1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA CHI NHÁNH NHNoPTNT CHỢ LÁCH:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (422.25 KB, 60 trang )


CHƯƠNG III PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY NGẮN HẠN TẠI CHI


NHÁNH NHNoPTNT HUYỆN CHỢ LÁCH

I. TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA CHI NHÁNH NHNoPTNT CHỢ LÁCH:


1.Tình hình nguồn vốn của Chi nhánh NHNoPTNT huyện Chợ Lách qua 3 năm 2003-2005:
Để đảm bảo đủ vốn cho việc thực hiện cho vay hay kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, mấy năm gần đây Chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn huyện Chợ Lách đã không ngừng mở rộng và nâng cao các biện pháp công cụ huy động vốn trên địa bàn huyện Chợ Lách.
GVHD: Phạm Xuân Minh 21
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Phân tích tình hình cho vay ngắn hạn tại CN NHNoPTNT huyện Chợ Lách
Bảng 2- Tình hình huy động vốn nhận vốn điều hòa của Chi nhánh NHNoPTNT Chợ Lách qua 3 năm2003-2005:
Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu
2003 2004
2005 20042003
20052004 Số tiền
Số tiền I.Vốn huy động
1. TG khơng kỳ hạn 2.TGcó kỳ hạn dưới12 tháng
3.TG có kỳ hạn trên 12 tháng II. Vốn điều hòa
Tổng nguồn vốn 57.200
32.700 7.700
16.800 107.533
164.733 83.800
52.500 11.300
20.000 104.055
187.855 109.828
64.725 12.407
32.696 106.912
216.740 26.600
19.800 3.600
3.200 -3.478
23.122 46,5
60,5 46,7
19,1 -3,2
14,04 26.028
12.225 1.107
12.692 2.857
28.885 31,1
23,2 9,78
63,4 2,7
15,4 Nguồn: Phòng nghiệp vụ kinh doanh
GVHD: Phạm Xuân Minh 22
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Biểu đồ 2:Tình hình huy động vốn, nhận vốn điều hòa qua 3 năm 2003-2005
1.1.Vốn huy động:
Năm 2003, nguồn vốn huy động chiếm 34,72 tổng nguồn vốn, năm 2004, vốn huy động chiếm 44,61 tổng nguồn vốn tăng 46,5 tương ứng tăng 26.600 triệu
đồng so với năm 2003. Đến năm 2005, vốn huy động chiếm 50,67 tổng nguồn vốn tăng 31,1 tương ứng tăng 26.028 triệu đồng với 2004. Ta thấy nguồn vốn
huy động tăng dần qua các năm, vốn huy động tăng lên qua các năm là do Ngân hàng đã có nhiều chính sách tăng cường hoạt động huy động vốn. Mấy năm các
chương trình tiền gửi có rút thăm may mắn, chương trình 3 chữ A… Khuyến khích khách hàng gửi tiền, mỗi năm Ngân hàng điều có kế hoạch điều chỉnh khung lãi
suất tiền gửi hợp lý trong công tác huy động vốn. Các chương trình huy động vốn được quảng bá rộng rãi trên các đường phố, thị trấn thu hút nhiều sự chú ý của
khách hàng, thay vì khách hàng có tiền nhàn rỗi họ tham gia các hoạt trả góp, chơi hụi… mang tính rủi ro cao, họ có thể gửi tiền vào Ngân hàng vừa hạn chế rủi ro,
vừa có lãi.
1.2.Vốn điều chuyển:
Hầu hết các ngân hàng quốc doanh khơng riêng gì NHNoPTNT Chợ Lách nếu chỉ sử dụng vốn huy động để cho vay thì sẽ khơng thể đáp ứng hết được nhu cầu
về vốn của khách hàng. Vì vậy, ngồi nguồn vốn huy động tại chỗ thì ngân hàng còn phải phụ thuộc vào nguồn vốn điều hòa. Nguồn vốn này có lãi suất cao hơn so
GVHD: Phạm Xuân Minh 23
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
với lãi suất huy động vốn làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng, gây ảnh hưởng đến lợi nhuận. Do đó các ngân hàng đều có xu hướng giảm bớt nguồn vốn
này. Cụ thể năm 2003 vốn điều hòa chiếm 65,28 tổng nguồn vốn, năm 2004 chiếm 55,39 tổng nguồn vốn, giảm 3,2 tương ứng giảm 3.478 triệu đồng so
với 2003, vốn điều hòa giảm làm giảm bớt một phần chi phí hoạt động của ngân hàng, nhưng đến năm 2005 vốn điều hòa tăng 2,7 tương ứng tăng 2.857 triệu
đồng so với năm 2004. Tuy năm 2005 mức vốn điều hòa có tăng lên nhưng không cao lắm cũng không ảnh hưởng mấy đến chi phí, do năm 2005 mức doanh số cho
vay tăng lên dẫn đến nhu cầu về vốn tăng lên, mức huy động tuy cao nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu vay nên vốn điều hòa cũng tăng lên.
2. Đánh giá tình hình huy động vốn của Chi nhánh NHNoPTNT Chợ Lách qua 3 năm 2003-2005
Mấy năm qua hoạt động huy động vốn của Chi nhánh NHNoPTNT Chợ Lách đã tăng dần qua các năm, trong đó:
2.1.Tiền gửi khơng kỳ hạn:
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi vào và có thể rút ra bất cứ lúc nào cần. Qua bảng kết quả huy động vốn ta thấy tỷ trọng của loại tiền gửi không kỳ hạn luôn
chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn huy động tại chỗ, năm 2003 là 32.700 triệu đồng chiếm 19,85 trong 57.200 triệu đồng hay chiếm 34,72. Năm 2004 là
52.500 triệu đồng trong 83.800 triệu đồng tăng 60,5 tương ứng tăng 19.800 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 tăng 23,2 tương ứng tăng 12.225 triệu đồng so
với năm 2004. Tiền gửi không kỳ hạn tăng dần qua các năm do loại tiền gởi này thuận lợi cho khách hàng gửi ở chỗ có thể rút ra bất kỳ lúc nào cần đến mà không
phải thông báo trước cho ngân hàng, với tâm lý ngân hàng là nơi giữ tiền an toàn, lại có lãi, khi nào cần bao nhiêu là có thể lấy ra.
2.2.Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng:
Qua bảng kết quả huy động ta thấy tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm tỷ trọng thấp so với tổng nguồn vốn huy động tại chỗ. Cụ thể năm 2003 chiếm 7.700
triệu đồng trong 57.220 triệu đồng vốn huy động hay chiếm 4,67 trong 34,72. Năm 2004 chiếm 11.300 triệu đồng trong 83.800 triệu đồng hay chiếm 6,01
trong 44,61 tăng lên 46,7 tương ứng tăng 3.600 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005, chiếm 12.407 triệu đồng trong 109.828 triệu đồng hay 5,73 trong
GVHD: Phạm Xuân Minh 24
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
50,67 tăng 9,79 tương ứng tăng 1.107 triệu đồng so với năm 2004. Mặc dù, chiếm tỷ trọng ít so với tổng nguồn vốn huy động tại chỗ nhưng tiền gửi có kỳ hạn
dưới 12 tháng đều tăng dần qua các năm. Với mức lãi suất tương ứng với thời gian gửi tiền, nên lãi suất loại tiền gửi này khơng cao lắm.

2.3. Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng:


Với mức lãi suất thời gian càng dài thì lãi suất càng cao, mức lãi suất được điều chỉnh thay đổi hợp lý theo các năm nên luôn thu hút khách hàng gửi loại tiền gửi
này. Năm 2003 tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng chiếm 16.800 triệu đồng trong 57.200
triệu đồng, năm 2004 chiếm 20.000 triệu đồng tăng 19,04 tương ứng tăng 3.200 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 tăng 63,46 tương ứng tăng 12.692 triệu
đồng so với 2004. Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng là loại tiền gửi mang tính ổn định, là hình thức
huy động truyền thống của ngân hàng, nhiều áp phích treo ở khắp đường phố, thị trấn để quảng bá các chương trình khuyến mãi khi gửi tiền, có mức lãi suất hấp
Tóm lại, nhờ có các chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, cuộc sống của người dân vùng nông thôn được cải thiện hơn trước, người dân huyện
Chợ Lách ngày càng tiếp cận các kiến thức mới, người dân ý thức được gửi tiền vào Ngân hàng nhiều hơn, một phần tạo ra thêm thu nhập cho bản thân, một phần
nhờ thơng qua ngân hàng, qua hoạt động tín dụng giúp những người khơng có vốn, họ có vốn để sản xuất góp phần cho việc phát triển kinh tế huyện nhà. Nhờ đó
nguồn vốn huy động tăng lên qua các năm.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY VỐN NGẮN HẠN TẠI CHI NHÁNH NHNoPTNT HUYỆN CHỢ LÁCH:
1.Tình hình cho vay ngắn hạn tại Chi nhánh NHNoPTNT huyện Chợ Lách:
Hiện nay khơng chỉ có NHNoPTNT Chợ Lách mà kể cả những Ngân hàng khác việc huy động vốn là một điều khó nhưng việc sử dụng vốn sao cho đạt
hệu quả là điều khó hơn. Một trong những vấn đề mà cán bộ tín dụng quan tâm là làm sao sử dụng vốn đạt hiệu quả cao, hạ thấp tỷ lệ rủi ro, đó là cả một nghệ thuật
trong kinh doanh. Hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thể hiện khả năng quản lý của cán bộ tín dụng, đồng thời nó quyết định sự tồn tại phát triển hay tiêu vong
GVHD: Phạm Xuân Minh 25
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
của ngân hàng. Tín dụng ngắn hạn một mặt giúp cho hoạt động của ngân hàng đi lên, thu lại được nhiều lợi nhuận do vòng vay vốn tín dụng ngắn, mặt khác nếu
ngân hàng không thu hồi được các khoản nợ và dẫn đến các khoản nợ này chuyển sang nợ q hạn , nợ khó đòi thì đến một lúc nào đó ngân hàng sẽ khơng còn khả
năng thanh tốn cho người gửi tiền và cũng không thực hiện được việc cho vay nữa, lúc này ngân hàng sẽ bị phá sản.
Bảng 3- Tình hình cho vay ngắn hạn qua 3 năm 2003-2005
Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu
2003 2004
2005 20042003
20052004 ST
ST 1.DS cho vay
2.DS thu nợ 3.Dư nợ cuối năm
4.Dưnợ bình quân 5.Nợ quá hạn
81.890 91.067
93.895 98.484
759 113.222
110.883 96.284
95.090 744
124.072 120.771
99.585 97.935
792 31.332
19.766 2.389
-2.394 -15
38.3 21.7
2.54
-2.43 1.98
10.850 9.938
3.301 2.845
48 9.58
88.96 3.4
2.99 6.45
Nguồn: Phòng tín dụng Với diện tích cả huyện là 18.288km2, trong đó đất nơng nghiệp chiếm tỷ lệ cao, số
dân khoảng 130.820 người, trong đó khoảng hơn 80 sống bằng nghề nơng, nên hoạt động tín dụng của NHNoPTNT Chợ Lách luôn nhắm vào thành phần này
để phát triển hoạt động tín dụng của mình
.

1.1. Doanh số cho vay ngắn hạn:


Doanh số cho vay thể hiện khả năng hoạt động của ngân hàng, ta thấy qua bảng kết quả hoạt động cho vay ngắn hạn doanh số cho vay tăng dần qua các năm.
Năm 2003, doanh số cho vay ngắn hạn là 81.890 triệu đồng, năm 2004 doanh số cho vay ngắn hạn là 113.222 triệu đồng tăng 38,26 tương ứng tăng 31.332 triệu
đồng so với năm 2003. Năm 2005 doanh số cho vay là 124.072 triệu đồng tăng 9,58 tương ứng tăng 10.850 triệu đồng so với năm 2004. Qua kết quả trên, cho
thấy NHNoPTNT Chợ Lách có bước chuyển biến trong việc sử dụng vốn. Ngày càng ngày người dân cần vốn để phục vụ cho việc sản xuất của mình càng nhiều,
hiện Chợ Lách có 3 hợp tác xã, các vùng lúa chuyên canh…rất cần vốn để đầu tư.
GVHD: Phạm Xuân Minh 26
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Tuy nhiên, mức cho vay càng cao thì rủi ro càng lớn đặt cho ngân hàng một thử thách, trình độ quản lý điều hành, trình độ chuyên mơn của cán bộ tín dụng cần
phải nâng lên.

1.2. Doanh số thu nợ ngắn hạn:


Mấy năm qua công tác thu nợ của NHNoPTNT Chợ Lách đạt nhiều kết quả cao. Cụ thể năm 2003 doanh số thu nợ ngắn hạn là 91.067 triệu đồng, năm
2004 doanh số thu nợ là 110.833 triệu đồng tăng 21,7 tương ứng tăng 19.766 triệu đồng với năm 2003. Năm 2005 doanh số thu nợ là 120.771 triệu đồng tăng
8,96 tương ứng tăng 9.938 triệu đồng so với năm 2004. Doanh số cho vay tăng qua các năm nên doanh số thu nợ cũng tăng qua các năm, ngày càng cuộc sống của
người dân huyện được thoải mái hơn nên việc thanh toán nợ cho ngân hàng khi đến hạn khơng còn chậm trễ, một phần cũng do sự tích cực của cán bộ tín dụng, sự
uy tín của khách hàng nên cơng tác thu nợ cũng gặp được nhiều thuận lợi.

1.3. Dư nợ ngắn hạn:


Dư nợ phản ánh khả năng hoạt động của ngân hàng, năm 2003 dư nợ ngắn hạn là 93.895 triệu đồng. Năm 2004 dư nợ ngắn hạn là 96.284 triệu đồng tăng
2,54 tương ứng tăng 2.389 triệu đồng so với năm 2003. Đến năm 2005 dư nợ ngắn hạn là 99.585 triệu đồng tăng 3,4 tương tăng 3.301 triệu đốngo với năm
2004. Tỷ lệ dư nợ càng cao chứng tỏ hoạt động của ngân hàng có hiệu quả, từng bước khẳng định được mình. Đạt được kết quả như vậy là do Chi nhánh
NHNoPTNT Chợ Lách có đội ngũ cán bộ có quyết tâm rất cao tận tình và chu đáo trong công việc. Trước khi cho vay, Chi nhánh thông qua chính quyền địa
phương, xã, ấp, các tổ chức giúp đỡ trong việc thẩm định, do đó hạn chế việc cho vay sai đối tượng, kiểm tra sử dụng vốn kịp thời. Trong thành cơng khơng thể
khơng có rủi ro, dù đã cố gắngnhưng chi nhánh NHNoPTNT chợ lách cũng không tránh khỏi rủi ro, tuy nhiên những rỉu ro đó không làm ảnh hưởng đến hoạt
động của ngân hàng.

1.4. Nợ quá hạn ngắn hạn:


Kinh doanh của ngân hàng là một trong những hoạt động kinh doanh rủi ro nhất, dù đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế thấp nhất mức rủi ro xảy ra, tuy vậy
vẫn không thể tránh khỏi rủi ro. Cụ thể năm 2003, nợ quá hạn là 759 triệu đồng, năm 2004 là 744 triệu đồng giảm 1,98 tương ứng giảm 15 triệu đồng so với
GVHD: Phạm Xuân Minh 27
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
2003. Tuy có giảm nhưng không nhiều lắm, năm 2005 nợ quá hạn là 792 triệu đồng tăng 6.45 tương ứng tăng 48 triệu đồng so với 2004. Chỉ giảm được năm
2004, nhưng đến 2005 lại tăng lên, mặc dù nợ quá hạn tăng nhưng doanh số cho vay vẫn khơng ảnh hưởng.
Tóm lại, ba năm qua việc sử dụng vốn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chợ Lách ngày càng khả thi hơn .
2.Phân tích tình hình doanh số cho vay ngắn hạn tại CN NHNoPTNT Chợ Lách:

2.1. Doanh số cho vay ngắn hạn theo ngành qua 3 năm2003-2005:


Mấy năm qua nền kinh tế Chợ Lách đã có nhiều chuyển biến, nhân dân huyện Chợ Lách đã thực hiện tốt các chỉ thị của Nhà nước về phát triển kinh tế nông thôn, là
huyện xưa nay với truyền thống sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, bên cạnh đó, trong mấy năm gần đây thì phong trào trồng bưởi da xanh, bòn bon thái…, chăn
ni như heo, bò, dê…, cũng đang rất phát triển, nhiều cơ sở sản xuất như các lò sấy nhãn, đóng rỗ trái cây…, lần lượt ra đời. Muốn đầu tư họ cần phải có vốn đầu
tư, NHNoPTNT Chợ Lách ln sát cánh giúp đỡ họ có vốn đầu tư vào việc sản xuất của mình.
Bảng 4- Doanh số cho vay theo ngành qua 3 năm 2003-2005
Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu
2003 2004
2005 20042003
20052004 Số tiền
Số tiền 1.Trồng trọt
2.Chăn nuôi 3. SXKD khác
Tổng 68.296
9.171 4.423
81.890 90.125
14.832 8.265
113.222 97.272
16.750 10.050
124.072 21829
5.661 3.842
31.332 31,96
61,70 86,70
38,30 7.147
1.918 1.785
10.850 7,90
12,90 21,50
9,58 Nguồn: phòng tín dụng
SXKD:sản xuất kinh doanh
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng đã phát ra cho vay trong một khoảng thời gian nào đó khơng kể món vay đó thu hồi
về hay chưa. NHNoPTNT Chợ Lách từ khi thành lập đến nay đều gắn bó với hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân huyện Chợ Lách. Trong đó, ngành
trồng trọt là ngành có doanh số cho vay nhiều nhất, với dân số trên 80 sống bằng
GVHD: Phạm Xuân Minh 28
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
nghề nông, người dân chủ yếu vay để phát triển kinh tế vườn của mình, mua thêm con giống phát triển chăn nuôi.
Biểu đồ 4- Doanh số cho vay theo ngành qua 3 năm 2003-2005
2.1.1.Về trồng trọt:
Trong cơ cấu cho vay ngắn hạn thì doanh số cho vay ngành trồng trọt luôn chiếm tỷ trọng cao nhất từ 78 trở lên. Năm 2003 ngành trồng trọt có doanh số cho vay
là 68.296 triệu đồng, năm 2004 doanh số cho vay là 90.125 triệu tăng 31,96 tương ứng tăng 21.829 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 doanh số cho vay là
97.272 triệu đồng tăng 7,9 tương ứng tăng 7.147 triệu so với năm 2004. 2.1.2. Về chăn nuôi:
Mấy năm qua, mặc dù tỷ trọng ngành chăn nuôi tương đối thấp nhưng đều tăng qua các năm, do gần đây phong trào chăn nuôi gia súc như: bò, dê, heo, cá ., đang
phát triển mạnh trong các năm qua. Người dân có thể dùng thời gian thừa để chăn ni, có thể tận dụng các thức ăn tự nhiên sẵn có như; cỏ…, muốn phát đàn gia
súc thì cần phải có vốn, với mức lãi suất cho vay thấp không ảnh hưởng nhiều đến thu nhập của người dân vay vốn. Cụ thể năm 2003 doanh số cho vay ngành chăn
nuôi là 9.171 triệu đồng, năm 2004 doanh số cho vay là 14.832 triệu đồng tăng 61,7 tương ứng tăng 5.661 triệu đồng so với 2003. Năm 2005 doanh số cho vay
là 16.750 triệu đồng tăng 12,9 tương ứng tăng 1.918 triệu đồng so năm 2005.

2.1.3. Về sản xuất kinh doanh khác:


Các hoạt động sản xuất kinh doanh khác như lò sấy nhãn, các dịch vụ buôn bán…, ngày càng phát triển ở Chợ Lách, tuy doanh số cho vay chiếm tỷ trọng không lớn
GVHD: Phạm Xuân Minh 29
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
nhưng đều tăng lên qua các năm và Nhà nước cũng có các chính sách khuyến khích phát triển các hoạt động kinh doanh này. Cụ thể năm 2003 doanh số cho vay
là 4.423 triệu đồng, năm 2004 năm doanh số cho vay là 8.265 triệu đồng tăng 86,7 tương ứng tăng 3.842 triệu đồng so với năm 2003. Sở dĩ doanh số cho vay
tăng lên cao trong năm 2004 tăng cao so với năm 2003 là do trong năm 2004 có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh lần lượt ra đời ngày càng nhiều. Năm 2005 doanh
số cho vay là 10.050 triệu đồng tăng 21,5 tương ứng tăng 1.785 triệu đồng so với năm 2004.
Tóm lại, doanh số cho vay theo ngành cho chúng ta thấy ngành trồng trọt luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tất cả các ngành, là khu vực nông thôn nên trồng trọt
luôn là ngành sản xuất chính của người dân huyện Chợ Lách.
2.2.Doanh số cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế:
Là huyện sống chủ yếu bằng nghề nông nên cho vay hộ nông dân luôn chiếm tỷ trọng lớn so với các thành phần kinh tế khác.
Bảng 5- Doanh số cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế qua 3 năm2003-2005
Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu
2003 2004
2005 20042003
20052004 Số tiền
Sốtiền 1.Kinh tế cá thể
2.DN ngoài QD Tổng
81.407 483
81.890 112.249
973 113.222
123.204 868
124.072 30.842
490 31.332
37,9 101
38,3 10.955
-105 10.850
9,76 -10,8
9,58 Nguồn: Phòng tín dụng
DNNQD: Doanh nghiệp ngồi quốc doanh CBCNV: Cán bộ cơng nhân viên

2.2.1. Đối với kinh tế cá thể:


Theo lời phát biểu của Giám đốc NHNoPTNT Việt Nam:” Thực tế hoạt động tín dụng trên thương trường 10 năm qua cho phép chúng ta khẳng định nơng dân là
khách hàng vay trả sòng phẳng, người dân khơng chỉ là khách hàng mà còn là người bạn đồng hành có uy tín của NHNoPTNT Việt Nam”. Do vậy trong quá
trình hoạt động của mình Ngân Hàng luôn chú trọng đến thành phần kinh tế này. Qua bảng kết quả trên cho ta thấy doanh số cho vay ngắn hạn theo hộ gia đình
ln chiếm tỷ trọng cao hơn các thành phần kinh tế khác. Cụ thể năm 2003 doanh
GVHD: Phạm Xuân Minh 30
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
số cho vay là 81.407 triệu đồng, năm 2004 doanh số cho vay là 112.249 triệu đồng tăng 37,9 tương ứng tăng 30.084 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 doanh
số cho vay là 123.204 triệu đồng tăng 9,76 tương ứng tăng 10.955 triệu đồng so với năm 2004. Ta thấy doanh số cho vay ngắn hạn tăng dần qua các năm, kinh tế
cá thể là loại hình kinh tế phát triển từ lâu ở vùng nơng thôn nhiều phong trào chăn nuôi, làm cây giống, lập các cơ sở chế biến… nên doanh số cho vay ngắn hạn theo
thành phần kinh tế này mỗi năm điều tăng lên.

2.2.2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh:


Hiện nay, toàn huyện Chợ Lách có khoảng trên 40 doanh nghiệp tư nhân, khoảng trên 20 cơ sở sản xuất- dịch vụ nhỏ, tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu
ngành, nhưng mấy năm qua thành phần kinh tế này đã đóng góp rất nhiều vào việc phát triển kinh tế huyện. Cụ thể năm 2003 doanh số cho vay là 483 triệu đồng,
năm 2004 doanh số cho vay là 973 triệu đồng tăng 101 tương ứng tăng 490 triệu đồng với năm 2003 qua kết quả cho ta thấy các hoạt động của thành phần kinh tế
này phát triển mạnh, họ cần nhiều vốn đầu tưnên doanh số năm 2004 tăng cao như vậy. Năm 2005 doanh số cho vay là 868 triệu đồng giảm 10,8 tương ứng giảm
105 triệu đồng so với năm 2004, năm 2005 doanh số cho vay giảm là do một số cơ sở sản nhãn đóng rổ, lò sấy nhãn hoạt động kinh doanh khơng đạt hiệu quả nên
ngưng bớt hoạt động. Lý do thành phần kinh tế này có doanh số cho vay đạt ở mức thấp là do thành phần
kinh tế này không phải là ngành hàng chiến lược trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nên Ngân hàng hạn chế cho vay đối với thành phần kinh tế này.
3.Thu nợ ngắn hạn từ qua 3 năm 2003-2005: 3.1. Doanh số thu nợ ngắn hạn theo ngành qua 3 năm 2003-2005
Với phương châm “chất lượng, an toàn, hiệu quả, bền vững”, thời gian qua cơng tác thu nợ, của NHNoPTNTChợ Lách khá tốt.
Nhìn chung, vốn cho vay được thu về tăng lên rõ rệt qua 3 năm là do ngân hàng thực hiện tốt việc đôn đốc trả nợ của khách hàng, gửi giấy báo nợ kịp thời đến
khách hàng khi đến hạn và tình hình thu nợ ngắn hạn được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 6: Doanh số thu nợ ngắn hạn theo ngành qua 3 năm 2003-2005:
Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu
2003 2004
2005 20042003
20052004
GVHD: Phạm Xuân Minh 31
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Số tiền Số tiền
1. Trồng trọt 2.Chăn nuôi
3.SXKD khác Tổng
75.949 10.199
4.919 91.067
88.223 14.519
8.091 110.833
94.684 16.304
9.783 120.771
12.274 4.320
3.172 19.766
16,2 42,3
64,5 21,7
6.461 1.786
1.692 9.938
7,3 12,3
20,9 8,96
Nguồn: Phòng tín dụng
SXKD: sản xuất kinh doanh
Qua bảng số liệu ta thấy:

3.1.1. Về trồng trọt:


Năm 2003 doanh số thu nợ là 75.949 triệu đồng, sang năm 2004 là 88.223 triệu đồng tăng 16,2 tương ứng tăng 12.274 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005
doanh số thu nợ là 94.684 triệu đồng tăng 7,3 tương ứng tăng 6.461 triệu đồng so với 2004. Sở dĩ doanh số thu nợ tăng qua các năm là do:
+ Mỗi năm nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nghề làm vườn của người dân ngày càng thu được lợi nhuận dẫn đến người vay trả nợ đúng hạn.
+Nghề làm vườn mỗi năm đều có mùa thu hoạch đầu vụ người vay để chăm sóc đầu tư vào mảnh vườn của mình, cuối vụ thu hoạch thì trả lãi cho ngân hàng.
3.1.2.Chăn ni:
Khơng khác gì so với ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong doanh số cho vay ngắn hạn nhưng doanh số thu nợ của nó vẫn tăng qua
các năm, cụ thể năm 2003 doanh số thu nợ là 10.199 triệu đồng, năm 2004 doanh số thu nợ là 14.519 triệu đồng tăng 42,3 tương ứng tăng 4.320 triệu đồng. Năm
2005 doanh số thu nợ là 16.304 triệu đồng tăng 12,3 tương ứng tăng 1.785 triệu đồng so với năm 2004.
GVHD: Phạm Xuân Minh 32
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni

3.1.3. Sản xuất kinh doanh khác:


Về sản xuất kinh doanh khác do thời gian qua khách hàng vay vốn kinh doanh dạt hiệu quả nên doanh số thu nợ cũng thu được một cách thuận lợi hơn và tăng lên
đàng kể. cụ thể năm 2003 doanh số thu nợ là 4.919 triệu đồng, đến năm 2004 là 8.091 triệu đồng tăng 64,5 tương ứng tăng 3.172 triệu đồng so với năm 2003.
Như vậy, trong năm 2004 nhờ nắm được các phương hướng kinh doanh thích hợp nên khách hàng trả nợ kịp thời và tăng lên so với năm 2003. Năm 2005 doanh số
thu nợ là 9.783 triệu đồng tăng 20,9 tương ứng tăng 1.692 triệu đồng so với năm 2004.

3.2. Doanh số thu nợ ngắn hạn theo thành phần kinh tế qua 3 năm 2003 – 2005


Doanh số thu nợ phản ánh khả năng trả nợ của khách hàng vay, sự uy tín của khách hàng đối với ngân hàng
Bảng 7 – Doanh số thu nợ ngắn hạn theo thành phần kinh tế từ năm 2003 – 2005.
Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu
2003 2004
2005 20042003
20052004 Số tiền
Số tiền 1.Kinh tế cá thể
2. DNNQD Tổng
86.969 537
91.067 109.880
953 110.833
119.926 845
120.771 19.350
416 19.766
21,8 77,4
21,7 10.046
-108 9.938
9,14 -11,3
8,96 Nguồn: Phòng tín dụng
DNNQD:Doanh nghiệp ngồi quốc doanh CBCNV: Cán bộ công nhân viên

3.2.1. Kinh tế cá thể:


Cho vay trong thành phần này chiếm phần lớn trong tổng doanh số cho vay theo thành phần kinh tế, kinh tế cá thể chủ yếu hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn
nuôi nên doanh số thu nợ tăng qua các năm. Cụ thể năm 2003 doanh số thu nợ là 90.530 triệu đồng, năm 2004 doanh số thu nợ là 109.880 triệu đồng tăng 21,8
tương ứng tăng 19.350 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 doanh số thu nợ là 119.926 triệu đồng tăng 9,14 hay tăng 10.046 triệu đồng so với năm 2004.
GVHD: Phạm Xuân Minh 33
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni

3.2.2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.


Năm 2003 doanh số thu nợ là 537 triệu đồng năm 2004 doanh số thu nợ là 963 triệu đồng tăng 77,4 tương ứng tăng 416 triệu đồng so với năm 2003, năm 2005
doanh số thu nợ là 845 triệu đồng giảm 11,3 tương ứng giảm 108 triệu đồng so với năm 2004. Sở dĩ năm 2005 doanh số thu nợ giảm là do các doanh nghiệp ngồi
quốc doanh như các lò sấy chẳng hạn, do giá nông sản thấp, tiền công thợ nhiều nên nhiều lò sấy hoạt động khơng hiệu quả nên chậm trễ trong việc thanh toán nợ
cho ngân hàng nên doanh số thu nợ giảm nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
4. Dư nợ ngắn hạn qua 3 năm từ 2003-2005: 4.1. Dư nợ ngắn hạn theo ngành qua 3 năm 2003-2005
Một số ngân hàng muốn hoạt động tốt không chỉ nâng cao doanh số cho vay, đánh giá đúng năng lực khách hàng mà còn tránh được rủi ro đơi khi xuất hiện trong q
trình phân tích tín dụng. Dư nợ tín dụng nó càng phản ánh một cách thực tế hơn, nó cho biết tình hình cho vay và thu nợ đạt hiệu quả như thế nào đến thời điểm lập
báo cáo. Để thấy rõ các thành phần làm ảnh hưởng đến dư nợ ta phân tích từng mục như sau:
Bảng 8- Dư nợ ngắn hạn theo ngành
Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu
2003 2004
2005 20042003
20052004 Số tiền
Số tiền 1. Trồng trọt
2. Chăn nuôi 3. SXKD khác
Tổng 82.909
9.577 1.409
93.895 84.811
9.890 1.583
96.284 87.399
10.336 1.850
99.585 1.902
313 174
2.389 2,3
3,3 12,3
2,54 2.588
446 267
3.301 3,05
4,5 16,9
3,43 Nguồn: Phòng tín dụng
SXKD: sản xuất kinh doanh
4.1.1.Về trồng trọt:
Qua bảng số liệu ta thấy tình hình dư nợ tăng qua các năm, chứng tỏ người dân ngày càng có nhu cầu về vốn. Năm 2003 dư nợ là 82.909 triệu đồng, năm 2004 dư
nợ là 84.811 triệu đồng tăng 2,3 tương ứng tăng 1.902 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 số dư nợ là 87.399 triệu đồng tăng 3,05 tương ứng tăng 2.588
GVHD: Phạm Xuân Minh 34
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
triệu đồng so với 2004. Dư nợ tăng dần qua các năm thể hiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng, sự nỗ lực của cán bộ tín dụng.

4.1.2. Về chăn nuôi:


Năm 2003 số dư nợ trong chăn nuôi là 9.577 triệu đồng, năm 2004 là 9.890 triệu đồng tăng 3,3 hay tăng 313 triệu đồng so với 2003. Năm 2005 số dư nợ là
10.336 triệu đồng tăng 4,5 hay tăng 446 triệu đồng.

4.1.3. Sản xuất kinh doanh khác:


Năm 2003 số dư nợ là 1.409 triệu đồng, năm 2004 là 1.583 triệu đồng tăng 12,3 tương ứng tăng 174 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 dư nợ là 1.850 triệu
đồng tăng 16,9 hay tăng 174 triệu đồng. Như vậy, dư nợ của ngân hàng tăng đều qua các năm, đó là do ngân hàng ln
nhắn vào lĩnh vực này, góp phần phát triển nền kinh tế huyện nhà.
4.2. Dư nợ ngắn hạn theo thành phần kinh tế: Bảng 9: Dư nợ ngắn hạn theo thành phần kinh tế qua 3 năm 2003-2005
Đơn vị tính :triệu đồng Chỉ tiêu
2003 2004
2005 20042003
20052004 Số tiền
Số tiền
1. Kinh tế cá thể 2. DNNQD
Tổng 90.233
3.662 93.895
92.602 3.682
96.284 95.880
3.705 99.585
2.369 20
2.389 3,5
0,5 2,54
3.278 68
3.301 3,54
1,8 3,43
Nguồn: Phòng tín dụng Qua bảng số liệu ta thấy tình hình dư nợ theo thành phần kinh tế này tăng qua các
năm.

4.2.1. Kinh tế cá thể:


Là huyện sống chủ yếu bằng nghề nông, đa phần người dân hoạt động trên quy mô nhỏ phù hợp với khả năng kiểm sốt của mình nhờ một phần tích lũy còn đa phần
là vay từ ngân hàng để phát triển sản xuất. Cụ thể năm 2003 dư nợ ngắn hạn là 90.233 triệu đồng, năm 2004 dư nợ là 92.602 triệu đồng tăng 3,5 tương ứng tăng
2.369 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 dư nợ là 95.880 triệu đồng tăng 3,54 so với 2004.
GVHD: Phạm Xuân Minh 35
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni

4.2.2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh:


Tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng dư nợ ngắn hạn nhưng tình hình dư nợ ngắn hạn của thành phần kinh tế này tăng lên qua các năm. Năm 2003 dư nợ ngắn
hạn là 3.662 triệu đồng, năm 2004 dư nợ là 3.682 triệu đồng tăng 0,5 tương ứng tăng 20 triệu đồng so với 2003. Năm 2005 dư nợ là 3.705 triệu đồng tăng 1,8
tương ứng tăng 68 triệu đồng
5. Nợ quá hạn ngắn hạn qua 3 năm 2003-2005: 5.1.Nợ quá hạn ngắn hạn theo ngành qua 3 năm 2003-2005:
Khi đánh giá chất lượng tín dụng, thơng thường chúng ta nhìn nhận trên góc cạnh nơi nào có nợ q hạn thấp thì chất lượng tín dụng cao, nơi nào có nợ q hạn cao
thì chất lượng tín dụng thấp. Nhưng đây chỉ mới là hiện tượng bởi vì chất lượng tín dụng còn phải được đánh giá qua tình hình kinh tế xã hội, nó tác động đến nền
kinh tế như thế nào. Ta xem xét tình hình nợ quá hạn ngắn hạn theo ngành của Chi nhánh NHNoPTNT Chợ Lách qua bảng sau:
Bảng 10- Nợ quá hạn theo ngành qua 3 năm 2003-2005
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu 2003
2004 2005
20042003 20052004
Số tiền Số tiền
1. Trồng trọt 2.Chăn nuôi
3. SXKD khác Tổng
519 86
154 759
511 69
164 744
559 65
168 792
-8 -17
10 -15
-1,54 -19,7
6,5 -1.97
48 -4
4 48
9,4 -5,8
2,4 6,45
5.1.1.Trồng trọt:
Năm 2003, nợ quá hạn là 519 triệu đồng, trong tổng nợ quá hạn 759 triệu đồng. Năm 2004 có tỷ trọng giảm 1.54 hay giảm 8 triệu đồng. Năm 2005 tăng 9,4
tương ứng tăng 48 triệu đồng so với 2004.

5.1.2. Chăn nuôi:


Năm 2003 nợ quá hạn là 86 triệu trong 759 triệu đồng, năm 2004 là 69 triệu đồng giảm 19,7 tương ứng giảm 17 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 giảm 4
triệu đồng tương ứng giảm 5,8 so với năm 2004. Nợ quá hạn giảm qua các năm, dù xảy ra dịch gia cầm gia súc nhưng khơng ảnh hưởng nhiều đến tình hình chăn
ni của người dân khơng ảnh hưởng nhiều tình hình thu nợ.
GVHD: Phạm Xuân Minh 36
SVTH: Lê Thị Ngọc Ni

5.1.3. SXKD khác:


Năm 2003 nợ quá hạn là 154 triệu trong 759 triệu đồng, năm 2004 là 164 triệu đồng tăng 6,5 tương ứng tăng 10 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 tăng
2,4 tương ứng tăng 4 triệu đồng so với năm 2004.

5.2. Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế qua 3 năm 2003-2005.


Trong hoạt động cho vay, doanh số cho vay hộ gia đình ln chiếm tỷ trọng lớn, doanh số cho vay càng lớn thì rủi ro càng cao, điều đó thể hiện qua bảng sau:
Bảng 11- Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế qua 3 năm 2003-2005
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu 2003
2004 2005
20042003 20052004
Số tiền Số
tiền
1. Kinh tế cá thể 2. DNNQD
Tổng 606
153 759
602 142
744 588
204 792
-4 -11
-15 -0,7
-7,19 -1,97
-14 62
48 -2,3
43,7 6,45
Nguồn: Phòng tín dụng
DNNQD: Doanh nghiệp ngồi quốc doanh CBCNV: Cán bộ cơng nhân viên
5.2.1.Kinh tế cá thể:
Ba năm qua, tình hình nợ quá hạn giảm dần qua các năm, cụ thể năm 2004 giảm0,84 so với năm 2003.Năm 2205 giảm 3,38 so với năm 2004.
5.2.2.Doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Năm 2004, nợ quá hạn giảm 7,92 tương ứng giảm 11 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 lại tăng 43,7 so với năm 2004.
Nhìn chung ta thấy nợ quá hạn có xu hướng biến động lên xuống khơng nhiều lắm, cho thấy người dân huyện Chợ Lách làm ăn có hiệu quả, cuộc sống từng bước được nâng
lên, góp phần phát triển kinh tế huyện nhà. Tuy nhiên năm qua số nợ q hạn có tăng lên chút ít, đó là do có một số hộ làm ăn khơng hiệu quả, một phần giá nơng sản có
phần giảm sút cho nên tạm thời họ khơng hồn trả nợ cho Ngân hàng.

III. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CHO VAY NGẮN HẠN TẠI CHI NHÁNH NHNoPTNT CHỢ LÁCH.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (60 trang)

×