1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Hoạt động phát hành giấy tờ có giá.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (450.55 KB, 58 trang )


nói cách khác hành vi gửi tiền là sự lựa chọn về một phương thức đầu tư của khách hàng và họ phải chấp thuận đổi lấy nó bằng việc trao quyền sở hữu tiền gửi cho ngân hàng trong một thời hạn nhất
định. Như vậy, việc ngân hàng thương mại mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng đã phản ánh rõ bản chất là hành vi vay tiền của ngân hàng với cam kết bảo tồn và có sinh lợi cho người gửi tiền.
Khi tài khoản tiền gửi được thiết lập, hợp đồng vay tài sản đã hình thành, quyền và nghĩa vụ pháp lý của 2 bên đã phát sinh, theo đó: ngân hàng thương mại đã tiếp nhận sự chuyển giao quyền sở hữu
và trở thành chủ sở hữu đối với số tiền nhận gửi từ bên gửi Điều 472 BLDS nên có quyền định đoạt nguồn tiền huy động đó nhằm thoả mãn các mục tiêu kinh doanh của mình và có nghĩa vụ bảo
vệ quyền lợi của người gửi tiền Điều 17 Luật các TCTD bằng việc bảo toàn tiền gửi và hoàn trả gốc, lãi theo thoả thuận, hoặc cung cấp các dịch vụ các cam kết, nếu có theo quy chế nhận tiền gửi
mà ngân hàng thương mại đã công bố công khai và theo hợp đồng gửi tiền cụ thể; với khách hàng, họ có quyền của một chủ nợ đòi nợ, u cầu thanh tốn… theo loại hình tài khoản do là chủ tài
khoản gửi tiền, tức là chủ nợ của ngân hàng, và có nghĩa vụ tơn trọng quyền sở hữu của ngân hàng đối với số tiền vốn đã kí thác cho ngân hàng.
Hệ quả của những kết luận trên chính là: Thứ nhất, về quyền sở hữu của ngân hàng đối với số tiền gửi: Khi hợp đồng nhận tiền gửi là
hợp đồng vay tiền – là một hợp đồng song vụ, thì hiển nhiên đã thừa nhận sự xác lập quyền sở hữu của ngân hàng đối với số tiền vay, kèm theo đó là xác lập quyền chủ nợ của người gửi tiền đối với
ngân hàng và xác lập các nghĩa vụ đối ứng của mỗi bên trong quan hệ cho vay – vay, từ đó giúp định hình rõ ràng về các nhóm quyền và nghĩa vụ khác liên quan của mỗi chủ thể sẽ chi phối trong
suốt thời gian duy trì hiệu lực của thoả thuận vay tiền. chẳng hạn: khi ngân hàng được giao quyền sở hữu thì đương nhiên có quyền định đoạt khoản tiền nhận gửi theo mục tiêu kinh doanh của mình
và tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư, có quyền từ chối u cầu đòi tiền bất hợp lý của khách hàng hoặc chấp nhận và buộc chịu chế tài theo hợp đồng….
Thứ hai, về quyền chủ nợ của người gửi tiền: đầu tiên, cần nhất quán rằng chứng thư gửi tiền
là bằng chứng xác định tư cách chủ nợ theo phạm vi số tiền gửi chứ không phải là việc xác định quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tiền gửi, vi phạm điều này sẽ gây ngộ nhận: khi gửi tiền
khách hàng không trao quyền sở hữu cho ngân hàng đồng nghĩa: không xem hợp đồng gửi tiền là hợp đồng vay, hoặc vơ tình đồng nhất quyền sở hữu tài sản với quyền chủ nợ trái với các chế định
của pháp luật dân sự. Do bản chất là hợp đồng vay nợ, khách hàng gửi tiền là bên cho vay và “bên vay ngân hàng trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó” Điều 472
BLDS, khách hàng được nhận quyền chủ nợ với bằng chứng xác lập tư cách chủ nợ là chứng thư gửi tiền của ngân hàng phát hành thẻ tiết kiệm, phiếu nhận nợ, sec…. Với tư cách chủ nợ, khách
hàng khơng có quyền can dự vào việc sử dụng đồng tiền tuy nhiên cũng có một số hạn chế đã gửi vào ngân hàng, nhưng có thể dùng quyền chủ nợ để tham gia một số giao dịch dân sự khác theo thể
loại của hợp đồng tiền gửi, được đòi nợ hoặc nhận tiện ích theo thoả thuận với ngân hàng.
Nhận thức rõ ràng những vấn đề trên sẽ giúp cho công tác xây dựng văn bản pháp luật và thi hành pháp luật trong thực tiễn chính xác và tránh những sai phạm không cần thiết.

1.2.1.2. Hoạt động phát hành giấy tờ có giá.


Loại hình huy động vốn thứ hai được xem xét ở đây là hoạt động phát hành giấy tờ có giá của các ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn hiện nay, khi thị trường chứng khoán phát triển, hoạt
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
động này đã ngày càng trở nên đa dạng hơn rất nhiều. Các chủ thể được phép phát hành cũng được mở rộng ở hầu hết các quốc gia.
Giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ hoặc bút tốn ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định tổ chức, cá nhân xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể
khác. Giấy tờ có giá có ba thuộc tính:

Thứ nhất, xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định;

Thứ hai, trị giá được bằng tiền;

Thứ ba, có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong giao lưu dân sự. Đối với hoạt động huy động vốn của các ngân hàng, khái niệm giấy tờ có giá được hiểu theo
nghĩa rất hẹp, chỉ bao gồm các phiếu nợ do ngân hàng phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút tốn ghi sổ, trong đó xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu phiếu nợ và nghĩa vụ trả một số tiền nhất
định của ngân hàng phát hành vào một thời điểm xác định ghi trên phiếu nợ.
Về phương diện pháp lý, giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng được hiểu là hành vi pháp lý theo đó tổ chức tín dụng cam kết vay tiền của khách hàng là tổ chức, cá nhân trong
một thời hạn nhất định với điều kiện sẽ hoàn trả cho khách hàng số tiền ghi trên chứng thư nhận nợ do tổ chức tín dụng phát hành.
Giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là, về bản chất pháp lý, việc phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ra cơng chúng
thực chất là một hành vi vay tiền của khách hàng chứ không phải là hành vi “bán” giấy tờ có giá cho khách hàng. Sở dĩ có thể khẳng định như vậy là bởi vì, trong quan hệ giao dịch này, tổ chức tín
dụng khơng hề có quyền sở hữu đối với các giấy tờ có giá mà nó dự định phát hành, nên khơng thể đóng vai trò là người bán. Mặt khác, trước khi các giấy tờ có giá được tổ chức tín dụng chuyển giao
cho khách hàng sở hữu như một chứng thư xác nhận quyền chủ nợ và tổ chức tín dụng cũng chưa nhận được nguồn vốn tiền tệ do khách hàng chuyển giao thì các chứng thư này thực chất chưa hề có
giá trị thực tế, nghĩa là khơng thể hốn đổi chúng thành tiền hay các tài sản khác có giá trị tương đương với số tiền ghi trên mệnh giá của chứng thư. Điều đó cho thấy, chỉ khi nào khách hàng chấp
nhận trao đổi chứng thư đó với tổ chức tín dụng bằng số tiền tương đương mệnh giá của chứng thư thì khi đó, chứng thư này mới thực sự là có giá trị và mới phản ánh đúng tên gọi của nó là “giấy tờ
có giá” hay “tư bản giả”.
Hai là, về đối tượng của giao dịch, mặc dù tên gọi của giao dịch là “phát hành các giấy tờ có
giá” nhưng đối tượng của giao dịch này không phải là các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành, mà chính là các khoản tiền vốn do khách hàng đồng ý chuyển quyền sở hữu cho tổ chức tín
dụng với điều kiện tổ chức tín dụng phải hồn trả cho khách hàng sau một thời hạn nhất định, kèm theo khoản lãi do các bên thoả thuận. Về lý thuyết, tuy không phải là đối tượng của giao dịch
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
nhưng các chứng thư này được coi là hình thức pháp lý của giao dịch, đồng thời là chứng cứ chứng minh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ giao dịch. Mặt khác, xét về phương diện
kinh tế, các chứng thư này cũng được coi là một loại “tiền ngân hàng” nhưng không phải là tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành, mà là tiền được tạo ra bởi tổ chức tín dụng trong q trình huy
động vốn, thơng qua chức năng “tạo tiền” của tổ chức tín dụng. Trên thực tế, các chứng thư nhận nợ do tổ chức tín dụng phát hành ra cơng chúng có thể là chứng khốn nợ ngắn hạn – có thời hạn
thanh tốn dưới 1 năm, ví dụ chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn; kỳ phiếu ngân hàng hay tín phiếu của tổ chức tín dụng, hoặc là chứng khốn nợ dài hạn có thời hạn thanh tốn từ 1 năm trở lên, ví dụ
chứng thư tiền gửi dài hạn hoặc trái phiếu ngân hàng…. Sự phân biệt giữa hai loại chứng thư nhận nợ này chủ yếu nhằm xác định cơ chế phát hành và lưu thông chúng như thế nào sau khi đã được
phát hành trên thị trường bởi tổ chức tín dụng phát hành và bán lại cho ai, ở đâu và bằng cách nào?.
Ba là, về tư cách pháp lý, khi phát hành các giấy tờ có giá để vay nợ của khách hàng, tổ chức
tín dụng có tư cách là người vay hay người mắc nợ, còn khách hàng “mua” giấy tờ có giá có tư cách là người cho vay hay chủ nợ của tổ chức tín dụng. Mặc dù có tư cách là người cho vay nhưng
do giao dịch này được tổ chức tín dụng và khách hàng xác lập, thực hiện thông qua một hợp đồng cho vay có thời hạn xác định nên về nguyên tắc, khách hàng cho vay không thể rút vốn về trước kỳ
hạn như trong trường hợp họ gửi tiền có kỳ hạn tại tổ chức tín dụng bằng cách chịu lãi suất phạt với tổ chức tín dụng nhận tiền gửi. Nếu muốn thu hồi vốn về trước kỳ hạn, cách duy nhất là người
sở hữu giấy tờ có giá bên cho vay ký hợp đồng chuyển nhượng chứng thư đó cho người khác chẳng hạn, có thể “bán” cho ngân hàng thương mại theo phương thức chiết khấu hoặc bán cho các
tổ chức, cá nhân khác theo phương thức thông thường trên thị trường tiền tệ hoặc thị trường chứng khoán.
Những đặc trưng pháp lý trên đây cho ta thấy, việc phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng là một loại hình giao dịch huy động vốn khá đặc biệt. Tính chất đặc biệt này còn được phản
ánh cả trong cơ chế hình thành quyền, nghĩa vụ của các bên trong giao dịch phát hành giấy tờ có giá.
Phát hành giấy tờ có giá là hành vi pháp lý trong đó thể hiện ý chí cam kết vay tiền của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Vì thế, trong pháp luật của hầu hết các quốc gia hành vi pháp lý này
cần phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ bao gồm rất nhiều các công đoạn được quy định một cách chi tiết nhằm đảm bảo an tồn tín dụng cho người mua. Trong hoạt động phát hành
giấy tờ có giá, chứng cứ quan trọng nhất thể hiện tập trung ý chí của tổ chức tín dụng trong giao dịch này, chính là các giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành. Mặt khác, vì các chứng thư này đã thể
hiện rõ ràng, đầy đủ ý chí của tổ chức tín dụng muốn vay tiền của khách hàng với số lượng bao nhiêu, trong thời hạn bao lâu và trả lãi như thế nào nên về lý thuyết, có thể coi những chứng thư đó
như là bằng chứng quan trọng nhất về việc tổ chức tín dụng đã đưa ra đề nghị vay tiền. Bản đề nghị này – chứng thư nhận nợ, sau khi đã được công bố phát hành và niêm yết bởi tổ chức tín dụng thì
về ngun tắc, họ khơng thể tự ý rút lại hay thay đổi nội dung bản đề nghị trong thời hạn phát hành
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
chứng thư do pháp luật quy định. Sở dĩ có thể khẳng định như vậy là vì, khi tiến hành các thủ tục phát hành chứng thư, tổ chức tín dụng đã mặc nhiên chấp nhận các quy định của pháp luật về thời
hạn phát hành chứng thư và điều đó có nghĩa rằng: tổ chức tín dụng đã tự mình đưa ra thời hạn trả lời đề nghị cho tất cả các chủ thể khác là người tiếp nhận đề nghị. Trong trường hợp này, có thể coi
bản đề nghị hợp đồng chung như vậy là loại hợp đồng khơng có thương lượng, hay hợp đồng mẫu. Do đó, chỉ khi nào khách hàng thể hiện ý chí chấp nhận bản đề nghị đó một cách vơ điều kiện bằng
hành động chuyển giao cho tổ chức tín dụng quyền sở hữu số tiền ghi trên chứng thư và nhận về mình quyền sở hữu đối với chứng thư được tổ chức tín dụng chuyển giao thì khi đó, ý chí của hai
bên mới có sự thống nhất và hợp đồng vay tiền mới được hình thành, kéo theo hệ quả làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên cam kết.
Trong số các quyền, nghĩa vụ được tạo ra bởi các bên từ giao dịch phát hành giấy tờ có giá thì đối với tổ chức tín dụng, những quyền, nghĩa vụ cơ bản nhất bao gồm: quyền sở hữu đối với khoản
tiền thu được do phát hành giấy tờ có giá và đồng thời cũng có nghĩa vụ hồn trả số tiền này cho khách hàng kèm theo khoản lãi khi giấy tờ có giá đến hạn thanh tốn. Còn đối với khách hàng, họ
được sở hữu giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành và chuyển giao, trong đó xác nhận quyền chủ nợ của khách hàng đối với tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá. Với quyền năng này,
khách hàng có thể chờ đợi đến ngày đáo hạn của giấy tờ có giá để đòi tiền từ tổ chức tín dụng, hoặc nếu muốn thu hồi vốn trước kỳ hạn thì họ có thể “bán” chứng thư đó cho người khác trên thị trường
tiền tệ hoặc thị trường chứng khoán như một loại tài sản.
Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu huy động vốn ngày càng đa dạng, các tổ chức tín dụng đã phát hành nhiều loại giấy tờ có giá trên thị trường với thời hạn, mệnh giá, lãi suất và khả năng chuyển
nhượng khác nhau. Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ các tổ chức tín dụng có thể phát hành chứng thư tiền gửi ngắn hạn CDs với giá trị bề mặt tối thiểu là 100.000 USD, trong khi ở Anh, các tổ chức tín dụng
lại có thể phát hành các trái phiếu ngân hàng có thời hạn hoặc khơng thời hạn có lãi suất thả nổi. Còn ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, các tổ chức tín dụng đã bắt đầu phát hành một số loại
chứng khoán nợ ra cơng chúng như kỳ phiếu ngân hàng có mục đích, trái phiếu tổ chức tín dụng, hay các chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn và dài hạn. Mặc dù có tên gọi khác nhau, nhưng hầu như tất cả
các chứng khoán kể trên được phát hành bởi các tổ chức tín dụng trên thế giới đều có chung bản chất, đó là các chứng khốn nợ trong đó phản ánh việc tổ chức tín dụng mắc nợ người sở hữu
chứng khốn một số tiền nhất định với nghĩa vụ hồn trả cả gốc và lãi, vào một ngày nhất định trong tương lai.
1.2.2.
Khả năng, vai trò điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động huy động vốn của các TCTD.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo những trật tự nhất định. Đó là cơng cụ để nhà nước quản lí xã hội, là cơng cụ hữu hiệu nhất thể
hiện ý chí và quyền lực của nhà nước. Tuy nhiên, nhà nước cũng là một bộ phận của thiết chế xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, chính vì vậy, nó cũng phải tuân theo những quy luật khách quan
của xã hội. Các quan hệ xã hội khá phong phú và đa dạng, mang những đặc tính hồn tồn khác
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
nhau, chính vì vậy phương thức nó vận hành cũng khác nhau. Nhà nước không thể chỉ dựa v ý chí chủ quan của mình để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội mà mình muốn với những phương
thức hoàn toàn giống nhau. Rõ ràng, có những quan hệ xã hội mà nhà nước khơng có khả năng can thiệp vào sự vận hành của nó hoặc nó khơng mang lại bất cứ hiệu quả nào đối với mục tiêu quản lí
xã hội của nhà nước. Cũng có những loại quan hệ nhất thiết phải được điều phối một cách chặt chẽ hoặc nó đảm bảo cho sự tồn tại của chính nhà nước đó. Bên cạnh đó cũng có những quan hệ cần
được nhà nước điều chỉnh ở một chừng mực nhất định, mức độ cụ thể còn phụ thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Lựa chọn sai phương thức hoặc định mức tác động có thể mang đến những hậu quả
hồn tồn trái ngược nhau. Đối với hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng này cũng vậy, chúng cũng là những quan hệ xã hội được các nhà nước rất quan tâm, tuy nhiên, pháp luật có thể
tác động như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất là một vấn đề cần được xem xét một cách cụ thể. Vấn đề này sẽ làm cơ sở lí luận vững chắc cho hoạt động lập pháp của các cơ quan cơng quyền
cũng như việc dánh giá tính hiệu quả, hợp lí của các quy phạm pháp luật được phân tích ở chương hai.
Vậy muốn xác định khả năng, mức độ can thiệp điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động này của nhà nước như thế nào là hợp lí cần xác định đặc trưng của hoạt động huy động vốn của ngân
hàng thương mại và sự tác động của nó đến trật tự vận hành của xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng mà nhà nước mong muốn. Như đã được phân tích khá cụ thể ở trên, hoạt động của các ngân
hàng thương mại là một loại hình kinh doanh khá đặc thù, các ngân hàng thương mại có thể nói là một trong những thiết chế trung tâm của nền kinh tế, sự tồn vong hay hưng thịnh của nó có khả
năng tác động đến tồn bộ nền kinh tế. Khác với các doanh nghiệp thông thường khác, ở mức độ gián tiếp, nó là một cánh tay nối dài của cơ quan quyền lực nhà nước trong việc điều phối sự vận
hành của nền kinh tế. Theo lí luận chung, xét từ góc độ khả năng chịu sự điều chỉnh của pháp luật của các quan hệ xã hội có thể tạm chia thành 3 loại:

Hồn tồn chịu sự điều phối của cơ quan nhà nước chẳng hạn các quan hệ hành chính nhà nước – thường do các cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện;

Nó có thể tự vận hành bằng các quy luật nội tại của nó nhưng nhà nước có thể tác động bằng các phương thức và mức độ thích hợp để hướng nó phát triển theo hướng mà nhà nước mong
muốn;

Các quan hệ luôn vận hành bằng các quy luật nội tại của nó mà nhà nước hồn tồn khơng có khản năng can thiệp.
34
Như đã được phân tích cụ thể ở trên, hoạt động huy đơng vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng và đối với tồn bộ nền kinh tế nói
chung. Hơn nữa, hoạt động này ln tiềm ẩn sự bất ổn và nhiều rủi ro, chính vì vậy nhà nước muốn đảm bảo sự phát triển an tồn, bình ổn của nền kinh tế, sự điều chỉnh của nó là lẻ tất nhiên. Tuy
nhiên, dù các ngân hàng thương mại có là loại hình chủ thể đặc biệt như thế nào thì bản chất khởi thủy và tất yếu của nó cũng là một doanh nghiệp, khơng phải là một cơ quan nhà nước, chính vì
34
Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý, nhà nước quyết định điều chỉnh hoặc không điều chỉnh các quan hệ này không chỉ xuất phát từ đặc trưng của quan hệ đó mà còn xuất phát từ ý chí chủ quan của mình, tức nếu quan hệ đó được điều
chỉnh bởi nhà nước, nó có mang lại lợi ích gì không? Hoặc nếu không được điều chỉnh bởi nhà nước, các quan hệ vận hành tự thân bằng các quan hệ nội tại của nó liệu có ảnh hưởng xấu đến trật tự chung mà nhà nước muốn thiết lập.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
vậy, nó cần có sự độc lập trong hoạt động. Mặt khác, hoạt động huy động vốn vốn dĩ là một hoạt động kinh tế thuộc nền kinh tế thị trường, đặc trưng cơ bản nhất của nó là phải được vận hành theo
đùng các quy luật nội tại của nó quy luật cung cầu,…, những tác động không tuân thủ đúng các quy luật này có thể phá vỡ bản chất kinh tế của hoạt động này, và đều mang lại những hệ quả
không mong muốn đối với nền kinh tế.
35
Căn cứ vào các phân tích trên, có thể kết luận hoạt động huy động vốn nằm ở nhóm thứ hai, nhóm các quan hệ có thể vận hành bằng các quy luật nội tại của mình nhưng nhà nước có thể tác
động bằng các phương thức và mức độ thích hợp để hướng nó phát triển theo hướng mà nhà nước mong muốn.
Vấn đề thứ hai cần được xem xét ở đây là nhà nước có thể can thiệp ở mức độ nào. Theo quan điểm của tác giả, ở nhóm quan hệ thứ hai được nêu ở trên, các quan hệ trong nhóm này cũng có thể
được chia thành hai cấp độ căn cứ vào mức độ điều tiết của nhà nước vào sự vận hành của nó:
Cấp độ thứ nhất: nhà nước chỉ điều chỉnh các quan hệ này ở khía cạnh hình thức pháp lí của
quan hệ. Khái niệm hình thức pháp lí ở đây nên được hiểu là bằng các quy phạm pháp luật mang tính tĩnh tương đối, nhà nước ràng buộc về các biểu hiện bên ngồi của quan hệ như về chủ thể,
hình thức của hoạt động, các phương thức thực hiện, quyền và ngĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ,… có thể nói đây nhà phương thức tác động gián tiếp. Hầu hết các quan hệ trong xã hội
ngày nay được điều chỉnh theo hướng này. Tuy nhiên, nếu muốn đạt được hiệu quả thì bản thân các quy phạm pháp luật này cần được xây dựng phù hợp với nội dung thực của quan hệ đó. Sự điều
chỉnh của pháp luật ở mức độ này thực tế không giống nhau với mọi quan hệ và cũng khác nhau với cùng một loại quan hệ trong các giai đoạn, có thể là được nới lỏng hoặc thắt chặc tùy thuộc bối
cảnh thực tế, ý chí, mục đích của nhà lập pháp.
Cấp độ thứ hai: ngồi những tác động từ phía các quy phạm ràng buộc về hình thức pháp lí
như được đề cập ở trên, nhà nước còn có các quy định cho phép các cơ quan của nó tác động vào quan hệ đó bằng các biện pháp khác phỏ biến nhất là các biện pháp hành chính hoặc các phương
thức can thiệp mang tính kinh tế khác
36
, thường thì những biện pháp này tác động trực tiếp đến nội dung quan hệ đó. Trên thực tế, người ta không gọi đây là một “biện pháp điều chỉnh” mà là một là
một “biện pháp can thiệp”. Trong một giới hạn nào đó, nó sẽ làm thay đổi bản chất thực của quan hệ đó. Nhưng nó vẫn được vận dụng cũng khá thường xuyên đối với một số quan hệ bởi vì thực tế
biện pháp đó là cần thiết bởi vì nó là phương thức duy nhất có khả năng bình ổn và giữ cho nó tồn tại thường rất quan trọng đối với nhà nước, xã hội đó. Chính bởi những đặc tính này, nên việc sử
dụng nó rất hạn chế, thường là chỉ đối với những quan hệ có khả năng tác động mạnh mẽ tới sự ổn định của trật tự thông thường của xã hội. đây là phương thức tác động trực tiếp. phương thức này
thường được thực hiện bằng ba cách thức: 1 nhà nước tác động đến các chủ thể tham gia vào quan
35
Một bài học lớn của nền kinh tế Việt Nam đối với vấn đề này chính là việc thực hiện cơ chế bao cấp trong giai đoạn đầu những năm 80 của thế kỉ trước, nó đã làm nền kinh tế thụt lùi rõ rệt và cho đến nay vẫn còn lại những tàn dư mà
khó có khả năng bị xóa bỏ hồn tồn.
36
Cần chú ý rằng, các biện pháp này muốn được thực hiện cũng sẽ được thể chế bằng các văn bản pháp luật hoặc có thể là các văn bản mệnh lệnh hành chính khác. Ở đây, tác giả đưa ra sự phân định này vì dù biện pháp này có thể
được thể hiện bằng các quy phạm pháp luật thông thường như phương thức trên nhưng bản chất của nó khơng quy định hình thức pháp lí của hoạt động mà là chỉ là phương thức trao quyền cho các cơ quan công quyền tác động trực
tiếp đến nội dung các hoạt động đó. Cái mà nếu được điều chỉnh theo mức độ thứ nhất nó thuộc quyền quyết định độc lập của chủ thể quan hệ.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
hệ bằng các Quyết định hành chính mang tính mệnh lệnh; 2 nhà nước đưa ra các hỗ trợ cho một số các chủ thể theo những đánh giá mang tính chủ quan
37
; 3 nhà nước trực tiếp tham gia vào các quan hệ này, như một chủ thể của quan hệ.
38
Căn cứ vào sự phân loại trên có thể thấy, nền kinh tế hiện đại của nhiều quốc gia trên thế giới đều đang điều chỉnh quan hệ huy động vốn của các ngân hàng thương mại theo cấp độ thứ hai, nhất
là với mức độ ngày càng chặc chẽ hơn sau các cuộc khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, mức độ tác động như thế nào và với phương thức như thế nào là thích hợp ln là một bài tốn hết sức khó
khăn với các nhà cầm quyền về dài hạn là đối với các nhà lập pháp, ngắn hạn là đối với các ngân hàng trung ương. Vấn đề này biến động và thường cần có sự điều chỉnh liên tục. Một động thái sai
lệch có thể mang đến những tác động không lường trước được đối với bản thân nền kinh tế đó.
Xét đơn lẻ hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại, có thể khái qt hóa những hình thức điều chỉnh sau:
Thứ nhất, các quy phạm pháp luật quy định về hình thức pháp lí của quan hệ như được đề cập
ở trên, vấn đề này gần như mang tính đương nhiên, các quy định này như là hành lang pháp lí đảm bảo cho sự vận hành bình thường của bất kì quan hệ nào của các pháp nhân – những chủ thể pháp lí
nhân tạo.
Thứ hai, lãi suất, đây là phương thức được sử dụng phổ biến nhất từ trước đến nay, và có tác
động khá nhanh đến thị trường tiền tệ. Lãi suất mà nhà nước đưa ra không phải là sãi suất huy động mà là lãi suất cơ bản hoặc lãi suất trần, căn cứ vào đó các ngân hàng sẽ quyết định đến lãi suất huy
động của mình. Biện pháp này nhìn chung khá tiện lợi và mang lại những tác động rõ rệt một cách nhanh chóng tuy nhiên nó cũng nó nhiều bất lợi mà khó có khả nâng khắc phục. Bất lợi lớn nhất
của nó là phá vỡ bản chất kinh tế của lãi suất. Như được nhắc đến ở trên, lãi suất được xem là giá cả của tiền tệ, nó là hệ quả chính của quy luật cung cầu
39
, cần được thiết lập bởi chính sự vận hành của các nguồn vốn trên thị trường. Các quyết định mang tính chủ quan của ngân hàng trung ương
khi đưa ra mức lãi suất cơ bản thường khơng thể hiện được chính xác tình trạng của thị trường, chính vì vậy, có thể gây ra những xáo trộn trên thị trường tiền tệ, làm mất can bằng về tín
dụng.
40
Tuy nhiên, đối với những quốc gia có một thị trường tài chính chưa phát triển toàn diện như Việt Nam sự nghèo nàn về các loại hình cơng cụ và sự kém sơi động thị trường và đặc biệt ngân
hàng trung ương chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc điều phối chính sách tiền tệ thì đây là một biện pháp đơn giản và dễ thực hiện.
37
Nếu như các quy phạm pháp luật đưa ra quy tắc xử sự mang tính thống nhất, áp dụng đồng bộ cho tất cả các đối tượng rơi vào những hồn cảnh nhất định được xác định trước thì nhóm với phương thức này thường là nhóm các cá
thể cá biệt được xác định theo ý chí chủ quan của nhà cầm quyền mà khơng có những tiêu chí thực sự rõ rang.
38
Các ngân hàng thương mại nhà nước là một minh họa cho cách thức này. Trên lí thuyết, các ngân hàng thương mại cổ phần hay các ngân hàng thương mại nhà nước đều là các pháp nhân, có địa vị pháp lí như nhau, nhưng trên thực tế
không thể phủ nhận, nhà nước là một chủ thể có tiềm lực kinh tế lớn nhất mà khơng có chủ thể nào có thể sánh được, vì thế, việc sử dụng phương thức này cũng cần được xem xét trên cơ sở đảm bảo sự bình đẳng của các chủ thể khác.
Hiện nay, nhà nước ta đang cố gắng hạn chế những hổ trợ mang tính bất bình đẳng đối với thành phần kinh tế này.
39
Thực ra, vì là một loại hàng hóa đặc biệt nên tiền tệ còn chịu tác động của những nhân tố khác như chính trị, chính sách tài chính, các quy định về ngoại hối,…
40
Một số biều hiện cụ thể của nó sẽ được phân tích cụ thể khi ở chương 2 khi phân tích về sự biến động của lãi suất cơ bản được công bố bởi ngân hàng trung ương trong thời gian qua.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
Thứ ba, hạn mức tín dụng
41
, đây là phương thức điều chỉnh hiếm khi sử dụng nhất trong số các biện pháp tác động của nhà nước. Theo đánh giá, đây là biện pháp mang nặng tính hành chính, “bao
cấp” nhất. Khi ngân hàng áp dụng biện pháp này, tức các ngân hàng thương mại chỉ được cấp tín dụng cho khách hàng trong một giới hạn nhất định, biện pháp này thường được áp dụng khi tỉ lệ
lạm phát quá cao, ngân hàng trung ương Quyết định thắt chặt tín dụng giảm lượng tiền trong lưu thơng. Chính vì vậy, điều này sẽ gián tiếp làm giảm lượng cầu về vốn của các ngân hàng thương
mại, đồng nghĩa với việc cắt giảm lãi suất huy động vốn.
Một số các biện pháp tác động gián tiếp khác: Thật sự, tiền tệ là một hàng hóa cực kì nhạy cảm, bất cứ một động thái nào từ phía ngân hàng trung ương hoặc thị trường tài chính cũng có thể tác
động đến hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Chính vì vậy, nếu biết cách vận dụng chúng một cách linh hoạt, ngân hàng trung ương hờn toàn có khả năng điều tiết hoạt động huy
động vốn của các ngân hàng thương mại theo định hướng mình mong muốn. Đây hồn tồn là các biện pháp có tác động gián tiếp. Nếu như các nền kinh tế bao cấp, những quốc gia có thị trường
chưa thực sự phát triển, các ngân hàng trung ương yếu kém thường áp dụng các biện pháp được kể trên thì ở các nước có nền kinh tế thị trường, thị trường tài chính phát triển sơi động ln ưu tiên sử
dụng các biện pháp này. Tuy đây là những biện pháp không có một tác động tức khắc, hay trực diện đối với thị trường vốn của các ngân hàng thương mại nhưng đó là các biện pháp uyển chuyển và
phù hợp với cơ chế vận hành của thị trường. Nếu được sử dụng một cách linh hoạt, có khả năng mang lại hiệu quả rất cao và đặc biệt là dễ dàng nhận được sự chấp nhận của thị trường. Việc tác
động vào lãi suất trong nền kinh tế cũng như vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng có nhiều nghiệp vụ là: cho vay tái cấp vốn, cho vay tái chiết khấu, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ SWAP…
Đặc biệt có hai thị trường để tác động hữu hiệu vào cơ chế điều hành lãi suất nói trên là: thị trường mở và thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc do Ngân hàng nhà nước tổ chức và vận hành. Đây
cũng là thị trường mà thông qua đó, Ngân hàng nhà nước can thiệp gián tiếp vào thị trường tiền tệ, tác động đến tình hình lãi suất trong nền kinh tế.
Kết luận: Thông qua những nghiên cứu trên cho ta một cái nhìn tồn diện về nội dung các loại
hình huy động vốn của các ngân hàng thương mại và bản chất thực, phương thức vận hành của chúng. Hiểu rõ về bản chất của từng hoạt động sẽ cho ta một cách nhìn khách quan, chính xác và
khoa học đối với việc đánh giá những quy định của pháp luật việt nam về các hoạt động này sẽ được trình bày ở chương 2.
41
Một ví dụ điển hình cho phương thức tác động này là Quyết định số 2102005QĐ-NHNN ngày 28022005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc điều chỉnh tỷ lệ huy động tiền gửi VND đối với các chi nhánh ngân hàng
nước ngoài của các nước thuộc liên minh Châu âu hoạt động tại Việt nam.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – MỘT SỐ
NHỮNG KIẾN NGHỊ
2.1.
Những quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại.
2.1.1.
Những quy định chung về hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại
Trong các văn bản pháp luật hiện hành, khơng có nhiều các quy định về hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại. So với các nghiệp vụ khác của ngân hàng, chẳng hạn như các
hoạt động tín dụng, thì số lượng các quy phạm trong mảng này còn khá hạn chế. Có thể nói nó chưa thu hút được sự quan tâm của các nhà lập pháp. Các quy định nhìn chung còn khá sơ sài, tuy nhiên,
trong giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cũng đã có những bổ sung đáng kể.
Trong các văn bản có quy định liên quan đến hoạt động huy động huy động vốn của các ngân hàng thương mại, không có bất cứ một văn bản nào đưa ra một định nghĩa pháp lí về hoạt động huy
động vốn, Luật Các tổ chức tín dụng và Nghị định 492000ND-CP chỉ liệt kê những loại hình được coi là hoạt động huy động vốn. Các hoạt động của các ngân hàng là khá đa dạng và hình thức của
nó biến đổi khơng ngừng, chính vì vậy, việc đưa ra một khái niệm mang tính liệt kê như vậy rõ ràng khơng đáp ứng được yêu cầu thay đổi của thực tiễn, những quy định đó sẽ nhanh chóng bị lạc hậu.
Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, hoạt động huy động vốn nói chung của các tổ chức tín dụng bao gồm bốn hoạt động cơ bản được quy định tại một chương riêng của luật này: 1hoạt
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
động nhận tiền gửi điều 45; 2 hoạt động phát hành giấy tờ có giá điều 46; 3 hoạt động vay vốn giữa các tổ chức tín dụng điều 47; 4 hoạt động vay vốn của Ngân hàng nhà nước điều 48. Nhìn
chung, Luật Các tổ chức tín dụng chỉ nêu một cách khái quát nhất về các hình thức huy động vốn của các tổ chức tín dụng trong đó có các ngân hàng thương mại mà khơng có bất cứ quy định gì
thêm. Vấn đề này một lần nữa được quy định tại Nghị định số 49200ND-CP về tổ chức và hoạt động của các ngân hàng thương mại. Cụ thể, tại điều 3 Nghị định này quy định:
“Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
1.
Nhận tiền gửi của cá nhân tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới dạng tiền gửi khơng kì hạn, tiền gửi có kì hạn và các loại tiền gửi khác.
2.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp nhận.
3.
Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức tín dụng nước ngoài.
4.
Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
5.
Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước.” Có thể nhận thấy các quy định được nêu ra trong hai văn bản này chỉ ở dạng liệt kê. So sánh với
các hình thức huy động vốn trong thực tiễn và trên thế giới đã được trình bày ở trên có thể thấy đây là các hình thức huy động vốn cơ bản và chủ yếu của không chỉ các ngân hàng mà còn của các tổ
chức tín dụng từ trước đến nay. Tuy nhiên, so với nghiệp vụ ngân hàng hiện đại trong giai đoạn hiện nay, các hình thức huy động vốn đã thực sự đa dạng hơn nhiều, có lẻ đó là một nguyên nhân
quan trọng mà Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản quan trọng không quy định một cách chi tiết cụ thể mà chỉ nêu một cách khái quát và sơ lược về hoạt động này, những vấn đề cụ thể về hình
thức, phương thức tiến hành đều dành lại cho các văn bản hướng dẫn của cơ quan chuyên môn các Quy chế ban hành kèm các Quyết định của Ngân hàng nhà nước.
Điều này có ưu điểm là giúp cho hệ thống pháp luật có thể phản ứng nhanh với những thay đổi của thực tiễn kinh tế xã hội, tuy nhiên, khơng phải là khơng có hạn chế. Tính ràng buộc từ hệ quả
pháp lí của các văn bản hướng dẫn này và tính thống nhất của chúng đơi lúc thật sự gây khó khăn cho cả các chủ thể quản lí và bị quản lí.
Như đã được phân tích ở trên, các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Nghị định về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại chỉ quy định những vấn đề cơ bản nhất, có thể nói,
đó chỉ như là cái khung của hoạt động, nếu hiểu theo nội hàm rộng nhất của các hoạt động này, các hình thức huy động vốn trong thực tiễn cũng có thể được xếp vào trong bốn loại hình cơ bản được
liệt kê đó, nhưng nếu để điều chỉnh từng các quan hệ phát sinh trong từng nghiệp vụ riêng lẻ thì có khả năng gặp phải nhiều khó khăn. Chẳng hạn, về hình thức pháp lí của quan hệ đó, quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể tham gia. Tuy nhiên, cũng cần có sự phân biệt giữa các vấn đề mang nặng tính nghiệp vụ và các quy phạm thơng thường khác, ngân hàng nhà nước có thể nói là cơ quan chủ quản
trong lĩnh vục này, nên để các quy phạm thiên về tính nghiệp vụ cho cơ quan này quy định của là một sự hợp lí. Dự thảo luật các tổ chức tín dụng mới thật sự đã khắc phục được rất nhiều các hạn
chế này, đa phần các vấn đề được quy định chi tiết và chặc chẽ hơn.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
Xét từ khía cạnh lí luận, pháp luật ngân hàng là mảng pháp luật chuyên ngành, các quan hệ ngân hàng vẫn mang bản chất gốc của nó là các quan hệ dân sự. Chính vì vậy, theo ngun tắc
chung, khi các quan hệ này không được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật chuyên ngành thì sẽ tự động chịu sự điều chỉnh của các quy định chung của pháp luật dân sự quy định trong Bộ luật
Dân sự. Trên thực tế, chúng ta đang vận dụng điều này để điều chỉnh một số các quan hệ thuộc lĩnh vực huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Chẳng hạn, trong bốn nghiệp vụ huy động vốn
của ngân hàng thương mại được liệt kê ở trên, nếu loại hình huy động vốn nào có được các văn bản hướng dẫn cụ thể thì sẽ áp dụng các văn bản hướng dẫn đó, loại hình huy động vốn nào khơng có
hướng dẫn cụ thể hoặc mới phát sinh mà chưa được hướng dẫn hoặc những loại hình đã được hướng dẫn mà các quy định chưa bao quát hết thì sẽ được tự động điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự và
các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nhận xét cách khách quan, trong tình trạng quá độ như hiện nay, đặc biệt là giai đoạn liền trước và sau sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, cơ quan lập pháp và các bộ cơ quan chuyên ngành thật sự
đã quá tải trong việc cố hoàn thiện các văn đáp ứng yêu cầu thiết lập một hệ thống pháp luật đầy đủ, tương thích và minh bạch phù hợp với các yêu cầu của tổ chức thương mại thế giới. Hệ thống
pháp luật đang trong giai đoạn hồn thiện thì những vấn đề như thế này có thể tạm chấp nhận được, tuy nhiên, rõ ràng nó thể hiện sự không chuyên nghiệp trong phương thức quản lí của các cơ quan
hành chính nước ta. Thể hiện sự sơ sài và yếu kém của một thị trường tài chính chưa phát triển đầy đủ và kém năng động.
Vấn đề này chắc chắn sẽ gây rất nhiều khó khăn cho các ngân hàng thương mại nói chung và cho các tổ chức tín dụng nói chung khi tiếp cận với các vấn đề thực tiễn. Ngân hàng thực tế là một
doanh nghiệp, về lí, nó được phép làm tất cả những gì mà pháp luật khơng cấm, như những doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, như đã được đề cập, là một loại hình kinh doanh có điều kiện, nó phải chịu
rất nhiều sự ràng buộc cả về mặt pháp lí và những phương thức quản lí hành chính khác. Sự không rõ ràng trong các quy định như thế này sẽ hạn chế rất lớn sự năng động và sáng tạo trong hoạt động
của các ngân hàng thương mại.
Đó là nhìn từ góc độ lợi ích của các ngân hàng, đứng từ góc độ nhà quản lí, một khi các quy định không rõ ràng, các cơ quan công quyền và cả ngân hàng trung ương cũng sẽ rất khó khăn trong
việc quản lí, đảm bảo sự minh bạch hóa thơng tin trong thị trường các ngân hàng mình quản lí, đây lại là một u cầu rất quan trọng đối với loại hình hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro này. Hơn nữa, khi
không nắm được cụ thể tình hình tài chính của các ngân hàng thương mại, việc điều hành chính sách tiền tệ cũng như vận hành các công cụ điều tiết sẽ vô cùng khó khăn.
Rõ ràng với một thị trường tài chính năng động như hiện nay, các nghiệp vụ tài chính trên thế giới ngày càng hết sức đa dạng và phức tạp, sự ràng buộc một danh sách những nghiệp vụ mà các
ngân hàng được phép thực hiện huy động vốn và khơng được là hồn tồn khơng hợp lí, nhất là trong khi từng ngày đều có thể có những nghiệp vụ mới phát sinh và ngày nay, chúng ta đã trở
thành một bộ phận và kết nối này càng chặc chẽ với thị trường tài chính tồn cầu. Tuy nhiên, cũng cần thiết có một khung pháp lí hồn thiện hơn đối với loại hình nghiệp vụ này. Chưa nói đến hoạt
động huy động vốn, đối với các giao dịch ngân hàng thông thường khác, thật sự cũng không thể
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
đơn giản chịu sự điều tiết của các quy định Bộ luật Dân sự. Bởi các quan hệ này mang những tính chất đặc trưng mà cần thiết có một phương thức điều chỉnh riêng biệt.
42
Những phân tích được trình bày ở đây dựa trên các quy định của các văn bản pháp luật đang có hiệu lực mà chủ yếu là Luật Các tổ chức tín dụng 1997, tuy nhiên, thời điểm hết hiệu lực của nó
cũng sắp đến. Dự thảo luật Ngân hàng nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng mới sẽ sớm được thông qua trong thời gian khơng xa. ở đây, trong q trình phân tích các quy định của hệ thống
pháp luật hiện hành về họat động huy động, tác giả cũng sẽ đề cập một số quan điểm của mình về những quy định mới của dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng như một sự tham khảo.
Thay đổi khá nhiều so với Luật Các tổ chức tín dụng 1997, dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng mới có một bố cục hồn toàn khác và cách tiếp cận mới lạ hoàn toàn. Luật Các tổ chức tín dụng
khẳng định hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại gồm có bốn hành thức cơ bản như trên, nhưng Dự thảo Luật Các Tổ chức tín dụng mới khơng quy kết vấn đề như vậy. cụ thể Dự thảo
số 8 Luật Các tổ chức tín dụng, trong mục 2 chương 4 quy định về hoạt động của các ngân hàng thương mại, Điều 96 quy định về hoạt động của ngân hàng thương mại:
“Ngân hàng thương mại được thực hiện các hoạt động ngân hàng sau đây:
1. Nhận tiền gửi dưới các hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm và các loại tiền gửi khác.
2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn trong nước và phát hành trái phiếu ở nước ngoài sau khi được Ngân hàng nhà nước
chấp thuận.
3. Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: a Cho vay;
……….” Tiếp theo, Điều 97quy định về hoạt động vay vốn của Ngân hàng nhà nước và Điều 98 quy
định về hoạt động vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính. Sự phân loại này khơng dựa vào mục đích của hoạt động mà dựa vào bản chất kinh tế của hoạt động, cái Quyết định đến phương
thức thực hiện của chủ thể cũng như phương thức điều chỉnh của chủ thể quản lí. Nhìn vào các quy định này có thể thấy các nhà lập pháp đã có sự phân định rõ bản chất của các hình thức huy động
vốn này của các ngân hàng thương mại. hình thức huy động vốn bằng nhận tiền gửi và phát hành
42
Tham khảo thêm “vấn đề hiệu lực của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại”, ts. Nguyễn văn tuyến, khoa pháp luật kinh tế, đại học luật hà nội, tạp chí luật học số 062005.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
giấy tờ có giá được xếp vào nhóm các hoạt động ngân hàng còn hai hình thức còn lại thì khơng
43
. Căn cứ vào khái niệm hoạt động ngân hàng được nêu tại khoản 11 điều 4 dự thảo này:
“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một trong các nghiệp vụ
sau đây dưới mọi hình thức: a Nhận tiền gửi;
b Cấp tín dụng; c Cung ứng dịch vụ thanh tốn”.
Nếu hồn tồn khơng đề cập đến các hình thức của hoạt động ngân hàng được đề cập trong định nghĩa trên ta vẫn dễ dàng nhận thấy hoạt động huy động vốn thơng qua hình thức vay của các
tổ chức tín dụng khác, tổ chức tài chính và vay của Ngân hàng nhà nước không thỏa mãn bản chất của một hoạt động kinh doanh. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp: “Kinh doanh là việc thực
hiện liên tục một, một số loặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư,…trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”, có thể nhận thấy bản chất cũng như khởi thủy của bất kì hoạt động kinh doanh
nào cũng là nhằm mục đích sinh lợi. theo định nghĩa trên, “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh…”, mục đích chính của hai hoạt động huy động vốn của ngân hàng thơng qua vay vốn của tổ
chức tín dụng, tổ chức tài chính và vay ngân hàng trung ương chủ yếu nhằm mục đích bảo đảm an tồn hoạt động ngân hàng thậm chí trong nhiều trường hợp bất chấp mục thua lỗ, chúng khơng
hồn tồn nằm trong quyền tự quyết của ngân hàng mà chịu những ràng buộc từ các quy chế pháp lí mang tính bắt buộc đến sự tồn vong của chính nó. Từ những luận cứ trên, việc phân định trên theo
quan điểm của tác giả là hợp lí. Điều này cũng cho thấy một tư duy mới và rạch ròi trong quan điểm của nhà lập pháp, có một hướng tiếp cận hợp lí từ bản chất của quan hệ được điều chỉnh sẽ
giúp cho nhà lập pháp lựa chọn những phương thức điều chỉnh thích hợp.
Về hệ thống các văn bản điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại bao gồm hai nhóm chính:
Nhóm một: các quy phạm pháp luật chuyên ngành Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam số 061997QHX Luật Các tổ chức tín dụng số 071997 , Nghị định số 49200ND-CP về tổ chức và
hoạt động của cácc ngân hàng thương mại, và các quyết định của ngân hàng nhà nước trong việc ban hành các quy chế của các hình thức cụ thể, các quyết định công bố lãi suất huy động, lãi suất
chiết khấu,…., chủ yếu hướng đến các vấn đê mang tính nghiệp vụ.
Nhóm hai: các quy phạm pháp luật chung, chủ yếu thuộc bộ luật dân sự, chủ yếu hướng đến nội dung pháp lí của quan hệ, như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể,…
43
Đây cũng là một trong những nguyên nhân mà tác giả chia hoạt động huy động vốn của ngân hàng thành 2 nhóm hoạt động cơ bản: nhóm các hoạt động huy động vốn xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận và nhóm các hoạt động xuất
phát từ mục tiêu bảo đảm an toàn phần 1.1.4. Phân loại hoạt động huy động vốn. Và cũng chính vì vậy mà tác giả giới hạn những nghiên cứu chuyên sâu của đề tài chỉ tập trung ở khía cạnh thứ nhất của hoạt động này hoạt động huy
động vón bằng nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá, mục đích của tác giả muốn tập trung tiếp cận hoạt động huy động vốn của ngân hàng dưới góc độ kinh tế, tức là một hình thức của hoạt động ngân hàng.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
2.1.2.
Các quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam liên quan đến một số hoạt động huy động vốn cụ thể.

2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

×