như: tái cấp vốn tái chiết khấu hoặc chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, cầm
cố, thế chấp hay ứng trước có bảo đảm nhằm duy trì khả năng thanh tốn
25
. Cũng có tính chất tương tự như nguồn vốn từ việc vay vốn của các tổ chức tín dụng khác, đây
là nguồn vốn có thể huy động với số lượng lớn, đáp ứng nhu cầu tức thời của hoạt động các ngân hàng thương mại, mang tính cứu cánh, chi phí huy động thường cao, thường chỉ được sử dụng
trong những hồn cảnh thật sự khó khăn. Và ngun tắc cơ bản là tuyệt đối không được lạm dụng
25
Thế chấp khác với chiết khấu ở hai điểm cơ bản: - Trong thế chấp chủ nợ không bán phiếu nợ cho ngân hàng, mà chỉ đem gởi phiếu ấy làm vật bảo đảm cho việc vay
tiền. Khi phiếu nợ đáo hạn, đích thân chủ nợ phải thâu hồi số nợ. Trong kĩ thuật chiết khấu, có sự chuyển quyền sở hữu trên món nợ ghi trong thương phiếu từ người chủ nợ sang ngân hàng.
- Thời hạn thế chấp thường rất ngắn, có khi khơng q một tuần. Kĩ thuật này thích hợp cho ngân hàng nào chỉ vay trong một vài ngày, như cuối tháng, cuối năm, những ngày đặc biệt,…
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
nhằm mục đích cấp tín dụng vì mục tiêu lợi nhuận. Nhưng khác với phương thức huy động vốn từ việc vay vốn của các tổ chức tín dụng, việc vay vốn từ ngân hàng trung ương sẽ làm thay đổi cơ số
tiền tệ trong nền kinh tế, chính vì vậy, ngân hàng trung ương phải luôn cân nhắc kĩ càng khi thực hiện nghiệp vụ này.
Ngân hàng trung ương là ngân hàng không bao giờ thiếu tiền, không bao giào lâm vào tình trạng mất khả năng thanh tốn vì thực tế, nếu thiếu nó chỉ mất vài giờ để in tiền, rất hợp lí khi
ngân hàng này được xem là cứu cánh cho vay cuối cũng của các ngân hàng thương mại.
Kết luận: trên đây là những vấn đề khái quát nhất về các hình thức huy động vốn của các ngân hàng thương mại. cùng là hoạt động huy động vốn, cùng phục vụ cho hoạt động bình thường của
các ngân hàng thương mại, tuy nhiên, các hình thức huy động vốn hướng đến hai nhóm mục tiêu khác nhau, mục tiêu kinh tế và mục tiêu an toàn. Như đã được nói đến trong phần lời nói đầu, do
tính hạn chế của đề tài cũng như mục đích của tác giả khi nghiên cứu đề tài này, những phân tích chuyên sâu của tác giả trong đề tài này chỉ hướng đến nhóm các hoạt động huy động vốn phục vụ
cho mực tiêu lợi nhuận tức hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá.
1.2. Những vấn đề pháp lí về hoạt động huy động vốn. 1.2.1.Bản chất pháp lí của hoạt động huy động vốn.
Ở phần 1 chương này chúng ta đã tìm hiểu những vấn đề chung nhất, mang tính bản chất thực
bản chất kinh tế, điều kiện nó phát sinh và tồn tại của các hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại, trong phần này, chúng ta sẽ tiến hành xem xét các vấn đề này dưới góc độ pháp lí, làm
cơ sở lí luận cho những phân tích sẽ được trình bày ở chương 2.
1.2.1.1.
Hoạt động nhận tiền gửi.
Chúng ta sẽ bắt đầu bằng nghiệp vụ cơ bản, sơ khai nhất của các ngân hàng thương mại là nhận tiền gửi. Hoạt động nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ
thanh toán là nội dung thường xuyên của hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ của các ngân hàng, các hoạt động này nằm trong mối qua hệ liên hoàn, ràng buộc lẫn nhau, và có thể nói khơng
thể tồn tại độc lập, cái này làm tiền đề cho cái kia tồn tại, nó là các giai đoạn của q trình chu chuyển dòng tiền, tạo vốn và cấp vốn. Vì thế, khi nói đến hoạt động ngân hàng, người ta nói đến
hai hoạt động quan trọng, nhận tiền gửi đầu vào và cho vay đầu ra, cũng giống như đối với một doanh nghiệp mà hàng hóa của doanh nghiệp “ngân hàng” là “tiền”. Khi ngân hàng cấp tín dụng
cho khách hàng, người ta vẫn đương nhiên hiểu, cấp tín dụng ở đây đồng nghĩa với hoạt động cho vay, hay nói cách khác, bản chất pháp lí của hoạt động đó là một hợp đồng cho vay cụ thể là hợp
đồng cho vay tài sản theo Điều 471 Bộ luật Dân sự 2005 với đối tượng hợp đồng là tiền
26
. Tuy nhiên, khi nói đến hoạt động nhận tiền gửi thì ít ai nghĩ đến bản chất pháp lí của hoạt động này là
gì, nó thuộc loại nào trong các loại hình giao dịch, loại hình hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự.
26
Xem thêm “Cần sử đổi quy định về lãi suất vay trong Bộ luật Dân sự 2005”, Nguyễn Phương Linh, Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam, trên website: httpthongtinphapluatdansu.wordpress.com2008010823145
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
Sự khơng rõ ràng này ngun nhân khởi điểm có lẻ là do sự thay đổi về bản chất nội tại của quan hệ này qua quá trình phát triển kéo dài cùng với sự ra đời và thay đổi vai trò của các ngân
hàng thương mại. Trong giai đoạn đầu, ngân hàng đơn thuần là nơi nhận và gìn giữ các tài sản có giá của khách hàng trong đó có tiền, hay các hình thái đầu tiên của tiền như kim loại q, vàng,
…. Có thể nhận thấy, hình thái đầu tiên của hoạt động này là hợp đồng gửi giữ, tiền lúc này đối với ngân hàng cũng giống như các vật có giá khơng có khả năng chuyển đổi khác, vì thế, “nhận tiền
gửi” là một cách gọi đối với nghiệp vụ này của ngân hàng cũng giống như “nhận gửi các vật có giá khác”. Qua quá trình phát triển, các ngân hàng cũng nhận tiền gửi nhưng khơng có trách nhiệm
hồn trả đúng đồng tiền đặc định đã nhận, khơng thu phí giữ hộ tài sản mà ngân hàng còn phải trả lãi hoặc cung cấp các tiện ích cho khách hàng, đổi lại ngân hàng được quyền khai thác công dụng
tài sản đang chiếm hữu, tức sử dụng tiền gửi. Như vậy có thể thấy, bản chất pháp lí của hoạt động này đã thay đổi, tuy vậy, có lẽ theo thói quen người ta vẫn gọi nó với cái tên quen thuộc: “nhận tiền
gửi”. Như vậy, việc nhận tiền gửi với nội dung trên không thuần túy là giao dịch gửi – giữ tài sản như trong quá khứ. Vậy nó là gì?
Khi gửi tiền vào ngân hàng để nhận được một khoản lãi suất nhất định, ít ai cho rằng mình đang cho ngân hàng vay tiền, nhưng với những biều hiện cơ bản nhất của hoạt động này, nó gần với một
hợp đồng vay vốn nhất mà trong đó khách hàng là chủ nợ và ngân hàng là con nợ. Hãy cùng xem xét một vài đặc trưng và khác biệt của 2 loại hợp đồng này để tìm hiều bản chất pháp lí của hoạt
động nhận tiền gửi của các ngân hàng.
Về cơ bản, hai loại giao dịch này đều là hợp đồng, tức phát sinh trên thỏa thuận của hai bên chủ thể, và kèm theo đó là những quyền và nghĩa vụ tương ứng của hai bên
27
. Còn sự khác nhau giữa hợp đồng gửi giữ tài sản và hợp đồng vay tài sản chính là sự khác nhau về quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể và quan trọng nhất là hệ quả pháp lí của giao dịch. Cụ thể, theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005:

Hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng, còn bên gửi
phải trả tiền cơng cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền cơng.
28

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số
lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
29
Căn cứ vào các định nghĩa trên và các quy định cụ thể khác của Bộ luật Dân sự về hai loại hợp đồng này, có thể nhận định:
Đầu tiên, việc gửi giữ tài sản chỉ là sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản từ bên gửi sang bên giữ, tài sản gửi giữ vẫn thuộc quyền sở hữu của bên gửi, bên giữ khơng tự có quyền sử dụng, định
đoạt tài sản nhận giữ và sự chuyển giao trên nhằm đến nội dụng bên giữ có trách nhiệm nhận tài
27
Căn cứ vào Điều 388 Bộ Luật Dân Sự: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
28
Điều 559 Bộ Luật Dân Sự.
29
Điều 471 Bộ Luật Dân Sự.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
sản để bảo quản và có nghĩa vụ trả lại chính tài sản ấy, được thu tiền cơng, tức phí giữ hộ tài sản, trừ khi có thoả thuận khơng thu phí.
Đồng thời, việc vay tài sản khơng đặt ra vấn đề trách nhiệm hoàn trả đúng tài sản đặc định đã nhận mà bên vay chỉ phải trả tài sản cùng chủng loại, cùng số lượng, chất lượng và có nghĩa vụ trả
lãi theo thoả thuận căn cứ vào định nghã được nêu trên trong thời hạn vay bên vay là chủ sở hữu tài sản vay nên được khai thác công dụng của tài sản để sinh lợi
30
nghĩa là trong giao dịch vay tài sản bên cho vay đã có sự chuyển giao cả 3 quyền năng chủ sở hữu chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
và ngay lập tức trở thành chủ nợ của bên vay
31
. Đối với các ngân hàng ngày nay, tiền gửi chính là nguồn sống chính của các ngân hàng, chính
vì vậy, khi tiếp nhận tiền gửi, ngân hàng thương mại và khách hàng đã mặc nhiên thỏa thuận nội dung thông qua hợp đồng, ngân hàng thương mại được tòan quyền sử dụng tiền gửi để đầu tư cho
các mục đích kinh doanh hợp pháp của mình với điều kiện có hồn trả phí theo phương thức thỏa thuận lãi, dịch vụ khác,…, số dư trên tài khoản tiền gửi là khoản nợ phải trả của ngân hàng đối
với khách hàng
32
. Rõ ràng, đối với ngân hàng quyền sử dụng tiền gửi để đầu tư là một quyền năng của quyền sở hữu được xác lập theo hợp đồng nhận tiền gửi, hay nói cách khác, xuất phát từ hợp
đồng nhận tiền gửi ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận để chuyển giao, xác lập cho nhau quyền sở hữu cho ngân hàng và quyền chủ nợ cho khách hàng. Thậm chí đối với trường hợp mở tài
khoản tiền gửi thanh tốn hoặc tài khoản tiết kiệm khơng kỳ hạn, mặc dù khách hàng được quyền yêu cầu ngân hàng thực hiện thanh toán hoặc trả lại tiền tại bất kỳ thời điểm nào mà khơng bị chế
tài thì điều đó cũng khơng phải là dấu hiệu để loại trừ quyền sở hữu của ngân hàng trong trường hợp này
33
. Về tính chất, hành vi phát lệnh thanh tốn hay rút tiền khỏi ngân hàng chẳng qua là việc chủ nợ đang thực hiện quyền thanh tốn, quyền đòi nợ đã được dự liệu theo điều kiện đã thoả thuận
trong hợp đồng mở tài khoản với ngân hàng là sự xác lập lại quyền sở hữu cho mình và khi tất tốn tài khoản thì quyền chủ nợ sẽ tự mất đi. Mặt khác, theo cơ cấu sử dụng tiền gửi của mình ngân hàng
ln dự liệu nguồn hồn trả thay thế và hơn nữa các quyền trên của khách hàng không phải là quyền đặc trưng, không phải là thuộc tính riêng chỉ thuộc về quyền định đoạt của chủ sở hữu mà rõ
ràng nó còn có thể thuộc về quyền của chủ nợ tuỳ theo loại hợp đồng gửi tiền đã xác lập.
Tuy nhiên, vấn đề chính quy định tính chất của quan hệ này chính là đối tượng của nó – tiền tệ, nó là vật cùng loại, và đóng vai trò đại diện cho giá trị được thiết lập bởi quyền lực nhà nước. Đồng
tiền cụ thể là vật đặc định, song trong quan hệ gửi tiền, các bên trong quan hệ rõ ràng chỉ quan tâm đến giá trị của đồng tiền, số lượng tiền sẽ thu về, giá trị và tiện ích của dịch vụ được cung ứng, hay
30
Điều 472 Bộ Luật Dân Sự.
31
Cần lưu ý rằng quyền chủ nợ là một loại quyền tài sản và trong vị trí ấy chủ nợ sẽ có một số quyền cụ thể tương tự quyền của chủ sở hữu như: Chuyển nhượng, để lại thừa kế, dùng bảo đảm nghĩa vụ dân sự… Nhưng bởi đối tượng
của quyền là khác nhau nên khơng bao giờ có thể xem chúng là một. Và một quyền năng quan trọng khác của chủ nợ là quyền đòi lại tài sản khi con nợ vi phạm mục đich vay Điều 475
Bộ luật Dân sự
32
Trong các thuật ngữ chuyên ngành kinh tế vẫn thường ví “vốn tư bản” hay “tiền tệ” là một loại “hàng hóa đặc biệt” và chính vì vậy thường ví lãi suất là giá cả của tín dụng, cụ thể là giá cả của việc mau và bán quyền sử dụng vốn hay
nói cách khác, lãi suất chính là giá cả của tiền. cách hiểu này thực chất xuất phát từ bản chất kinh tế của hoạt động huy động vốn và từ những đặc tính khác biệt của “tiền tệ”, thực chất khơng có gì mâu thuẩn với bản chất pháp lí của
hoạt động này đang được đề cập ở trên.
33
Tuy nhiên, đây cũng là một quyền năng của chủ nợ được Bộ luật Dân sự quy định. Điều 477
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
nói cách khác hành vi gửi tiền là sự lựa chọn về một phương thức đầu tư của khách hàng và họ phải chấp thuận đổi lấy nó bằng việc trao quyền sở hữu tiền gửi cho ngân hàng trong một thời hạn nhất
định. Như vậy, việc ngân hàng thương mại mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng đã phản ánh rõ bản chất là hành vi vay tiền của ngân hàng với cam kết bảo tồn và có sinh lợi cho người gửi tiền.
Khi tài khoản tiền gửi được thiết lập, hợp đồng vay tài sản đã hình thành, quyền và nghĩa vụ pháp lý của 2 bên đã phát sinh, theo đó: ngân hàng thương mại đã tiếp nhận sự chuyển giao quyền sở hữu
và trở thành chủ sở hữu đối với số tiền nhận gửi từ bên gửi Điều 472 BLDS nên có quyền định đoạt nguồn tiền huy động đó nhằm thoả mãn các mục tiêu kinh doanh của mình và có nghĩa vụ bảo
vệ quyền lợi của người gửi tiền Điều 17 Luật các TCTD bằng việc bảo toàn tiền gửi và hoàn trả gốc, lãi theo thoả thuận, hoặc cung cấp các dịch vụ các cam kết, nếu có theo quy chế nhận tiền gửi
mà ngân hàng thương mại đã công bố công khai và theo hợp đồng gửi tiền cụ thể; với khách hàng, họ có quyền của một chủ nợ đòi nợ, u cầu thanh tốn… theo loại hình tài khoản do là chủ tài
khoản gửi tiền, tức là chủ nợ của ngân hàng, và có nghĩa vụ tơn trọng quyền sở hữu của ngân hàng đối với số tiền vốn đã kí thác cho ngân hàng.
Hệ quả của những kết luận trên chính là: Thứ nhất, về quyền sở hữu của ngân hàng đối với số tiền gửi: Khi hợp đồng nhận tiền gửi là
hợp đồng vay tiền – là một hợp đồng song vụ, thì hiển nhiên đã thừa nhận sự xác lập quyền sở hữu của ngân hàng đối với số tiền vay, kèm theo đó là xác lập quyền chủ nợ của người gửi tiền đối với
ngân hàng và xác lập các nghĩa vụ đối ứng của mỗi bên trong quan hệ cho vay – vay, từ đó giúp định hình rõ ràng về các nhóm quyền và nghĩa vụ khác liên quan của mỗi chủ thể sẽ chi phối trong
suốt thời gian duy trì hiệu lực của thoả thuận vay tiền. chẳng hạn: khi ngân hàng được giao quyền sở hữu thì đương nhiên có quyền định đoạt khoản tiền nhận gửi theo mục tiêu kinh doanh của mình
và tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư, có quyền từ chối u cầu đòi tiền bất hợp lý của khách hàng hoặc chấp nhận và buộc chịu chế tài theo hợp đồng….
Thứ hai, về quyền chủ nợ của người gửi tiền: đầu tiên, cần nhất quán rằng chứng thư gửi tiền
là bằng chứng xác định tư cách chủ nợ theo phạm vi số tiền gửi chứ không phải là việc xác định quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tiền gửi, vi phạm điều này sẽ gây ngộ nhận: khi gửi tiền
khách hàng không trao quyền sở hữu cho ngân hàng đồng nghĩa: không xem hợp đồng gửi tiền là hợp đồng vay, hoặc vơ tình đồng nhất quyền sở hữu tài sản với quyền chủ nợ trái với các chế định
của pháp luật dân sự. Do bản chất là hợp đồng vay nợ, khách hàng gửi tiền là bên cho vay và “bên vay ngân hàng trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó” Điều 472
BLDS, khách hàng được nhận quyền chủ nợ với bằng chứng xác lập tư cách chủ nợ là chứng thư gửi tiền của ngân hàng phát hành thẻ tiết kiệm, phiếu nhận nợ, sec…. Với tư cách chủ nợ, khách
hàng khơng có quyền can dự vào việc sử dụng đồng tiền tuy nhiên cũng có một số hạn chế đã gửi vào ngân hàng, nhưng có thể dùng quyền chủ nợ để tham gia một số giao dịch dân sự khác theo thể
loại của hợp đồng tiền gửi, được đòi nợ hoặc nhận tiện ích theo thoả thuận với ngân hàng.
Nhận thức rõ ràng những vấn đề trên sẽ giúp cho công tác xây dựng văn bản pháp luật và thi hành pháp luật trong thực tiễn chính xác và tránh những sai phạm không cần thiết.

1.2.1.2. Hoạt động phát hành giấy tờ có giá.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

×