1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (277.23 KB, 51 trang )


hoạt động cho vay theo chương trình 419 của UBNDTP về việc hỗ trợ lãi vay đối với hộ nông dân.

1.4. Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân.


Hiện nay hoạt động của 9 quỹ TD trên đòa bàn tiếp tục có lãi , trích lâp dự phòng đầy đủ.Trong đó huy động vốn đạt 102 tỷ, cho vay đạt 95 tỷ. Trong đó cho vay có tài sản
đảm bảo chiếm 82 trong tổng dư nợ cho vay. Tuy nhiên các Quỹ Tín dụng nhân dân cần tiếp tục tăng cường công tác đào tạo,
nâng cao trình độ quản trò, quản lý. Đây là mô hình hợp tác xã, hoạt động mang nội dung hoạt động ngân hàng, các Quỹ Tín dụng cần học tập và tiếp thu phương pháp quản lý kinh
doanh ngân hàng, đảm bảo quản lý khoa học, quan tâm đến chất lượng tín dụng, tăng trưởng phải đảm bảo hiệu quả. Đây là nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững và ổn đònh
của các QTDND trên đòa bàn TP.
2. Một số khó khăn vướng mắc trong hoạt động Ngân hàng tại đòa bàn TPHCM 2.1 Trong hoạt động tín dụng
+ Thứ nhất, khó khăn từ phía khách hàng và nền kinh tế : Hoạt động của các
khách hàng là các doanh nghiệp nhà nước có quan hệ tín dụng với Ngân hàng không hiệu quả, phần lớn các doanh nghiệp này có vốn tự có thấp, khả năng tài chính thấp, khả năng
cạnh tranh không cao, sự tác động của các yếu tố bên ngoài , mỗi khi thò trường biến động là rất lớn, vì vậy tiềm ẩn khả năng rủi ro tín dụng là rất lớn. Trong khi đó cho vay đối
tượng này chủ yếu là cho vay không có tài sản đảm bảo hoặc có tài sản đảm bảo thì việc thế chấp cũng không thực hiện được vì hầu hết không có giấy tờ chủ quyền .
- Đối với khu vực kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có số lượng doanh nghiệp rất lớn – đây là thò trường lớn để các TCTD mở rộng và tăng trưởng tín dụng. Thực
tế dư nợ khu vực kinh tế trên đòa bàn Thành phố chiếm 62.94 trong tổng dư nợ cho vay. Tuy nhiên hệ thống kế toán ; báocáo tài chính cuả các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh
tế này thường không đầy đủ, thiếu tính chính xác và độ tin cậy để Ngân hàng xem xét, thẩm đònh và xét duyệt cho vay. Phần lớn báo cáo tài chính của doanh nghiệp này không
được kiểm toán độc lập. Chính vì thế các TCTD chủ yếu thực hiện nghiệp vụ cho vay thế
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Ninh Kiều Trang 6
chấp, do đó hạn chế nhiều đến quá trình mở rộng và tăng trưởng tín dụng đối với thành phần kinh tế tư nhân .
+ Thứ hai, khó khăn về cơ chế chính sách của các ngành liên quan
Cơ chế chính sách của NHTW ngày càng hoàn thiện, đã tạo điều kiện cho các TCTD phát triển hoạt động kinh doanh, phát huy được vai trò tự chủ, tự chòu trách nhiệm,
năng động và linh hoạt trong hoạt động kinh doanh - Rất phù hợp với cơ chế thò trường . Những khó khăn vướng mắc trong hoạt động tín dụng trên đòa bàn hiện nay chủ yếu thuộc
về cơ chế chính sách của các ngành liên quan, trong quá trình hoàn thiện thủ tục quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng - khách hàng ; khó khăn về xử lý tài sản đảm bảo nợ vay. Cụ thể
như sau : - Khó khăn vướng mắc đối với tài sản đảm bảo nợ vay : Các nghò đònh 1781999NĐ-
CP ngày 29121999, Nghò đònh 852002NĐ-CP ngày 25102002 của Chính Phủ quy đinh : “Tài sản đảm bảo tiền vay phải được xác đònh giá trò hiện tại thời điểm kí kết hợp đồng
bảo đảm”. Do đó đối với tài sản hình thành trong tương lai thì không xác đònh được giá trò tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng, vì khi đó tài sản chưa được hình thành .
- Việc hủy bỏ giấy chứng nhận QSDĐ của cơ quan có thẩm quyền được quy đònh trong luật đất đai với lí do : cấp sai thẩm quyền, sai quy hoạch hoặc do tranh chấp …trong
thực tế quy đònh này đặt các TCTD cho vay nhận thế chấp bằng giá trò QSDĐ vào tình trạng có thể phải gánh chòu nbững rủi ro tiềm ẩn về mặt pháp lý rất lớn .
- Việc xử lý tài sản đảm bảo nợ vay để thu hồi nợ cho các TCTD theo Thông liên tòch 032001TTLTNHNN-BTP-BTC-TCĐC ngày 23042001, quy đònh số tiền thu được
từ việc xử lý tài sản đảm bảo nợ vay được thanh toán theo thứ tự : các chi phí cần thiết để xủ lý tài sản đảm bảo nợ vay ; thuế và các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước rồi mới
đến nợ vay Ngân hàng.Đây là quy đònh chưa đúng với bản chất kinh tế vì một khoản vay có bảo đảm thì phải được ưu tiên thanh toán trước bằng tài sản đảm bảo của nó.
-Khó khăn vướng mắc trong việc đăng kí giao dòch đảm bảo theo Thông tư liên tòch 032003TLLTBTP-BTNMT : Thời gian giải quyết đăng kí trong 7 ngày và cung cấp thông
tin sau 3 ngày đối với đăng kí giao dòch bảo đảm là khá dài. Trong nhiều trường khách hàng có nhu cầu giải ngân sớm, với thời hạn, thủ tục đăng kí trên sẽ ảnh hưởng rất nhiều
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Ninh Kiều Trang 7
đến quan hệ tín dụng của Ngân hàng - khách hàng, làm mất đi cơ hội kinh doanh của khách hàng .
Việc triển khai thực hiện Thông tư liên tòch 032003TLLTBTP-BTNMT của các cơ quan ban ngành liên quan chưa được triển khai đồng bộ thống nhất : Tại một số phường
xã khi thực hiện đăng kí thế chấp, bảo lãnh bằng Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì không chứng thực kết quả thẩm tra vào hợp đồng thế chấp hoặc bảo lãnh .
Môt số vấn đề khác liên quan đến quá trình xử lý, phát mãi tài sản đảm bảo nợ vay: thời gian để hoàn thiện thủ tục phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ khá dài từ khi tiến
hành khởi kiện ra cơ quan tòa án, đến khi thi hành án, bán đấu giá tài sản thu hồi được nọ mất trung bình khoảng 2 năm, làm hạn chế, ảnh hûng rất lớn đến hoạt động kinh doanh
của các TCTD, rủi ro từ quá trình này là rất lớn .

2.2 Trong hoạt động phát triển dòch vụ -công nghệ Ngân hàng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (51 trang)

×