1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CÁC VẤN ĐỀ VỀ NGHIỆP VỤ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (450.55 KB, 58 trang )


B. CÁC VẤN ĐỀ VỀ NGHIỆP VỤ


Như đã được phân tích ở trên, hoạt động huy động vốn của ngân hàng được điều chỉnh bởi các nhóm quy phạm khác nhau, các vấn đề về lãi suất huy động vốn được phân tích ở trên là nhóm các
quy phạm thiên về hoạt động điêu phối của Ngân hàng nhà nước nhằm mục đích quản lí hoạt động huy động vốn của các ngân hàng. Các vấn đề sẽ được trình bày trong phần này sẽ là các quy phạm
thiên về tính nghiệp vụ trong việc kí kết các hoạp đồng huy động vốn cụ thể bản chất là các hợp đồng vay vốn. ở đây, tác giả sẽ chỉ trình bày những vấn đề mà tác giả cho là còn vướn mắc, các
vấn đề thiên về tính hình thức và thủ tục của việc thực hiện các hoạt động này trên thực tế hoặc là được quy định khá cụ thể trong các quy chế do ngân hàng nhà nước công bố, theo thông lệ chung
trong lĩnh vực này hoặc là thuộc về nghiệp vụ của từng ngân hàng riêng lẻ, chính vì vậy, sẽ khơng được đề cập.

Vấn đề pháp lí liên quan đến hợp đồng vay: Quyền yêu cầu rút tiền trước thời hạn.
Như đã được nhắc đến ở phần trước, mang bản chất là một hợp đồng dân sự, chính vì vậy các hoạt động huy động vốn mà cụ thể là các hợp đồng tiền gửi không chỉ được điều chỉnh bởi các quy
phạm pháp luật chuyên ngành mà còn được điều chỉnh bởi rất nhiều quy phạm của các văn bản pháp luật khác, mà cụ thể nhất là Bộ luật Dân sự 2005. Đặc biệt, đối với các hợp đồng tiền gửi, các
vấn đề được các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định chỉ chủ yếu tập trung vào các quy định thiên về tính thủ tục và xác định phương thức thực hiện một loại hình nghiệp vụ như thế nào. Hình
thức và đặc trưng của từng loại tiền gửi thường được xác lập phù hợp với thông lệ chung trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Riêng về các vấn đề pháp lí như xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể
trong hợp đồng tiền gửi, vấn đề giải quyết các hệ quả pháp lí liên quan đến hợp đồng thường được điều chỉnh trực tiếp bởi các quy phạm của luật chung – Bộ luật Dân sự 2005. Những phân tích dưới
đây chủ yếu tập trung vào các vấn đề pháp lí liên quan đến hợp đồng vay, tác giả sẽ phân tích một số điểm có sự mâu thuẩn giữa các văn bản quy định quy chế thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn
với các quy định của pháp luật dân sự liên quan đến hợp đồng.
Theo thông lệ trong hoạt động các ngân hàng từ trước đến nay, để tạo điều kiện cho khách hàng, khuyến khích các đối tượng này gửi tiền tại ngân hàng hàng mình, các ngân hàng đều đưa ra
các quy chế cho phép khách hàng có thể rút tiền trước thời hạn đối với các hợp đồng tiền gửi có kì hạn hoặc rút tiền gửi khơng kì hạn mà khơng phải báo trước thường với một số tiền không quá
lớn. Các văn bản pháp luật thuộc chuyên ngành này cũng có những quy định tương tự, chẳng hạn, Điều 16 Quy chế tiền gửi tiết kiệm
56
quy định về vấn đề này như sau:
“Rút tiền gửi tiết kiệm trước hạn 1. Người gửi tiền được rút tiền gửi tiết kiệm trước hạn nếu có thoả thuận với tổ chức nhận tiền
gửi tiết kiệm khi gửi tiền và phải thông báo trước yêu cầu rút tiền trước hạn theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
56
Quy chế về tiền gửi tiết kiệm, ban hành kèm theo Quyết định số 11602004QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 472006QD-NHNN ngày 15
tháng 09 năm 2006 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
2. Trường hợp người gửi tiền có nhu cầu rút tiền gửi tiết kiệm trước hạn đáp ứng đủ quy định tại Khoản 1 Điều 16, thì người gửi tiền được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết
kiệm.
3. Trường hợp người gửi tiền có nhu cầu rút tiền gửi tiết kiệm trước hạn nhưng không đáp ứng đủ quy định tại Khoản 1 Điều 16, thì tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm có thể cho phép người gửi tiền
rút tiền trước thời hạn. Trong trường hợp này, người gửi tiền được hưởng lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 16; tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm được quyền quy định mức phí đối với khoản tiền
gửi tiết kiệm rút trước thời hạn.
…. 5. Tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy định thời hạn tối thiểu người gửi tiền phải thông báo
trước yêu cầu rút tiền trước hạn, lãi suất và mức phí áp dụng đối với tiền gửi tiết kiệm rút trước hạn”.
Căn cứ vào quy định được trích dẫn trên có thể thấy khách hàng gửi tiền tại tổ chức tín dụng có quyền rút tiền trước thời hạn, đây là quyền pháp định, trên thực tế như đã được nhắc đến ở trên, đây
là thông lệ chung, không chỉ ở nước ta. Tuy nhiên, tại Bộ luật Dân sự 2005 lại có một quy định hồn toàn khác. Cụ thể, khoản 3 Điều
473 quy định: “Bên cho vay có nghĩa vụ sau:...khơng được u cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 478 của bộ luật này
57
” Như vậy, có thể nhận thấy sự mâu thuẩn khá rõ rệt trong quy định của pháp luật chuyên ngành
và Bộ luật Dân sự. Có lẻ, khi xây dựng Bộ luật Dân sự, tuy quy định phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự là mở rộng ra tất cả các quan hệ thuộc cả lĩnh vực kinh daonh thương mại,… nhưng ý
chí nhà lập pháp vẫn khơng bao quát được những lĩnh vực đó mà chỉ dừng lại ở phạm vi các quan hệ dân sự theo nghĩa hẹp. Ở đây, quy định của quy chế tiền gửi tiết kiệm là văn bản pháp luật
chuyên ngành và là văn bản dưới luật nên sẽ phải chịu ràng buộc các quy định của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, xem xét nội dung các quy định, rõ ràng các quy phạm thuộc Bộ luật Dân sự thật sự
không hợp lí, khơng phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Suy cho cùng, đó là hệ quả của những hạn chế về trình độ lập pháp của nước ta
58
.
Vấn đề 2: Quyết định 162008QĐ-NHNN và việc xác định lãi suất huy động bằng đô la Mỹ.
57
Điều 478 Bộ Luật Dân Sự 2005: Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn
1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và khơng có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay
đồng ý. 2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả tồn bộ
lãi theo kỳ hạn, nếu khơng có thoả thuận khác.
58
Thực tế, trong bản thân quy định của điều 478 của bộ luật dân sự 2005 cũng đã mâu thuẩn nhau, thực tế, quy định về vấn đề dòi lại tài sản vay của bên cho vay còn có hai điều luật nữa, đó là điều 245, đối với trường hợp sử dụng tài
sản avy không đúng mục đích và điều 477 đối với trường hợp đòi tài sản vay trong hợp đồng vay khơng kì hạn.
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
Ngồi vai trò là cơng cụ điều tiết chính sách vĩ mơ, lãi suất còn được sử dụng để ngân hàng cân đối nguồn vốn huy động và vốn cho vay trong từng thời kỳ. Luật Các tổ chức tín dụng quy định
việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng, trong đó phải có các nội dung chủ yếu như: điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất… Đối
với khoản huy động vốn, cho vay bằng đồng Việt Nam, lãi suất cho vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận, nhưng không vượt quá 150 lãi suất cơ bản do NHNN công bố để áp dụng trong
từng thời kỳ. Tuy nhiên, đối với khoản huy động vốn, cho vay bằng đơ la Mỹ có phải tn theo quy định của Quyết định số 16 hay khơng?
Dưới góc độ pháp lý, lãi suất huy động vốn, cho vay bằng đô la Mỹ do các ngân hàng ấn định đối với khách hàng không bị khống chế bởi lãi suất trần theo cơ chế điều chỉnh lãi suất cơ bản được
quy định tại Quyết định số 16 vì các lý do sau đây:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005, thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 150 của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại
cho vay tương ứng. Thực tế, cho đến nay, NHNN chỉ quy định lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, chứ chưa quy định lãi suất cơ bản bằng đô la Mỹ hoặc ngoại tệ khác.
Thứ hai, Quyết định số 16 chỉ quy định việc điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150 lãi suất cơ bản.
Do đó, các ngân hàng khơng có nghĩa vụ phải ấn định lãi suất kinh doanh bằng đô la Mỹ đối với khách hàng theo quy định của Quyết định số 16.
Thứ ba, Quyết định số 7182001QĐ-NHNN ngày 2952001 của Thống đốc NHNN quy định về cơ chế điều hành lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng
Quyết định số 718 cho đến nay chưa bị sửa đổi, bổ sung hoặc bị thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác. Cho nên, Quyết định số 718 vẫn còn hiệu lực và là cơ sở pháp lý để các ngân hàng
ấn định lãi suất kinh doanh bằng đô la Mỹ đối với khách hàng vay.
Thứ tư, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật không cấm2. Ngân hàng là một loại
hình doanh nghiệp, nên ngân hàng cũng có quyền kinh doanh theo quy định này. Vì vậy, nếu pháp luật khơng cấm các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ vượt quá 150 lãi suất
cơ bản bằng đồng Việt Nam do NHNN công bố để áp dụng trong từng thời kỳ, thì ngân hàng và khách hàng vay có quyền thỏa thuận lãi suất cho vay cụ thể.
Chính vì lẽ trên, các ngân hàng có quyền ấn định lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ đối với khách hàng vay dựa trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung – cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ ở trong
nước
59
.
59
Nguyễn Cao Khơi – Vietcombank, “Một số vấn đề pháp lí liên quan đến việc điều chỉnh lãi suất cơ bản”, Trích dẫn từ:
http:www.sbv.gov.vnvnhometinnghiencuu.jsp?tin=584
SVTH: Nguyễn Thanh Thùy Linh – MSSV: 3020103
Trên đây, chỉ là một vài vấn đề còn vướn mắc trong quá trình thực hiện hoạt động huy động vốn của các ngân hàng cần thiết có sự sửa đổi bổ sung cho thật hợp lí và minh bạch, tránh có những
cách hiểu khơng đúng, gây ra sự thiếu thống nhất cho việc áp dụng pháp luật.

2.1.2.2. Hoạt động phát hành giấy tờ có giá:


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

×