1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Cho vay. Các nghiệp vụ khác. - Mua bán ngoại tệ :

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (405.15 KB, 58 trang )


Chuyên đề tốt nghiệp Trang 6
tạo nên nhu cầu thanh khoản cao, kém ổn định vì ngân hàng phải chi trả thường xuyên và bất kỳ lúc nào theo yêu cầu của khách hàng.
-Tiền gửi có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thời hạn nhất định 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm,….
Mục đích của người gửi tiền là lấy lãi và ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này để cho vay, vì vậy ngân hàng phải trả lãi cho loại tiền gửi có kỳ hạn và
lãi suất cao hay thấp thường phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và các yếu tố khác trên thị trường.
Theo nguyên tắc khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn đã thảo thuận, nhưng trên thực tế nhiều khách hàng có nhu cầu rút vốn ra trước hạn vì nhiều lí do, còn
ngân hàng để thu hút được nhiều khách hàng, tăng lượng tiền gửi, đã cho phép khách hàng rút tiền ra trước hạn. Trong những trường hợp này, khách hàng chỉ được hưởng lãi
suất thấp hơn lãi suất đã quy định.
Tiền gửi có kỳ hạn là một nguồn vốn có tính chất ổn định, vì vậy ngân hàng thường trả lãi cao cho hình thức này và chú trọng các biện pháp nhằm gia tăng loại tiền
gửi này. Theo nguyên tắc, thời hạn khách hàng gửi tiền càng dài thì lãi suất được hưởng càng cao.
Để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, ngân hàng phát hành các kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng và các giấy tờ có giá khác.
-Tiền gửi tiết kiệm.
Đây là tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi.
Tiền gửi tiết kiệm có các loại: tiết kiệm khơng kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm khác.

1.1.2.2. Cho vay.


Ngân hàng Thương mại cho vay đối với nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các cá nhân hộ gia đình.
Hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng Thương mại. Nó thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn trong các khoản mục thuộc tài sản có,
tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Cho vay là nghiệp vụ sử dụng vốn, theo đó NHTM thỏa thuận với khách hàng sử
dụng một số tiền nhất định với cam kết phải hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.

1.1.2.3. Các nghiệp vụ khác. - Mua bán ngoại tệ :


GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 7
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi mua – bán ngoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác
và hưởng phí dịch vụ. -Bảo quản vật có giá
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán - Quản lý ngân quỹ
- Tài trợ các hoạt động của chính phủ - Bảo lãnh : Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa
và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác,… - Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán - Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
- Cung cấp các dịch vụ đại lý. - vv…
1.1.3 Cho vay của NHTM. Căn cứ vào thời hạn cho vay có các loại: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và
cho vay dài hạn.
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Đây là loại cho vay bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu
chi tiêu cá nhân. - Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Cho
vay trung han chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm máy móc tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Đây là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây nhà ở, mua sắm thiết bị, phương tiện vận tải,…Có
quy mơ lớn hoặc để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp mới. Căn cứ vào mục đích vay vốn có các loại:
- Cho vay sản xuất lưu thơng hàng hóa: loại cho vay này được cấp cho các chủ thể kinh doanh nhằm hỗ trợ vốn để mở rộng hoạt động sản xuất và lưu thơng hàng hóa.
- Cho vay tiêu dùng: là loại hình cho vay đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân.
Căn cứ vào bảo đảm tiền vay có các loại:
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay được thực hiện khi người đi vay có một khối lượng hàng hóa, tài sản tương đương, được dùng trực tiếp để đảm bảo
cho món nợ vay.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 8
- Cho vay khơng có bảo đảm về tài sản: là khoản cho vay được cấp khơng có giá trị vật tư, hàng hóa hoặc tài sản làm đảm bảo trực tiếp mà chỉ dựa trên uy tín, sự tín
nhiệm của cá nhận, tổ chức tín dụng đối với bên nhận tín dụng. Căn cứ vào tính chất của khoản vay có các loại:
- Cho vay từng lần: là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng đều phải làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng là loại cho vay có mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một khoản thời gian nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: là việc ngân hàng cam kết đảm bảo
sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định, trong một thời gian nhất định.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là phương thức cho vay mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số dư có trên tài khoản vãng
lai, tới một hạn mức nhất định trong một thời hạn quy định. - Cho vay theo dự án đầu tư:
- Cho vay đồng tài trợ cho vay hợp vốn: là phương thức cho vay trong đó có hai hay nhiều tổ chức tín dụng tham gia cho vay đối với một dự án đầu tư hoặc phương án
sản xuất kinh doanh của một khách hàng vay vốn. 1.2 Hoạt động cho vay của NHTM đối với HND.
1.2.1 HND. Quan niệm HND. Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản
xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Đặc điểm HND.
Tại Việt Nam hiện nay, gần 80 dân số là sinh sống ở nơng thơn và đại bộ phận còn sản xuất mang tính tự cấp, tự túc. Trong điều kiện đó, hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà
ở đó diễn ra q trình phân cơng tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng.
Với tư cách là đơn vị kinh tế, hộ được phân tích nhiều góc độ khác nhau như: - Là chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, lao động, vốn.
- Là đơn vị tham gia vào các dạng hoạt động kinh tế - Trình độ phát triển hộ : Tự cấp tự túc các hàng hóa.
- Hiệu quả hoạt động kinh tế hộ. Ở Việt Nam, hộ nơng dân có những đặc điểm cơ bản sau:
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 9
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cấp hồn tồn đến sản xuất hàng hóa. Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân
và thị trường. - Các hộ nơng dân ngồi hoạt động nơng nghiệp trồng trọt và chăn ni còn
tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau. - Khả năng của hộ nơng dân chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu sản xuất giản đơn nhờ
sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất và lao động. - Sản xuất chịu nhiều rủi ro,nhất là rủi ro khách quan thiên tai, dịch bệnh,…,
trong khi đó khả năng khắc phục lại hạn chế. - Hộ nghèo và hộ trung bình chiếm tỷ trọng cao, khó khăn lớn nhất của hộ nông
dân là thiếu vốn. Từ những nội dung nêu trên cho thấy kinh tế hộ rất phong phú, đa dạng; Đối
tượng cho vay mang tính tổng hợp gồm nhiều lĩnh vực; Mức độ và hiệu quả sử dụng vốn của từng loại hộ cũng rất khác nhau.
Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế có sự kết hợp hài hòa giữa sản xuất, quy mô sản xuất, điều kiện sản xuất với lực lượng lao động cụ thể của gia đình. Vì lực lượng
lao động luôn biến động theo thời gian, khoa học kỹ thuật nông nghiệp luôn luôn phát triển; yêu cầu thị trường thay đổi, lợi ích của từng gia đình cũng thay đổi.Do đó, quy mơ
và phương hướng sản xuất của các kinh tế hộ nông dân thường luôn luôn vận động và biến đổi. Vì vậy, kinh tế hộ nơng dân, nhìn chung và theo xác suất thì khá ổn định
nhưng nhìn riêng từng đơn vị kinh tế hộ cụ thể thì khá sơi động.
Quy mơ của từng đơn vị kinh tế hộ nông dân được xét theo 3 yếu tố cơ bản : - Quy mơ diện tích đất đai sử dụng
- Quy mô sử dụng vốn và lao động - Quy mơ giá trị nơng sản hàng hóa được sản xuất ra
Hiệu quả của đơn vị kinh tế hộ nông dân được xét theo các mặt: hiệu quả kinh tế,
hiệu quả xã hội, hài hòa mơi trường sinh thái và xã hội trên địa bàn. So với những năm 90, ngày nay cơ cấu sản xuất và thu nhập của kinh tế hộ nơng dân có những chuyển dịch
quan trọng. Tỷ trọng thu nhập về chăn nuôi không ngừng tăng lên, nhiều hộ đã tổ chức thành trang trại chăn ni hàng hóa với hàng trăm con lợn, có hộ ni hàng chục con bò
sữa, có hộ ni hàng ngàn con gà,…Nghề nuôi ong, nuôi trồng cây, con làm thuốc như hươu, gấu, nghề trồng cây ăn quả, trồng rau, hoa, cây cảnh phục vụ nhu cầu đời sống
cũng được hộ nông dân đi vào nghiên cứu phát triển.
Kinh tế hộ nông dân đã đi đầu trong phát triển chế biến nhỏ ở nông thôn như xay xát, làm bánh đa, bánh phở, làm đường thủ công,… phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 10
Qua sơ kết, tổng kết phong trào hộ nông dân các cấp thấy rằng: những hộ sản xuất hàng hóa lớn có hiệu quả ổn định đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định đầu tư
từng bước vào sản xuất. Nhìn chung, các đơn vị kinh tế hộ nơng dân sản xuất nhiều giá trị hàng hóa rất cần có sự hộ trợ của ngân hàng về cho vay vốn để phát triển đi lên mạnh
mẽ. Vai trò của HND trong nền kinh tế.
Nước ta là một nước nông nghiệp với gần 80 dân số sống ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn với khoản 70 lao động xã hội sản xuất nông nghiệp. Tổng giá trị
sản lượng nông nghiệp chiếm 30 tổng thu nhập kinh tế quốc dân GDP. Sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nơng thơn có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về chính trị, kinh
tế, văn hóa xã hội của quốc gia. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm sâu sắc tới vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, coi đây là vấn đề trọng tâm, là khâu then
chốt nhất cần tập trung sức chỉ đạo và đầu tư tạo cho được bước chuyển biến mới trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, vừa đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của bản thân
khu vực này, vừa tạo tiền đề cho các ngàng kinh tế khác phát triển.
Sau hơn 10 năm đổi mới gắn liền với thực thi một loại chủ trương, chính sách cơ chế quản lý mới đúng đắn trong nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là từ khi
có nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, bộ mặt nông nghiệp và nơng thơn Việt Nam đã và đang có những thay đổi đáng mừng. Sản lượng
lương thực quy ra thóc khơng ngừng tăng, lương thực không những đủ ăn mà nước ta đã vươn lên đứng thứ 2, thứ 3 các nước xuất khẩu gạo trên thế giới, sản xuất nông nghiệp
liên tục tăng trưởng trong nhiều năm.
Với nghị quyết 10, hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, là thành phần kinh tế cơ bản ở nơng thơn, có quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trước
pháp luật. Việc giao ruộng đất cho các hộ sử dụng ổn định lâu dài với 5 quyền năng : chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế. Kết hợp với chính sách hỗ
trợ nông dân phát triển kinh tế như mở rộng hoạt động tín dụng trong nơng thơn, tăng cường khuyến nơng, lâm, ngư,… đã khuyến khích nơng thơn phát triển khả năng sẵn có
về đất đai, sức lao động, tiền vốn,… đẩy mạnh sản xuất, tạo ra những thành quả hết sức to lớn và đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
Sự cần thiết NHTM phải tăng cường cho vay đối với HND.
- Nhu cầu về vốn của HND. Vốn là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, có
chế độ chính trị - xã hội khác nhau, cũng như đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh khác. Để huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, vấn đề đặt ra đầu tiên là phải có sự nhận
thức đầy đủ về vốn.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 11
Theo mục đích sử dụng, khơng chỉ có vốn sản xuất trực tiếp phục vụ cho việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ hàng hóa, mà còn bao gồm khối lượng đáng kể và
phong phú các hệ thống kết cấu hạ tầng, các cơng trình công cộng khác nhau, phục vụ cho nhu cầu kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo hình thức tồn tại cụ thể của vốn, khơng chỉ có các loại vốn tồn tại dưới dạng vật thể máy móc, thiết bị, ngun vật liệu, cơng trình kiến trúc,… mà còn bao
gồm cả các loại vốn phi vật thể; đó là kết quả của các hoạt động đầu tư cần thiết cho hoạt động của nền kinh tế nhưng sản phẩm của nó khơng tồn tại dưới dạng vật thể, mà
tồn tại dưới dạng các phát minh, sang chế, các giải pháp hữu ích hay đơn thuần chỉ là những khoản đầu tư để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ngoài ra, vốn còn tồn tại dưới dạng các tài sản chính tiền, các loại cổ phiếu, trái phiếu, các loại cơng nợ khác…. Tiền là các tài sản chính cần thiết đảm bảo cho các
hoạt động kinh tế diễn ra một cách bình thường, liên tục. Còn các loại cổ phiếu, trái phiếu, các loại công nợ khác là phương thức để chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư.
Vốn luôn luôn là vấn đề nổi cộm của những nước muốn thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với điểm xuất phát thấp như nước ta thì nhu cầu vốn, đặc biệt là vốn
cho nông nghiệp và phát triển nông thôn là rất lớn so với tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội.
Vốn là yêu cầu và điều kiện đặc biệt quan trọng để phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta. Nhu cầu vốn của nông dân để phát triển sản xuất là rất lớn. Trên thực tế,
các hộ có nhu cầu bức xúc về vốn bao gồm: - Các hộ đói và nghèo đang phải vay nặng lãi.
- Các hộ làm kinh tế vườn đồi trồng cây ăn quả, cây nông nghiệp chủ yếu là các hộ cải tạo vườn trang trại miền Tây Nam Bộ, miền Đơng Nam Bộ, Tây Ngun, miền
núi thấp các tỉnh phía Bắc và trung du, các tỉnh duyên hải miền Trung, đồng bằng Bắc Bộ và các hộ khai khẩn đất trồng mới.
- Các hộ làm kinh tế trang trại với diện tích lớn, sản xuất – kinh doanh tổng hợp, vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn.
- Các hộ trồng trọt đã có vườn đồi cây cơng nghiệp, cây ăn quả cần vốn thâm canh, một phần cơ giới hóa nhất là khâu tưới tiêu. Tình hình nắng, nóng, hạn hán như
thời gian vừa qua làm cho nhu cầu tăng nhanh như vùng cà phê Đăklăk, Gia lai, Kon Tum.
- Thực trạng về nhu cầu vốn của HND. Hộ nông dân phần lớn đang thiếu vốn, nhu cầu vay vốn nhiều. Tuy nhiên, nguồn
vốn đầu tư trong nông nghiệp luôn eo hẹp lại là một thực tế khách quan. Điều này bắt nguồn từ tích lũy nội bộ nơng nghiệp nước ta còn thấp. Thu nhập của nơng dân thấp,
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 12
gắn kiền với trạng thái bão hòa nhu cầu nơng sản phẩm nội địa và ứ tắc hàng xuất khẩu có nguồn gốc từ nơng nghiệp đưa đến sức mua của khu vực nông nghiệp, nông thôn
tăng chậm, hạn chế một bộ phận “cầu” rất lớn của nền kinh tế, bất lợi cho khuyến khích đầu tư vào khu vực này. Hơn nữa đầu tư cho nơng nghiệp đòi hỏi vốn khá lớn với mức
dộ rủi ro cao thất thoát vốn do các nguyên nhân bất khả kháng, tỷ lệ sinh lời thấp, vốn quay vòng chậm. Những nơi hấp dẫn nhất trong đầu tư nông nghiệp là nơi có chân
ruộng tốt, vùng đất màu mỡ, thuận lợi về giao thông, cung cấp dịch vụ... lại thường có hạn hán. Trái lại những nơi khơng thuận lợi thì nhiều, để đầu tư đòi hỏi lượng vốn lớn,
khó đáp ứng ngay.
Để đáp ứng nhu cầu vốn của hộ nông dân, thực tế, hệ thống cung ứng vốn tín dụng trong nơng nghiệp, nơng thơn đang hình thành ngày một đa dạng với sự tham gia
của nhiều tổ chức tín dụng với các nguồn vốn khác nhau như : - Hệ thống tín dụng thuộc sở hữu Nhà nước : tham gia hệ thống này có các
NHTM quốc doanh mà chủ lực là NHNo PTNT Việt Nam, NHCSXH - Hệ thống tín dụng ngồi Nhà nước : nhờ có chính sách mở cửa nền kinh tế,
trong những năm qua nhiều tổ chức nước ngoài đã chuyển vốn tín dụng vào nơng thơn Việt Nam dưới hình thức:
+ Hệ thống tín dụng thơng qua các ngân hàng cổ phần, hợp tác xã. + Quỹ tín dụng nhân dân.
+ Cho vay trong nội bộ nông dân. + Tổ chức tài chính vi mơ.
Như vậy chính sách tín dụng mới đang tạo ra những cơ sở của thị trường vốn ở nông thôn, đã đáp ứng nhu cầu về vốn của nông dân.

1.2.2 Hoạt động cho vay của NHTM đv HND. Đặc điểm.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

×