1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI HND TẠI 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY CỦA CHI NHÁNH ĐỐI VỚI HND

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (405.15 KB, 58 trang )


Chuyên đề tốt nghiệp Trang 4
bình quân chung của cả nước. Thực trạng kinh tế chuyển dần từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ, mà trong nhiều năm tiếp theo sản xuất nông – lâm
ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng” là bài học ông cha ta để lại, là kinh nghiệm
hoạch định chiến lược kinh tế lâu dài. Với Kon Tum, tuy là một tỉnh miền núi nhưng bài học “Phi nông bất ổn” vẫn còn nguyên vẹn giá trị. Phát triển nông
nghiệp và nông thôn bền vững là chiến lược quan trọng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên nói riêng, cả nước nói chung.
Trong đó, NHNo PTNT đóng vai trò rất lớn, là kênh chuyển tải vốn chủ yếu tới nông dân. Vì vậy, tơi xin chọn “phân tích tình hình cho vay đối với HND
tại NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum”
Do giới hạn về khả năng và thời gian, em chỉ nghiên cứu tình hình hoạt động cho vay của NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum đối với
HND qua ba năm 2009 – 2010, khóa luận ngồi phần mở đầu và kết luận còn được trình bày thành 3 chương như sau:
Chương 1: NHTM VỚI HOẠT ĐỘNG CHO VAY Chương 2: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI HND TẠI
NHNo PTNT CHI NHÁNH LÊ LỢI TỈNH KON TUM.

Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI HND TẠI


NHNo PTNT CHI NHÁNH LÊ LỢI TỈNH KON TUM. Được sự chấp nhận và tạo điều kiện thuận lợi của trường Đại học Đà
Nẵng phân hiệu tại Kon Tum, Ban lãnh đạo NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum, em đã có thời gian thực tập tại NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi
tỉnh Kon Tum. Đây là thời gian giúp em củng cố nâng cao kiến thức đã được trang bị trong thời gian học tập, rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp, đề xuất
và giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức lý luận để giải quyết các vấn đề thực tế.
Tuy đã có rất nhiều cố gắng, những chắc chắn trong đề tài này còn nhiều thiếu sót. Rất mong được sự góp ý chỉnh sửa của lãnh đạo cơ quan và của các
thầy giáo, cơ giáo để đề tài của em có thể được hoàn chỉnh hơn.
Em xin trân trọng biết ơn sự đào tạo giúp đỡ của nhà trường, của giáo viên hướng dẫn TS. Hồ Hữu Tiến và Ban lãnh đạo NHNo PTNT chi nhánh Lê
Lợi tỉnh Kon Tum đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 5

CHƯƠNG I NHTM VỚI HOẠT ĐỘNG CHO VAY


1.1. Ngân hàng thương mại. 1.1.1. Khái niệm.
Ngân hàng là một trong các tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng Thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm
mục tiêu lợi nhuận. Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng.
Việc lưu hành các đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kết hợp với thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc và đổi tiền tại các cửa khẩu và trung
tâm thương mại. Người làm nghề đúc, đổi tiền, thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Lợi nhuận thu được là từ chênh lệch giá mua bán.
Nghề ngân hàng cũng được bắt đầu từ người cho vay nặng lãi. Một số người cho vay nặng lãi đã thực hiện cả nghiệp vụ đổi tiền, giữ hộ và thanh toán hộ.

1.1.2. Các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của NHTM.


Luật các tổ chức tín dụng của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: “Nghiệp vụ ngân hàng là nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.2.1
. Huy động vốn. Ngân hàng tập trung huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền
kinh tế thông qua việc nhận tiền gửi của khách hàng. Vốn huy động dưới hình thức tiền gửi thanh toán và tiết kiệm.
- Tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi của các cá nhân, tổ chức trong quá trình luân chuyển vật tư, hàng hóa; Từ q trình chênh lệch về thời gian và quy mơ của q trình thu chi.
Tiền gửi thanh tốn là một nguồn rẻ, chi phí thấp, tạo ra một số khoản thu khác như thu phí thanh toán, đổi tiền, chuyển tiền cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây lại là nguồn
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 6
tạo nên nhu cầu thanh khoản cao, kém ổn định vì ngân hàng phải chi trả thường xuyên và bất kỳ lúc nào theo yêu cầu của khách hàng.
-Tiền gửi có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thời hạn nhất định 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm,….
Mục đích của người gửi tiền là lấy lãi và ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này để cho vay, vì vậy ngân hàng phải trả lãi cho loại tiền gửi có kỳ hạn và
lãi suất cao hay thấp thường phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và các yếu tố khác trên thị trường.
Theo nguyên tắc khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn đã thảo thuận, nhưng trên thực tế nhiều khách hàng có nhu cầu rút vốn ra trước hạn vì nhiều lí do, còn
ngân hàng để thu hút được nhiều khách hàng, tăng lượng tiền gửi, đã cho phép khách hàng rút tiền ra trước hạn. Trong những trường hợp này, khách hàng chỉ được hưởng lãi
suất thấp hơn lãi suất đã quy định.
Tiền gửi có kỳ hạn là một nguồn vốn có tính chất ổn định, vì vậy ngân hàng thường trả lãi cao cho hình thức này và chú trọng các biện pháp nhằm gia tăng loại tiền
gửi này. Theo nguyên tắc, thời hạn khách hàng gửi tiền càng dài thì lãi suất được hưởng càng cao.
Để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, ngân hàng phát hành các kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng và các giấy tờ có giá khác.
-Tiền gửi tiết kiệm.
Đây là tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi.
Tiền gửi tiết kiệm có các loại: tiết kiệm khơng kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm khác.

1.1.2.2. Cho vay.


Ngân hàng Thương mại cho vay đối với nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các cá nhân hộ gia đình.
Hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng Thương mại. Nó thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn trong các khoản mục thuộc tài sản có,
tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Cho vay là nghiệp vụ sử dụng vốn, theo đó NHTM thỏa thuận với khách hàng sử
dụng một số tiền nhất định với cam kết phải hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.

1.1.2.3. Các nghiệp vụ khác. - Mua bán ngoại tệ :


GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 7
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi mua – bán ngoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác
và hưởng phí dịch vụ. -Bảo quản vật có giá
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán - Quản lý ngân quỹ
- Tài trợ các hoạt động của chính phủ - Bảo lãnh : Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa
và trang thiết bị, phát hành chứng khốn, vay vốn của tổ chức tín dụng khác,… - Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn
- Cung cấp dịch vụ mơi giới đầu tư chứng khốn - Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
- Cung cấp các dịch vụ đại lý. - vv…
1.1.3 Cho vay của NHTM. Căn cứ vào thời hạn cho vay có các loại: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và
cho vay dài hạn.
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Đây là loại cho vay bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu
chi tiêu cá nhân. - Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Cho
vay trung han chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm máy móc tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Đây là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây nhà ở, mua sắm thiết bị, phương tiện vận tải,…Có
quy mơ lớn hoặc để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp mới. Căn cứ vào mục đích vay vốn có các loại:
- Cho vay sản xuất lưu thơng hàng hóa: loại cho vay này được cấp cho các chủ thể kinh doanh nhằm hỗ trợ vốn để mở rộng hoạt động sản xuất và lưu thơng hàng hóa.
- Cho vay tiêu dùng: là loại hình cho vay đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân.
Căn cứ vào bảo đảm tiền vay có các loại:
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay được thực hiện khi người đi vay có một khối lượng hàng hóa, tài sản tương đương, được dùng trực tiếp để đảm bảo
cho món nợ vay.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 8
- Cho vay khơng có bảo đảm về tài sản: là khoản cho vay được cấp khơng có giá trị vật tư, hàng hóa hoặc tài sản làm đảm bảo trực tiếp mà chỉ dựa trên uy tín, sự tín
nhiệm của cá nhận, tổ chức tín dụng đối với bên nhận tín dụng. Căn cứ vào tính chất của khoản vay có các loại:
- Cho vay từng lần: là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng đều phải làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng là loại cho vay có mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một khoản thời gian nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: là việc ngân hàng cam kết đảm bảo
sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định, trong một thời gian nhất định.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là phương thức cho vay mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số dư có trên tài khoản vãng
lai, tới một hạn mức nhất định trong một thời hạn quy định. - Cho vay theo dự án đầu tư:
- Cho vay đồng tài trợ cho vay hợp vốn: là phương thức cho vay trong đó có hai hay nhiều tổ chức tín dụng tham gia cho vay đối với một dự án đầu tư hoặc phương án
sản xuất kinh doanh của một khách hàng vay vốn. 1.2 Hoạt động cho vay của NHTM đối với HND.
1.2.1 HND. Quan niệm HND. Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản
xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Đặc điểm HND.
Tại Việt Nam hiện nay, gần 80 dân số là sinh sống ở nông thôn và đại bộ phận còn sản xuất mang tính tự cấp, tự túc. Trong điều kiện đó, hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà
ở đó diễn ra q trình phân cơng tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng.
Với tư cách là đơn vị kinh tế, hộ được phân tích nhiều góc độ khác nhau như: - Là chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, lao động, vốn.
- Là đơn vị tham gia vào các dạng hoạt động kinh tế - Trình độ phát triển hộ : Tự cấp tự túc các hàng hóa.
- Hiệu quả hoạt động kinh tế hộ. Ở Việt Nam, hộ nơng dân có những đặc điểm cơ bản sau:
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 9
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cấp hồn tồn đến sản xuất hàng hóa. Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nơng dân
và thị trường. - Các hộ nơng dân ngồi hoạt động nơng nghiệp trồng trọt và chăn ni còn
tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau. - Khả năng của hộ nông dân chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu sản xuất giản đơn nhờ
sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất và lao động. - Sản xuất chịu nhiều rủi ro,nhất là rủi ro khách quan thiên tai, dịch bệnh,…,
trong khi đó khả năng khắc phục lại hạn chế. - Hộ nghèo và hộ trung bình chiếm tỷ trọng cao, khó khăn lớn nhất của hộ nơng
dân là thiếu vốn. Từ những nội dung nêu trên cho thấy kinh tế hộ rất phong phú, đa dạng; Đối
tượng cho vay mang tính tổng hợp gồm nhiều lĩnh vực; Mức độ và hiệu quả sử dụng vốn của từng loại hộ cũng rất khác nhau.
Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế có sự kết hợp hài hòa giữa sản xuất, quy mô sản xuất, điều kiện sản xuất với lực lượng lao động cụ thể của gia đình. Vì lực lượng
lao động ln biến động theo thời gian, khoa học kỹ thuật nông nghiệp luôn luôn phát triển; yêu cầu thị trường thay đổi, lợi ích của từng gia đình cũng thay đổi.Do đó, quy mơ
và phương hướng sản xuất của các kinh tế hộ nông dân thường ln ln vận động và biến đổi. Vì vậy, kinh tế hộ nơng dân, nhìn chung và theo xác suất thì khá ổn định
nhưng nhìn riêng từng đơn vị kinh tế hộ cụ thể thì khá sơi động.
Quy mơ của từng đơn vị kinh tế hộ nông dân được xét theo 3 yếu tố cơ bản : - Quy mô diện tích đất đai sử dụng
- Quy mơ sử dụng vốn và lao động - Quy mô giá trị nông sản hàng hóa được sản xuất ra
Hiệu quả của đơn vị kinh tế hộ nông dân được xét theo các mặt: hiệu quả kinh tế,
hiệu quả xã hội, hài hòa môi trường sinh thái và xã hội trên địa bàn. So với những năm 90, ngày nay cơ cấu sản xuất và thu nhập của kinh tế hộ nông dân có những chuyển dịch
quan trọng. Tỷ trọng thu nhập về chăn nuôi không ngừng tăng lên, nhiều hộ đã tổ chức thành trang trại chăn ni hàng hóa với hàng trăm con lợn, có hộ ni hàng chục con bò
sữa, có hộ ni hàng ngàn con gà,…Nghề ni ong, ni trồng cây, con làm thuốc như hươu, gấu, nghề trồng cây ăn quả, trồng rau, hoa, cây cảnh phục vụ nhu cầu đời sống
cũng được hộ nông dân đi vào nghiên cứu phát triển.
Kinh tế hộ nông dân đã đi đầu trong phát triển chế biến nhỏ ở nông thôn như xay xát, làm bánh đa, bánh phở, làm đường thủ công,… phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 10
Qua sơ kết, tổng kết phong trào hộ nông dân các cấp thấy rằng: những hộ sản xuất hàng hóa lớn có hiệu quả ổn định đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định đầu tư
từng bước vào sản xuất. Nhìn chung, các đơn vị kinh tế hộ nông dân sản xuất nhiều giá trị hàng hóa rất cần có sự hộ trợ của ngân hàng về cho vay vốn để phát triển đi lên mạnh
mẽ. Vai trò của HND trong nền kinh tế.
Nước ta là một nước nông nghiệp với gần 80 dân số sống ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn với khoản 70 lao động xã hội sản xuất nông nghiệp. Tổng giá trị
sản lượng nông nghiệp chiếm 30 tổng thu nhập kinh tế quốc dân GDP. Sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nơng thơn có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về chính trị, kinh
tế, văn hóa xã hội của quốc gia. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm sâu sắc tới vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, coi đây là vấn đề trọng tâm, là khâu then
chốt nhất cần tập trung sức chỉ đạo và đầu tư tạo cho được bước chuyển biến mới trong nông nghiệp và phát triển nông thơn, vừa đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của bản thân
khu vực này, vừa tạo tiền đề cho các ngàng kinh tế khác phát triển.
Sau hơn 10 năm đổi mới gắn liền với thực thi một loại chủ trương, chính sách cơ chế quản lý mới đúng đắn trong nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là từ khi
có nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, bộ mặt nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đã và đang có những thay đổi đáng mừng. Sản lượng
lương thực quy ra thóc khơng ngừng tăng, lương thực khơng những đủ ăn mà nước ta đã vươn lên đứng thứ 2, thứ 3 các nước xuất khẩu gạo trên thế giới, sản xuất nông nghiệp
liên tục tăng trưởng trong nhiều năm.
Với nghị quyết 10, hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, là thành phần kinh tế cơ bản ở nơng thơn, có quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trước
pháp luật. Việc giao ruộng đất cho các hộ sử dụng ổn định lâu dài với 5 quyền năng : chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế. Kết hợp với chính sách hỗ
trợ nơng dân phát triển kinh tế như mở rộng hoạt động tín dụng trong nơng thơn, tăng cường khuyến nơng, lâm, ngư,… đã khuyến khích nơng thơn phát triển khả năng sẵn có
về đất đai, sức lao động, tiền vốn,… đẩy mạnh sản xuất, tạo ra những thành quả hết sức to lớn và đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
Sự cần thiết NHTM phải tăng cường cho vay đối với HND.
- Nhu cầu về vốn của HND. Vốn là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, có
chế độ chính trị - xã hội khác nhau, cũng như đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh khác. Để huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, vấn đề đặt ra đầu tiên là phải có sự nhận
thức đầy đủ về vốn.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 11
Theo mục đích sử dụng, khơng chỉ có vốn sản xuất trực tiếp phục vụ cho việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ hàng hóa, mà còn bao gồm khối lượng đáng kể và
phong phú các hệ thống kết cấu hạ tầng, các cơng trình cơng cộng khác nhau, phục vụ cho nhu cầu kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo hình thức tồn tại cụ thể của vốn, khơng chỉ có các loại vốn tồn tại dưới dạng vật thể máy móc, thiết bị, ngun vật liệu, cơng trình kiến trúc,… mà còn bao
gồm cả các loại vốn phi vật thể; đó là kết quả của các hoạt động đầu tư cần thiết cho hoạt động của nền kinh tế nhưng sản phẩm của nó khơng tồn tại dưới dạng vật thể, mà
tồn tại dưới dạng các phát minh, sang chế, các giải pháp hữu ích hay đơn thuần chỉ là những khoản đầu tư để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ngồi ra, vốn còn tồn tại dưới dạng các tài sản chính tiền, các loại cổ phiếu, trái phiếu, các loại công nợ khác…. Tiền là các tài sản chính cần thiết đảm bảo cho các
hoạt động kinh tế diễn ra một cách bình thường, liên tục. Còn các loại cổ phiếu, trái phiếu, các loại công nợ khác là phương thức để chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư.
Vốn luôn luôn là vấn đề nổi cộm của những nước muốn thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với điểm xuất phát thấp như nước ta thì nhu cầu vốn, đặc biệt là vốn
cho nông nghiệp và phát triển nông thôn là rất lớn so với tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội.
Vốn là yêu cầu và điều kiện đặc biệt quan trọng để phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta. Nhu cầu vốn của nông dân để phát triển sản xuất là rất lớn. Trên thực tế,
các hộ có nhu cầu bức xúc về vốn bao gồm: - Các hộ đói và nghèo đang phải vay nặng lãi.
- Các hộ làm kinh tế vườn đồi trồng cây ăn quả, cây nông nghiệp chủ yếu là các hộ cải tạo vườn trang trại miền Tây Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, miền
núi thấp các tỉnh phía Bắc và trung du, các tỉnh duyên hải miền Trung, đồng bằng Bắc Bộ và các hộ khai khẩn đất trồng mới.
- Các hộ làm kinh tế trang trại với diện tích lớn, sản xuất – kinh doanh tổng hợp, vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn.
- Các hộ trồng trọt đã có vườn đồi cây công nghiệp, cây ăn quả cần vốn thâm canh, một phần cơ giới hóa nhất là khâu tưới tiêu. Tình hình nắng, nóng, hạn hán như
thời gian vừa qua làm cho nhu cầu tăng nhanh như vùng cà phê Đăklăk, Gia lai, Kon Tum.
- Thực trạng về nhu cầu vốn của HND. Hộ nông dân phần lớn đang thiếu vốn, nhu cầu vay vốn nhiều. Tuy nhiên, nguồn
vốn đầu tư trong nông nghiệp luôn eo hẹp lại là một thực tế khách quan. Điều này bắt nguồn từ tích lũy nội bộ nơng nghiệp nước ta còn thấp. Thu nhập của nông dân thấp,
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 12
gắn kiền với trạng thái bão hòa nhu cầu nơng sản phẩm nội địa và ứ tắc hàng xuất khẩu có nguồn gốc từ nông nghiệp đưa đến sức mua của khu vực nông nghiệp, nông thôn
tăng chậm, hạn chế một bộ phận “cầu” rất lớn của nền kinh tế, bất lợi cho khuyến khích đầu tư vào khu vực này. Hơn nữa đầu tư cho nơng nghiệp đòi hỏi vốn khá lớn với mức
dộ rủi ro cao thất thoát vốn do các nguyên nhân bất khả kháng, tỷ lệ sinh lời thấp, vốn quay vòng chậm. Những nơi hấp dẫn nhất trong đầu tư nơng nghiệp là nơi có chân
ruộng tốt, vùng đất màu mỡ, thuận lợi về giao thông, cung cấp dịch vụ... lại thường có hạn hán. Trái lại những nơi khơng thuận lợi thì nhiều, để đầu tư đòi hỏi lượng vốn lớn,
khó đáp ứng ngay.
Để đáp ứng nhu cầu vốn của hộ nông dân, thực tế, hệ thống cung ứng vốn tín dụng trong nơng nghiệp, nơng thơn đang hình thành ngày một đa dạng với sự tham gia
của nhiều tổ chức tín dụng với các nguồn vốn khác nhau như : - Hệ thống tín dụng thuộc sở hữu Nhà nước : tham gia hệ thống này có các
NHTM quốc doanh mà chủ lực là NHNo PTNT Việt Nam, NHCSXH - Hệ thống tín dụng ngồi Nhà nước : nhờ có chính sách mở cửa nền kinh tế,
trong những năm qua nhiều tổ chức nước ngoài đã chuyển vốn tín dụng vào nơng thơn Việt Nam dưới hình thức:
+ Hệ thống tín dụng thơng qua các ngân hàng cổ phần, hợp tác xã. + Quỹ tín dụng nhân dân.
+ Cho vay trong nội bộ nông dân. + Tổ chức tài chính vi mơ.
Như vậy chính sách tín dụng mới đang tạo ra những cơ sở của thị trường vốn ở nông thôn, đã đáp ứng nhu cầu về vốn của nông dân.

1.2.2 Hoạt động cho vay của NHTM đv HND. Đặc điểm.


- Số lượng khách hàng lớn - Số tiền vay lớn
- Quy mô vốn vay nhỏ - Địa bàn trải rộng
- Khách hàng vay vốn với nhiều mục đích khác nhau - Xác suất rủi ro cao
- vv…
Nguyên tắc.
- Nguyên tắc hoàn trả nợ gốc và lãi vay đầy đủ, đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 13
- Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Nguyên tắc đảm bảo: Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay khơng có bảo đảm theo quy định của Nghị định
này và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của Chính phủ, thì tổn thất do
ngun nhân khách quan của các khoản cho vay này được Chính phủ xử lý.
Khách hàng vay được tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, tổ chức tín dụng phát hiện khách
hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì tổ chức tín dụng có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn.
Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm
tiền vay theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan để thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc
bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh
vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
Phân loại.
- Cho vay ngắn hạn đối với HND: vốn đầu tư ngắn hạn của các HND nhằm
hình thành nên tài sản lưu động để các HND đi vào hoạt động. Loại này chỉ tham gia vào 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh và hồn thành một vòng tuàn hoàn khi chu kỳ sản xuất
kinh doanh kết thúc. Biểu hiện dưới hình thái hiện vật là các chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm chi phí cho con, cây giống, phân bón, thức ăn, thuốc trừ sâu, chi phí chăm sóc.
Vốn đầu tư này có đặc điểm là nhu cầu và cơ cấu vốn đầu tư phụ thuộc khá lớn vào đối tượng nuôi trồng, vào kỹ thuật nuôi trồng, vào chu kỳ sinh trưởng và phát triển của đối
tượng nuôi trồng,...
Cho vay để bổ sung nhu cầu vốn thiếu hụt để đầu tư vào chi phí sản xuất kinh doanh của người nông dân.
Đối với HND sản xuất nhỏ, các đối tượng cho vay bao gồm như: chi chí mua con, cây giống; chi phí mua phân bón, thức ăn; chi phí mua thuốc trừ sâu; các chi phí
mua ngồi khác. Ngân hàng sẽ khơng cho vay các đối tượng như chi phí tiền cơng chăm sóc, thu hoạch, bảo quản...
Đối với HND sản xuất lớn theo quy mơ trang trại thì ngân hàng khơng cần phải xác định đối tượng không cho vay và đối tượng không cho vay mà chỉ cần quy định 1 tỷ
lệ mức vốn tự có tham gia thường từ 20 đến 30 tổng chi phí sản xuất.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 14
- Cho vay trung, dài hạn đối với HND: đầu tư dài hạn của HND nhằm hình
thành nên tài sản cố định, đây là loại tài sản có thời gian sử dụng dài, giá trị lớn, tham gia vòa nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, biểu hiện dưới hình thái hiện vật là đất đai,
cơng trình xây dựng như nhà xưởng, chuồng trại, kho bãi, sân chơi, chi phí cải tạo đất, chi phí hình thành đàn gia súc, xây dựng ao đầm, vườn cây lâu năm,... và các loại máy
móc thiết bị chuyên dùng như súc vật cày kéo, máy động lực cơ điện, cơng cụ máy móc nông nghiệp,...
Đối với cho vay trung dài hạn của ngân hàng đối với HND là các đối tượng kể trên. Nhưng riêng đối với yếu tố ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, giá trị rất lớn, là
yếu tố bắt buộc phải có để cho vay, vì vây ngân hàng khơng tính vào đối tượng cho vay. Tuy nhiên đối với các HND sản xuất quy mô lớn trang trại, phải đi thuê đất cũng là
thuộc đối tượng để ngân hàng xem xét cho vay nếu phương án kinh doanh có hiệu quả. Rủi ro cho vay.
Trong quá trình sản xuất người nơng dân gặp phải những khó khăn về chi phí đầu vào như giá của giống, phân bón, thuốc trừ sâu,… tăng lên nhưng đến khi thu hoạch thì giá
cả thị trường lại giảm sút, làm cho sản phẩm làm ra không thể bán được hoặc bán với giá rẻ. Từ đó, người nơng dân bị thiệt hại do sự chênh lệch giá giữa đầu vào và đầu ra
của sản phẩm, dẫn tới thất thu, khó có khả năng trả nợ và dẫn đến nợ quá hạn.
Sản xuất nơng nghiệp mang tính đặc thù, chịu sự chi phối rất lớn của khí hậu thời tiết, thiên tai, dịch bệnh,…trong khi đó, khả năng khắc phục lại hạn chế.
Trong thời gian qua, thời tiết, khí hậu ở Kon Tum rất khắc nghiệt, hạn hán kéo dài dẫn đến phát sinh nhiều bệnh ở vật nuôi lỡ mồm, long móng, H5N1,…, cây trồng,
đặc biệt các đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ dân bị thiệt hại nặng nề do cơn bão số 9 làm khách hàng vay vốn ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc thu hồi vốn để trả nợ
vay.
Nhiều hộ nông dân không phòng chống và khắc phục kịp thời nên đã khơng có khả năng trả nợ cho ngân hàng khi nợ đến hạn.
Đối với cho vay ngắn hạn do những biến vật nuôi như heo, gà, cây trồng như lúa, ngô là những giống cây trồng, vật ni có sức chịu ảnh hưởng của thời tiết, dịch
bệnh…yếu hơn so với những giống cây như cà phê, cao su,…, vật nuôi như trâu, bò, …. Tỷ lệ rủi ro ở cho vay ngắn hạn cao hơn rủi ro cho vay trung, dài hạn.
Bên cạnh, việc nợ quá hạn phát sinh do những nguyên nhân khách quan, nợ quá hạn còn tăng lên một phần do những nguyên nhân chủ quan như khách hàng sử dụng
vốn sai mục đích. Khi vay vốn khách hàng đã viết đơn và ký hợp đồng tín dụng về mục đích sử dụng vốn vay của mình. Nhưng trong q trình sản xuất, khách hàng khơng sử
dụng triệt để nguồn vốn vay của mình vào sản xuất để phát huy hiệu quả của đồng vốn
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 15
mà đã sử dụng vốn vào mục đích khác do ý muốn chủ quan của khách hàng, từ đó rất dễ gặp phải rủi ro ngoài ý muốn. Tuy nhiên, ở đây còn có một phần lớn do cán bộ tín dụng
chưa đi sâu vào cơng tác kiểm tra, đối chiếu trực tiếp sau khi cho vay để phát hiện kiệp thời và ngăn ngừa sử dụng vốn sai mục đích của khách hàng.
Các chỉ tiêu phản ánh kết quả cho vay.
- Doanh số cho vay - Doanh số thu nợ
- Dư nợ bình quân - Nợ xấu bình quân
- Tỷ lệ nợ xấu bình quân
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 16

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY CỦA CHI NHÁNH ĐỐI VỚI HND


2.1. Giới thiệu về NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum. 2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển của NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi
Tỉnh Kon Tum. Quá trình thành lập NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum.
Phòng giao dịch Lê Lợi tiền thân là Phòng giao dịch ChưHreng, hoạt động kinh doanh chủ yếu tại xã ChưHreng, nay là phòng giao dịch Lê Lợi là đơn vụ trực thuộc
NHNo PTNT Kon Tum. + Ngày 25101998 thành lập “Chi nhánh Lê Lợi” theo quyết định thành lập số
251NHNo trực thuộc NHNo PTNT Kon Tum. + Nay là Phòng giao dịch Lê Lợi trực thuộc NHNo PTNT Kon Tum theo
quyết định thành lập số 471 ngày 1062008. Quá trình phát triển của NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum.
Kon Tum là một tỉnh miền núi, kinh tế phát triển chậm, các doanh nghiệp Nhà nước phần lớn làm ăn thua lỗ, doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh lớn ít. Khơng nằm
ngồi tình hình chung của tỉnh, hoạt động kinh doanh ngân hàng còn lung túng. NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum phải thường xuyên nhận vốn điều hòa từ ngân
hàng cấp trên do nguồn vốn huy động tại địa phương không đáp ứng đủ nhu cầu cho vay.
Tháng 6 năm 1993, Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành trung ương Đảng đã họp bàn về việc tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thơn. Ngồi những vấn đề
cơ bản của chiến lược phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam, hội nghị cũng tập trung vào việc thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn trên cơ sở phát triển
nông nghiệp và dịch vụ nông thôn, khẳng định sự tồn tại của các thành phần kinh tế ở nơng thơn, trong đó vai trò tự chủ của kinh tế hộ được bảo đảm. Đối với NHNo
PTNT Việt Nam nói chung và NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum nói riêng đây là điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng và đa dạng hóa mơi trường kinh
doanh.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 17
Vào thời điểm này, một hoạt động của NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum đã mang lại hiệu quả thiết thực, đó là “tín dụng bò” – Ngân hàng cho nơng
dân vay vốn bằng hiện vật, điều này đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải tìm tòi, nghiên cứu, am hiểu các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, đi sâu nghiên cứu phong tục tập quán trong
chăn nuôi cũng như trong mọi hoạt động kinh tế của người dân địa phương. Chi nhánh chủ động trong việc tuyển chọn bò giống ở trong tỉnh lân cận để giao đến tận tay nông
dân. Hộ nông dân vay vốn được trực tiếp lựa chọn bò và nhận bò vừa ý. Nhờ có tinh thần trách nhiệm cao, trong năm 1993 chi nhánh đã đầu tư được gần 3000 con bò cho hộ
nơng dân. Đây là việc làm được ủng hộ, khuyến khích và đánh giá cao của chính quyền địa phương và quần chúng nhân dân. Trong quá trình hình thành và phát triển, NHNo
PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum luôn bám sát các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; Thực hiện đúng sự chỉ đạo, điều hành của Ngân hàng cấp
trên, tạo mối quan hệ tốt với các sở, ban, ngành, lien quan trên địa bàn tỉnh.
Qua thời gian hoạt động, với sự cố gắng nổ lực của Ban giám đốc và đội ngũ cán bộ công nhân viên ngân hàng, sự hổ trợ từ ngân hàng cấp trên và sự phối hợp giúp đỡ
của các cấp chính quyền địa phương, NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum đã khẳng định được mình trong cơ chế thị trường đầy biến động, góp phần tăng trưởng
kinh tế của tỉnh nhà và thực thi có hiệu quả các chính sách tiền tệ - tín dụng của Nhà nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Năm 2009, tổng nguồn vốn
huy động là 35.569 triệu đồng, đạt 81 kế hoạch năm, tăng so với đầu năm là 144 triệu đồng. Tổng dư nợ là 95.698 triệu đồng tăng so với đầu năm là 8.828 triệu đồng, đạt
95,7 kế hoạch năm; Nợ quá hạn 3.975 triệu đồng chiếm tỷ lệ 4,15tổng dư nợ. Năm 2010 đến ngày 31122010 có tổng nguồn vốn huy động là 50.196 triệu đồng, tăng so
với đầu năm là 13.783 triệu đồng, đạt 107 kế hoạch của năm. Tổng dư nợ là 115.389, tăng 19.700 triệu đồng so với đầu năm, tương ứng với tỷ lệ tăng 20. Uy tín của NHNo
PTNT chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum từng bước được củng cố và thực sự trở thành người bạn đồng hành của nông thôn.
Khái quát sự phát triển NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum bằng đồ thị như sau :
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 18
Đồ thị 1 : Sự phát triển của NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum năm 2009 – 2010.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận. - Giám đốc : Điều hành chung, trực tiếp phụ trách cơng tác tổ chức, kế tốn và
ngân quỹ, hoạt động tín dụng, kiểm sốt.
- Phó giám đốc : Trực tiếp phụ trách cơng tác kinh doanh, tín dụng, điều hành
cơng tác kế tốn – ngân quỹ và ký duyệt cho vay đối với những dự án mức phán quyết theo quy định của NHNo PTNT Việt Nam.
- Phòng tín dụng : Trưởng phòng phụ trách chung và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc và Phó
Giám đốc, theo dõi trực tiếp cho vay các doanh nghiệp, hộ nơng dân. Một phó trưởng phòng thực hiện nhiệm vụ của trưởng phòng khi trưởng phòng đi
vắng, theo dõi trực tiếp công tác cho vay hộ nông dân và hộ nghèo.
- Phòng kế tốn : Một trưởng phòng kế tốn và ngân quỹ của ngân hàng nơng
nghiệp kiêm trưởng phòng kế tốn, 01 phó trưởng phòng,03 nhân viên kế toán gồm 01 thủ quỹ, 01 kiểm ngân, 01 kế tốn viên, 05 CBTD.
- Ngồi ra, còn có 01 kiểm sốt viên : có nhiệm vụ kiểm sốt các hoạt động của
NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của phòng kiểm tra nội bộ NHNo PTNT tỉnh Kon Tum.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức.


GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 19
Sơ đồ 1 : Mơ hình cơ cấu tổ chức nhân sự. 2.1.5. Kết quả hoạt động trong thời gian qua.
- Nguồn vốn :
Tổng nguồn vốn huy động nội tệ đến 31122010 đạt 49.251 triệu đồng tăng so với đầu năm 13.783 triệu đồng, với tỷ lệ tăng 38, tăng 3.251 triệu đồng so với kế
hoạch với tỷ lệ tăng 107. Nguồn vốn huy động của phòng giao dịch Lê Lợi chủ yếu là tiền gởi của dân cư chiếm tỷ trọng 97,17.
Nguồn vốn huy động ngoại tệ quy đổi VNĐ đến 31122010 đạt 1.171 triệu đồng chiếm tỷ trọng 2,32tổng nguồn vốn huy động.
Qua các đợt huy động tiết kiệm dự thưởng đã kích thích được quần chúng nhân dân tham gia gửi tiết kiệm dự thưởng do người gửi tiết kiệm được nhận quà khuyến mãi
và được dự thưởng, nhưng tăng trưởng không cao, do địa bàn chủ yếu ở khu vực nơng thơn, tích lũy khơng cao và nguồn gửi tiết kiệm có tính thời vụ.
Cơ cấu nguồn vốn huy động như sau: - Phân theo thời hạn huy động
+ Tiền gửi không kỳ hạn : 4.907 triệu đồng
+ Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng 31.852 triệu đồng
+ Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng 13.663 triệu đồng
- Phân theo tính chất nguồn vốn huy động + Tiền gửi của dân cư
48.995 triệu đồng + Tiền gửi của các tổ chức kinh tế, xã hội
1.427 triệu đồng
- Dư nợ:
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
BAN GIÁM ĐỐC
TPTD
PPTD TPKT
PPKT
CBTD KSV
KN TQ
KTV
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 20
Tổng dư nợ đến 31122010 đạt 115.389 triệu đồng, tăng 19.700 so với đầu năm, tương ứng với tỷ lệ tăng 20 tỷ lệ tăng cao so với kế hoạch là nguồn vốn tái cấp
vốn và đạt 107 so với kế hoạch. - Phân tích dư nợ theo thời gian:
+ Dư nợ ngắn hạn 64.720 triệu đồng
+ Dư nợ trung dài hạn 50.669 triệu đồng
- Phân tích dư nợ phân theo thành phần kinh tế: + Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Dư nợ là 1.800 triệu đồng, chiếm
1,56tổng dư nợ. + Hộ gia đình, cá thể: Dư nợ là 113.589 triệu đồng
Nợ xấu Tính đến 31122010 nợ xấu là 1.917 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 1,66tổng dư nợ,
so với kế hoạch NHNo tỉnh giao giảm 0,36. Thu hồi nợ xấu đến 31122010 là 1.067 triệu đồng, vượt so với kế hoạch cấp
trên giao là 67 triệu đồng, tỷ lệ tăng 0,67. - Kết quả tài chính
Tổng thu tăng năm 2010 là 17.285 triệu đồng trong đó chủ yếu là thu lãi từ hoạt động tín dụng: 15.455 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 89,41. Thu dịch vụ không đáng kể:
53 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 0,31 tổng thu nhập ròng. Tỷ lệ đạt thấp so với chỉ tiêu của NHNo PTNT tỉnh Kon Tum giao. Thu nợ xử lý rủi ro là 1.067 triệu đồng, chiếm tỷ lệ
6,17, thu khác là 710 triệu đồng chiếm 4,1.
Tổng chi năm 2010 là 15.288 triệu đồng. Trong đó chi trả lãi tiền gửi là 3.969 triệu đồng chiếm 25,96, chi trả lãi tiền vay trụ sở chính và trả lãi tiền thuê tài chính là
7.425 triệu đồng chiếm tỷ lệ 48,57, chi hoạt động dịch vụ là 35 triệu đồng chiếm tỷ lệ 0,23, chi phí cho nhân viên 1.452 triệu đồng chiếm tỷ lệ 9,5, chi cho hoạt động công
cụ, tài sản và bảo hiểm tiền gửi là 986 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 6,45, chi dự phòng rủi ro tín dụng là 1.268 triệu đồng chiếm tỷ lệ 8,3.
Chênh lệch thu nhập – chi phí chưa lương là 3.059 triệu đồng đạt 88 so với kế hoạch giao
Chênh lệch lãi suất đầu ra – đầu vào: 0,25 Hệ số lương đạt được 1,41
Có lương năng suất
2.2. Phân tích thực trạng cho vay của NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum đối với HND……
2.2.1. Chính sách cho vay của NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum đối với HND….
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 21
Vùng khó khăn được thụ hưởng chính sách tín dụng đối với hộ gia đình sản xuất, kinh doanh quy định tại Quyết định này bao gồm các xã, phường, thị trấn sau đây
gọi chung là xã quy định trong Danh mục ban hành kèm theo Quyết định số 302007QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn. Đối tượng được vay vốn là các hộ gia đình theo quy định của Bộ luật Dân sự bao gồm cả hộ gia đình làm kinh tế trang
trại khơng thuộc diện hộ nghèo sau đây gọi chung là người vay vốn thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn trong những lĩnh vực mà pháp luật
khơng cấm Chủ hộ gia đình là người đại diện cho hộ gia đình chịu trách nhiệm giao dịch với ngân hàng trong quan hệ vay vốn, trả nợ, trả lãi.
Điều kiện để được vay vốn là người vay vốn phải có dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh được Ủy ban nhân dân xã nơi thực hiện dự án hoặc phương án sản
xuất, kinh doanh xác nhận; phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và cư trú hợp pháp tại nơi thực hiện dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh.
Người vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích xin vay của dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, phải trả nợ, trả lãi đúng hạn theo hợp đồng tín dụng đã
cam kết. Người vay vốn có thể vay đầu tư một hoặc nhiều dự án, hoặc phương án sản xuất, kinh doanh nhưng tổng dư nợ cho một hộ gia đình vay vốn tại một thời điểm
khơng vượt quá mức quy định tại Quyết định này. Cụ thể :
1. Mức vốn cho vay đối với một hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tối đa là 30 triệu đồng và không phải thực hiện bảo đảm tiền vay.
2. Trong một số trường hợp cụ thể, mức vốn vay của một hộ có thể trên 30 triệu đồng, ngân hàng căn cứ vào khả năng nguồn vốn, nhu cầu đầu tư và khả năng trả nợ của
hộ sản xuất, kinh doanh, để quyết định mức cho vay cụ thể, nhưng tối đa không quá 100 triệu đồng, đồng thời phải thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn
vay theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Cụ thể :
Đối với những hộ gia đình sản xuất, kinh doanh có nhu cầu vay vốn trên 30 triệu đồng, ngoài điều kiện như : có dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh được
UBND xã nơi thực hiện dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh xác nhận, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, cư trú hợp pháp tại nơi thực hiện dự án hoặc phương án sản
xuất, kinh doanh, còn phải có vốn tự có bao gồm: giá trị vật tư, quyền sử dụng đất, lao động, tiền vốn tham gia tối thiểu bằng 20 tổng nhu cầu vốn của dự án hoặc phương
án sản xuất, kinh doanh và cam kết sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay để làm tài sản bảo đảm tiền vay.
Vốn vay được sử dụng vào các mục đích:
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 22
1. Mua sắm vật tư, thiết bị, phương tiện phục vụ sản xuất; cây trồng, vật nuôi; sửa chữa, xây dựng mới nhà xưởng sản xuất, kinh doanh; xây dựng và cải tạo đồng
ruộng, trang trại chăn nuôi; các nhu cầu về vệ sinh môi trường; thanh tốn tiền th nhân cơng và các dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh.
2. Góp vốn thực hiện các dự án hoặc phương án hợp tác sản xuất, kinh doanh. 3. Giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về nhà ở, điện thắp sáng và đào tạo tay
nghề có liên quan mật thiết đến dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh. Về lãi suất :
- Lãi suất cho vay bằng 1.15tháng. - Lãi suất nợ quá hạn bằng 150 lãi suất cho vay.
- Việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo
đề nghị của Bộ Tài chính. Thời hạn cho vay được xác định theo các loại cho vay: ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn. - Thời hạn cho vay của từng dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh do chi
nhánh quyết định, phù hợp với mục đích sử dụng vốn vay, khả năng trả nợ của người vay vốn và chu kỳ sản xuất, kinh doanh của từng dự án hoặc phương án vay vốn.
- Thời hạn gia hạn nợ đối với các khoản vay vốn ngắn hạn bằng một chu kỳ sản xuất, kinh doanh liền kề. Thời hạn gia hạn nợ đối với các khoản cho vay trung hạn và
dài hạn, tối đa bằng 12 thời hạn cho vay ghi trong hợp đồng tín dụng. Về phương thức cho vay: ngân hàng thực hiện phương thức uỷ thác cho vay
từng phần qua các tổ chức chính trị - xã hội hoặc trực tiếp cho vay tuỳ theo mức vốn cho vay đối với một dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh và khả năng quản lý
của ngân hàng. Đối với phương thức uỷ thác qua các tổ chức chính trị - xã hội, việc quản lý vốn bằng tiền, ghi chép kế toán và tổ chức giải ngân đến người vay do ngân
hàng thực hiện.
Việc xử lý rủi ro được thực hiện theo Quyết định số 692005QĐ-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản liên quan về Quy chế xử lý
nợ bị rủi ro của ngân hàng. Ngân hàng quy định quy trình và nội dung lập và thẩm định dự án hoặc phương
án sản xuất, kinh doanh; hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, thủ tục cho vay bảo đảm đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện. Đồng thời, xây dựng quy trình và thực hiện việc kiểm tra, giám sát
quá trình vay vốn, sử dụng vốn và trả nợ của người vay vốn phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng, tính chất của khoản vay nhằm bảo đảm hiệu quả và khả năng thu
hồi vốn vay.
N gười vay vốn có trách nhiệm:
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 23
- Lập hồ sơ vay vốn theo hướng dẫn của ngân hàng và chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi ngân hàng.
- Thực hiện đầy đủ nguyên tắc vay vốn theo quy định tại Điều 5 Quyết định này.
- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và các cam kết khác trong hợp đồng tín dụng. - Chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng và
các tổ chức làm dịch vụ uỷ thác về việc sử dụng vốn, trả nợ, trả lãi ngân hàng. 2.2.2. Quy trình và thủ tục cho vay.
Cán bộ tín dụng được phân cơng giao dịch với khách hàng có nhu cầu vay vốn có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn và tiến hành thẩm định các điều kiện
vay vốn theo quy định. Lập hồ sơ vay vốn :
+ Hồ sơ do khách hàng lập, cung cấp :
Khách hàng vay vốn không phải thực hiện bảo đảm bằng tài sản nộp : - Giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận của ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền về việc đất đang sử dụng, khơng có tranh chấp.
Khách hàng vay vốn có bảo đảm bằng tài sản nộp : - Giấy đề nghị vay vốn.
- Dự án, phương án sản xuất kinh doanh. - Hồ sơ đảm bảo tiền vay theo quy định.
Khách hàng vay vốn qua tổ vay vốn, ngoài những hồ sơ quy định trên, phải có thêm :
- Biên bản thành lập tổ vay. - Hợp đồng làm dịch vụ.
+ Hồ sơ do ngân hàng lập. - Báo cáo thẩm định, tái thẩm định.
- Biên bản họp hội đồng tín dụng Trường hợp phải qua hội đồng tín dụng. - Thơng qua từ chối cho vay Trường hợp không cho vay
+ Hồ sơ do khách hàng và ngân hàng cùng lập. - Hợp đồng tín dụng.
- Sổ vay vốn. - Giấy nhận nợ.
- Hợp đồng bảo đảm tiền vay.
Thẩm định : + Về phương diện tài chính :
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 24
- Hộ nông dân phải cư trú thường trú, tạm trú tại địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi chi nhánh ngân hàng cho vay đóng trụ sở.
- Đại diện hộ nơng dân để giao dịch với ngân hàng là chủ hộ hoặc người đại diện của hộ. Chủ hộ hoặc người đại diện phải có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực
hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. - Mục đích vay vốn phải hợp pháp, phù hợp với quy định của Nhà nước về phát
triển kinh tế tại địa phương, cũng như các quy định về mơi trường, an tồn sinh thái. - Trong thẩm định ngân hàng cũng quan tâm đến những yếu tố xã hội. Trong thực
tế, những yếu tố này có khi ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của người đi vay, như thói quen trong sinh hoạt, quan hệ giữa các thành viên trong hộ, uy tín của chủ hộ,
quan hệ chòm xóm, cách thức tổ chức cuộc sống gia đình, cũng như khả năng sản xuất của chủ hộ.
+ Về phương diện tài chính : Chủ yếu thẩm định theo 2 hướng : Thẩm định nhu cầu vay vốn hợp lý và khả năng trả nợ.
Khi thẩm định nhu cầu vay, ngân hàng chủ yếu dựa vào phương pháp định mức cho vay,tức là số tiền vay được xác định trên đơn vị diện tích canh tác hoặc đầu gia súc.
Việc làm nay có các ý nghĩa như : - Làm căn cư để tính tốn số tiền cho vay cụ thể, phù hợp với từng ngành nghề và
tính đặc thù của mỗi vùng. - Chuẩn hóa số tiền vay cũng như thời gian vay vốn, tạo tiền đề tốt cho công tác
thẩm định cũng như giám sát khoản vay sau này khi có một lượng lớn các giao dịch phải thực hiện cùng lúc trong một thời gian ngắn.
- Định hướng cho công tác nguồn vốn tại địa bàn về chi phí cũng như thời hạn. - Hướng cho hộ nông dân làm ăn có tính tốn, tiết kiệm chi phí và thực hiện các
kỹ thuật mới trong sản xuất để thực hiện được thời hạn vay vốn. Bên cạnh đó, ngân hàng nơi cho vay quyết định cho vay còn căn cứ vào giá trị
tài sản làm bảo đảm tiền vay nếu khoản vay áp dụng bảo đảm bằng tài sản. Hộ vay vốn phải có đủ năng lực tài chính để đảm bảo trả nợ đúng thời hạn đã
cam kết. Đối với hộ nông dân, khi cho vay ngân hàng yêu cầu bản than hộ phải tham gia vốn của mình vào phương án sản xuất.Vốn của hộ tham gia vào có thể dưới dạng những
hình thái : tiền; các yếu tố sản xuất như giống, phân bón, sức kéo của gia súc hoặc máy kéo của hộ, đất thuộc quyền sử dụng của hộ; ngày công lao động .
Tùy loại hình thức sản xuất cũng như quy mơ sản xuất mà ngân hàng yêu cầu tỷ lệ tham gia vốn tự có nhiều hay ít.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 25
Vốn tự có được tính cho tổng nhu cầu vốn sản xuất trong kỳ hoặc từng lần cho một dự án, phương án sản xuất. Theo quy định của NHNo PTNT Việt Nam, mức vốn
tự có tham gia của khách hàng vào dự án, phương án sản xuất cụ thể như sau : - Đối với cho vay ngắn hạn : khách hàng phải có vốn tự có tối thiểu 10 trong
tổng nhu cầu vốn. - Đối với cho vay trung, dài hạn : khách hàng phải có vốn tự có tối thiểu 20
trong tổng nhu cầu vốn. - Trường hợp hộ nông dân vay vốn không phải đảm bảo bằng tài sản, nếu vốn tự
có thấp hơn quy định trên thì Giám đốc ngân hàng nơi cho vay được quyền quyết định. Phân tích tính chất các nguồn tài chính dung để trả nợ của hộ nông dân là rất
quan trọng, nguồn trả nợ chính là thu nhập bằng tiền từ kết quả thực hiện phương án sản xuất được ngân hàng cho vay. Ngồi ra, còn có các nguồn khác kể cả thu nhập riêng của
các thành viên trong hộ góp vào để sử dụng chung. Trong trường hợp hộ nông dân tiến hành nhiều nghề như vừa trồng trọt,vừa chăn ni,… thì những nguồn này đều có thể là
nguồn trả nợ. Phụ thuộc vào tính chất nguồn thu để ngân hàng định kỳ hạn nợ; ngoài ra, khi định kỳ hạn nợ, hạn trả nợ cũng phải tính đến chi phí đi lại của hộ nơng dân trong
giao dịch với ngân hàng như khoảng cách từ nơi cư trú đến ngân hàng, phương tiện vận chuyển,… vì vậy đối với những món vay nhỏ, để giảm chi phí cho người đi vay, ngân
hàng chỉ định kỳ hạn trả nợ một lần để thu hồi vốn và lãi. Đối với cây, con ni trồng lâu năm thì theo thỏa thuận mà có thể trả lãi và gốc định kỳ như : các kỳ hạn trả nợ gốc;
các kỳ hạn trả lãi cùng với kỳ hạn trả nợ gốc hoặc theo kỳ hạn riêng : tháng, quý hoặc vụ.
Thời hạn cho vay được xác định phụ thuộc vào loại hình sản xuất và trên cơ sở chu kỳ sản xuất, tiêu thụ thực tế nhưng không vượt quá thời hạn định mức được quy
định trong chính sách tín dụng. Sau khi đã kiểm tra – thẩm định các điều kiện vay, hồ sơ vay, hồ sơ tài sản đảm
bảo tiền vay, nếu khơng cho vay cán bộ tín dụng phải thông báo cho khách hàng biết. Nếu xác định hồ sơ vay vốn có đầy đủ cơ sở để quyết định cho vay, cán bộ tín dụng
phải chủ động đề xuất : mức tiền cho vay, lãi suất cho vay, phương thức cho vay.
- Xác định mức tiền cho vay : được căn cứ vào các yếu tố.
+ Vốn tự có tham gia vào dự án, phương án sản xuất kinh doanh. + Giá trị tài sản đmả bảo tiền vay hoặc bảo lãnh.
+ Tổng nhu cầu xin vay. + Khả năng hoàn trả nợ của khách hàng.
+ Nguồn vốn hiện có của NHNo.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 26
Xác định đúng, cho vay đầy đủ, hợp lý số tiền cần vay sẽ giúp cho hộ vay vốn sử dụng có hiệu quả, độ an tồn vốn cao. Ví dụ như xác định dự án của hộ vay vốn cần
10 triệu, ngân hàng chỉ cho vay 5 triệu, người vay phải vay bên ngoài 5 triệu với lãi suất cao hơn. Tất yếu khi có nguồn thu nhập, hộ vay vốn phải tính tốn để trả nợ khoản vay
có lãi suất cao trước, nợ ngân hàng trả sau. Ngược lại, xác định dự án của hộ vay vốn cần 5 triệu, ngân hàng cho vay 10 triệu, dẫn đến số tiền vượt nhu cầu sẽ được dung sai
mục đích. Một khi đã sai mục đích thì tiềm ẩn rủi ro là rất lớn.
Do vậy, cán bộ tín dụng phải xác định chính xác vốn tự có, giá trị tài sản bảo đảm tiền vay và tổng nhu cầu vay vốn, để tính toán đề xuất mức tiền cho vay.
Thực tế cho thấy bản thân hộ vay vốn thường bộc lộ những thái cực khác nhau là:
+ Nếu nhu cầu vay vốn vượt quá số thực tế cần vay, phòng ngừa sự cắt giãm, quyết định một cách tùy tiện của các bộ tín dụng hoặc nêu số vốn tự có vượt số thực có
để đảm bảo tỷ lệ quy định của NHNo Việt Nam 10, 20 + Không kê khai đầy đủ, đúng số vốn tự có thực chất là giãm thấp so với thực
tế để được vay số tiền lớn hơn. Ví dụ: Vốn tự có đạt 50, chỉ kê khai 20. + Nâng cao giá trị tài sản đảm bảo tiền vay thiếu những căn cứ khoa học, thực
tế để mong muốn được vay số tiền tương ứng tỷ lệ tối đa cho phép 70, 80.
- Xác định thời hạn cho vay:
Xác định thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ phát triển của cây trồng, vật nuôi; khả năng trả nợ; sự thỏa thuận của người vay là yếu tố quyết định cơ bản hiệu quả
sử dụng vốn vay, độ an tồn và chất lượng tín dụng. Mọi sự chủ quan, tùy tiện áp đặt một thời hạn cho vay không tuân thủ các quy
định của thể lệ cho vay sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường, hoặc là phát sinh nợ quá hạn, hoặc là bị thua thiệt về lãi suất cho vay đến 12 tháng và trên 12 tháng sẽ áp dụng lãi
suất cho vay khác nhau.
Muốn xác định đúng đắn thời hạn cho vay, đảm bảo phù hợp chu kỳ phát triển của cây trồng, vật nuôi; Sự thỏa thuận của người vay, cán bộ tín dụng phải :
+ Kiểm tra xác định được đối tượng vay. + Kiểm tra xác định được nguồn thu nhập để trả nợ lợi nhuận, khấu hao,…
+ Chứng minh được sự thỏa thuận, đề xuất của người vay có phù hợp thực tiễn
hay khơng hay đó chỉ là những đề xuất thiếu căn cứ.
- Phương pháp thẩm định:
Phân tích các dữ liệu trong hồ sơ vay và hồ sơ khách hàng, đối chiếu với các quy định của chính sách tín dụng, chính sách phát triển kinh tế của các cấp chính quyền,
kết hợp với thẩm tra tại chỗ.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 27
Trưởng phòng tín dụng hoặc tổ trưởng tín dụng có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ và báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụng lập; Tiến hành xem
xét, tái thẩm định nếu cần thiết hoặc trực tiếp thẩm định trong trường hợp kiêm làm cán bộ tín dụng; Ghi ý kiến thẩm định, tái thẩm định nếu có và trình giám đốc quyết
định.
Giám đốc ngân hàng nơng nghiệp căn cứ vào báo cáo thẩm định, tái thẩm định nếu có do phòng tín dụng trình, quyết định cho vay hoặc khơng cho vay :
+ Nếu cho vay thì ngân hàng nơng nghiệp và khách hàng lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm tiền vay trường hợp cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
+ Nếu khơng cho vay thì thơng báo cho khách hàng biết bằng văn bản theo quy định của NHNo PTNT Việt Nam, trong thời gian không quá 5 ngày làm việc
đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi NHNo nơi cho vay nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và
thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu, ngân hàng nơi cho vay phải quyết định và thông báo việc cho vay hoặc khồn cho vay đối với khách hàng.
Trên thực tế thì khoảng thời gian này thường ngắn hơn.
- Giải ngân tiền vay.
Hồ sơ khoản vay được giám đốc ký duyệt cho vay. Sau khi giám đốc ký duyệt cho vay, cán bộ tín dụng hoặc trưởng phòng tín dụng hoặc phòng kế tốn kinh doanh
thực hiện nhập các thơng tin: số tiền cho vay, mức lãi suất, kỳ hạn trả nợ gốc, trả nợ lãi… và thông tin về tài sản bảo đảm tiền vay nếu có vào hệ thống IPCAS.
Nhận lại hồ sơ vay vốn, hồ sơ đảm bảo tiền vay nếu có giao dịch viên tiến hành kiểm tra hồ sơ vay vốn theo danh mục quy định của NHNo Việt Nam và kiemr tra
các yếu tố pháp lý trên hồ sơ vay vốn; phiếu nhập kho, hợp đồng gửi giữ tài sản đảm bảo nếu cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
Trường hợp chưa đủ hồ sơ vay vốn, chứng từ giải ngân theo quy định hoặc còn thiếu yếu tố pháp lý trên các hồ sơ, chứng từ sẽ tạm dừng giải ngânchuyển tiền, đồng
thời báo cáo trưởng phòng xin ý kiến và trình giám đốc quyết định yêu cầu bổ sung đầy đủ danh mục, các yếu tố pháp lý của hồ sơ vay vốn theo quy định hoặc yêu cầu khách
hàng hoàn thiện.
Trường hợp hồ sơ vay vốn của khách hàng đầy đủ, bảo đảm các yếu tố pháp lý, giao dịch viênkế toán cho vay tiến hành nhập đầy đủ các thông tin của khoản vay đã
được phê duyệt vào màn hình giải ngân và lập thủ tục chuyển tiền cho đơn vị thụ hưởngchuyển vào tài khoản tiền gửi hoặc thực hiện giải ngân bằng tiền mặt theo thỏa
thuận với khách hàng.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 28
+ Trước khi giải ngân phải yêu cầu khách hàng ký nhận trên giấy nhận nợ hoặc phụ lục hợp đồng.
+ Thực hiện việc lưu trữ bộ hồ sơ vay vốn theo quy định của NHNo Việt Nam.
Kiểm tra sau khi cho vay: - Theo dõi, kiểm tra khoản vay, thu hồi và xử lý nợ
aTheo dõi và kiểm tra khoản vay: cán bộ được giao theo dõi koản vay có trách nhiệm theo dõi, đơn đốc việc trả nợ gốc, lãi của khách hàng đầy đủ, đúng kỳ. Các khoản
nợ đến hạn đều phải lập thông báo gửi cho khách hàng trước 05 ngày làm việc so với ngày đến hạn nợ.
Căn cứ vào chương trình, kế hoạch kiểm tra, kiểm sốt; kết quả chấm điểm xếp hạng khách hàng; các báo cáo tài chính; q trình trả nợ bao gồm gốc, phí và lãi; các
dấu hiệu bất thường của khách hàng, cán bộ tín dụng thực hiện kiểm tra sau khi cho vay với các nội dung sau:
+ Kiểm tra tiến độ thực hiện và hiệu quả phương án, dự án vay vốn + Kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế so với mục đích đã thỏa thuận
+ Phân tích tình hình tài chính của khách hàng khi nhận các báo cáo tài
chính hoặc tình hình tài chính của dự án, phương án vay vốn + Kiểm tra tình hình trả nợ gốc, phí và lãi.
+ Kiểm tra tình hình tài sản đảm bảo biến động, giảm giá, hư hỏng,…. Xác định lại giá trị tài sản đảm bảo.
+ Kiểm tra xác định những rủi ro bất khả kháng. Việc kiểm tra sau khi cho vay theo định kỳ hoặc đột xuất do giám đốc NHNo
nợ cho vay quyết định. Các trường hợp bắt buộc phải thực hiện kiểm tra và giám sát thường xuyên:
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ + Khoản nợ quá hạn hoặc khả năng tả nợ không bảo đảm
+ Các khoản nợ đã phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao nhóm 3,4,5 Kết quả kiểm tra và đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng là cơ sở để phân
loại nợ và thực hiện trích lập dự phòng theo quy định. Kiểm tra định kỳ sau khi cho vay: căn cứ vào các quy định hiện hành, sau khi
cho vay cán bộ tín dụng phải thường xuyên, định kỳ kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay và tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng. Riêng đối với hộ gia đình sản xuất nơng,
lâm, ngư, diêm nghiệp, khách hàng vay cầm cố bằng giấy tờ có giá, giám đốc Sở giao dịch, chi nhánh loại 1. loại 2 quy định cụ thể bằng văn bản việc kiểm tra định kỳ sau khi
cho vay với các loại nội dung sau: số lượng khách hàng phải kiểm tra định kỳtổng số
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 29
khách hàng; mức dư nợ của khách hàng từ bao nhiêu triệu đồng thì phải kiểm tra; chậm nhất sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận tiền vay thì phải kiểm tra; những nhóm nợ
hoặc khách hàng cần phải kiểm tra định kỳ.
Kiểm tra đột xuất: tùy theo điều kiện và tình hình cụ thể, giám đốc NHNo nơi cho vay quyết định các biện pháp kiểm tra đột xuất đối với một hoặc một số khoản vay.
Việc kiểm tra sau khi cho vay phải được lập thành biên bản và lưu cùng hồ sơ tín dụng. b Thu nợ gốc, lãi vay và phí:
Các căn cứ để tính tốn thu nợ gốc, lãi: kỳ hạn trả nợ gốc, lãi đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng; chấp thuận của người có thẩm quyền về việc thực
hiện những ưu đãi nếu có; mức lãi suất và phí đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; số tiền quá hạn, lãi suất quá hạn và thời gian quá hạn nếu có. Trường hợp khách hàng
trả nợ bằng chuyển khoản: giao dịch viên lập phiếu thu nợ từ tài khoản tiền gửi khách hàng. Trường hợp khách hàng trả nợ bằng tiền mặt:
+ Trường hợp số tiền mặt nằm trong hạn mức thu: giao dịch viên lập thủ tục và thu tiền mặt trực tiếp của khách hàng.
+ Trường hợp số tiền mặt vượt quá mức thu: giao dịch viên xác định chính xác số tiền trả nợ, lập phiếu thu, yêu cầu khách hàng nộp tiền tại quỹ chính và thực hiện
hạch tốn thu nợ ngay trong ngày. Việc thu nợ thực hiện theo trật tự ưu tiên sau:
+ nợ gốc, lãi vay quá hạn và phí + nợ gốc, lãi vay đến hạn và phí
Trường hợp thu nợ gốc quá hạn trước nhưng chưa thu nợ lãi quá hạn, giao dịch
viên chỉ thực hiện khi có phê duyệt của giám đốc. Trường hợp khách hàng có mua bảo hiểm bảo hiểm vật chất phương tiện cơ giới, bảo an tín dụng, bảo hiểm khác nhưng
gặp rủi ro, cán bộ tín dụng phải phối hợp với các cơ quan bảo hiểm hoàn thiện các thủ tục cần thiết để thu nợ từ số tiền được bồi thường. Sauk hi đã thu nợ gốc, lãi vay và phí,
giao dịch viên phải cập nhập vào giấy nhận nợ hoặc phụ lục hợp đồng tín dụng và hệ thống IPCAS số tiền đã thu theo quy định của NHNo Việt Nam. Chỉ được tất toán giấy
nhận nợ hoặc thanh lý hợp đồng khi đã thu hết nợ gốc, lãi và phí nếu có
c Xử lý nợ Cơ cấu lại thời gian trả nợ điều chỉnh kỳ hạn nợ hoặc gia hạn nợ. Trường hợp
khách hàng chưa trả được nợ theo cam kết và có yêu cầu thì yêu cầu khách hàng lập giấy đề nghị ngân hàng xem xét cho cơ cấu lại thời gian trả nợ. Cán bộ tín dụng kiểm tra
tình hình sử dụng vốn vay, tài sản đảm bảo tiền vay, tình hình tài chính của khách hàng, xem xét nguyên nhân khách quan, chủ quan và khả năng trả nợ, nếu đủ điều kiện cơ cấu
lại thời gian trả nợ thì ghi rõ ý kiến đồng ý hay khơng đồng ý trình Trưởng phòng xem
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 30
xét. Trưởng phòng xem xét và ghi ý kiến đồng ý hay không đồng ý, trình giám đốc NHNo nơi cho vay quyết định.Giám đốc NHNo nơi cho vay phê duyệt:
+ Nếu không đồng ý thì chuyển nợ quá hạn và phân loại vào nhóm nợ thích hợp theo quy định, đồng thời thơng báo cho khách hàng biết.
+ Nếu đồng ý phê duyệt cho cơ cấu lại thời gian trả nợ thì cán bộ tín dụng đăng ký lại thơng tin khoản vay hạn trả nợ cuối cùng, kỳ hạn nợ mới, lãi suất,… và
thực hiện phân loại nợ theo quy định; đồng thời thông báo cho khách hàng biết. Chuyển nợ quá hạn: khi đến kỳ hạn trả nợ gốc vàhoặc lãi nếu khách hàng
không trả nợ đầy đủ, đúng hạn và khơng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thì tồn bộ số dư nợ trên hợp đồng tín dụng đó được chuyển sang nợ quá hạn. Khách hàng sử dụng
vốn vay sai mục đích, bị chấm dứt cho vay theo quy định của NHNo Việt Nam, cán bộ tín dụng phải thực hiện thu nợ trước hạn đã cam kết hoặc đề nghị giám đốc phê duyệt
chuyển ngay sang nợ quá hạn toàn bộ số dư nợ của hợp đồng tín dụng đó và dừng giải ngân tiếp nếu có. Căn cứ phê duyệt của giám đốc, giao dịch viên hạch tốn chuyển nợ
q hạn.
Khoanh nợ, xóa nợ: trường hợp thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, khách hàng gặp khó khăn về tài chính, được Chính phủ, NHNN thơng báo cho khoanh nợ, xóa
nợ, NHNo nơi cho vay hoàn thiện hồ sơ, thủ tục theo hướng dẫn của NHNo Việt Nam gửi ngân hàng cấp trên trực tiếp để xem xét cho khoanh nợ, xóa nợ.NHNo nơi cho vay
chỉ thực hiện khoanh nợ, xoa nợ cho khách hàng khi nhận được thông báo của ngân hàng cấp trên.
Phân loại nợ: căn cứ quy định hiện hàng của NHNo Việt Nam về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, cán bộ tín dụng phải thực hiện phân loại và phân loại lại
các khoản nợ vào nhóm nợ thích hợp. Các căn cứ để phân loại và phân loại lại nợ: + Số lần cơ cấu lại nợ
+ Số ngày qua hạn + Thông báo nợ được khoanh, nợ chờ xử lý của Tổng giám đốc
+ Thơng báo về việc chuyển nhóm nợ của Tổng giám đốc + Báo cáo đánh giá khả năng trả nợ
+ Khách hàng có nhiều khoản vay tại chi nhánh, trong đó có một khoản vay
đã bị phân loại vào nhóm nợ có độ rủi ro cao hơn + Theo thông báo của ngân hàng đầu mối nếu vay đồng tài trợ
+ Khách hàng vay nhiều chi nhánh, trong đó một chi nhánh đã phân loại vào nhóm nợ có độ rủi ro cao hơn
Các biện pháp xử lý: tùy theo kết quả chấm điểm xếp hạng khách hàng, mức độ phạm vi và quyết định xử lý của giám đốc; cán bộ tín dụng thực hiện các biện pháp xử
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 31
lý. Giảm dần dư nợ theo yêu cầu khi xếp hạng hoặc giá trị tài sản bảo đảm của khách hàng sai khi định giá lại bị giảm thấp so với lần định giá ban đầu. Yêu cầu bổ sung, thay
thế tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tạm dừng cho vay khi khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, cung câp thơng tin sai, nhưng khách
hàng không chấp nhận sữa chữa hoặc không tuân thủ điều kiện giải ngân… Chấm dứt cho vay khi khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng sau đó cam kết nhưng không khắc
phục sửa chữa; khách hàng ngừng sản xuất có thể dẫn đến phá sản; khơng xác định người chịu trách nhiệm trả nợ trong quá trình tổ chức lại sản xuất. Khởi kiện trước pháp
luật khi khách hàng vi phạm một trong các trường hợp sau:
+ Vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay, đã được NHNo nơi cho vay thông báo bằng văn bản nhưng không khắc phục.
+ Có nợ qúa hạn do nguyên nhân chủ quan nhưng khơng có biện pháp khả thi để trả nợ ngân hàng.
+ Có năng lực tài chính để trả nợ nhưng cố tình trốn tránh trả nợ ngân hàng theo thỏa thuận.
+ Có hành vi lừa đảo, gian lận. + Các vi phạm khác theo quy định pháp luật.
- Thanh lý hợp đồng và giải chấp tài sản đảm bảo
a Thanh lý hợp đồng: khi khách hàng trả hết nợ gốc, lãi và phí, giao dịch viên phải đối chiếu, kiểm tra số liệu giữa chứng từ giấy và hệ thống IPCAS để tất toán khoản
vay. Khi khách hàng trả hết nợ gốc, lãi và phí thì hợp đồng tín dụng đương nhiên hết hiệu lực trừ phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng. các bên khơng cần lập biên
bản thanh lý hợp đồng tín dụng. Riêng đối với phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, khi khách hàng trả hết nợ trên giấy nhận nợ và hạn mức tín dụng hết thời hạn hiệu
lực thì hợp đồng tín dụng đương nhiên hết hiệu lực, các bên khơng cần lập biên bản thanh lý hợp đồng tín dụng. Trường hợp khách hàng yêu cầu, cán bộ tín dụng soạn thảo
biên bản thanh lý hợp dồng tín dụng trình trưởng phòng kiểm tra, xem xét trước khi trình giám đốc ký biên bản thanh lý.
Giải chấp tài sản bảo đảm tiền vay: tùy theo điều kiện cụ thể, NHNo nơi cho vay có thể giải chấp tồn bộ hay một phần tài sản đảm bảo. Theo đề nghị giải chấp tài
sản bảo đảm của khách hàng, cán bộ tín dụng tiến hành đối chiếu số lượng, giá trị tài sản bảo đảm tiền vay với dư nợ hiện tại của khách hàng, yêu cầu khách hàng lập đơn
yêu cầu xóa đăng ký giao dịch bảo đảm nếu có, ghi ý kiến đề nghị giải chấp một phần hoặc tồn bộ tài sản trình trưởng phòng xem xét, ghi ý kiến trước khi trình giám đốc phê
duyệt. Căn cứ vào phê duyệt của giám đốc về giải chấp tài sản bảo đảm, cán bộ tín dụng cùng phối hợp với cán bộ có liên quan và người được giao giữ tài sản kiểm tra tình trạng
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 32
tài sản, giấy tờ liên quan, lập thủ tục xuất kho, lập biên bản bàn giao giấy tờ và tài sản với khách hàng. Sau khi đã giải chấp tài sản, giao dịch viên phải thực hiện hạch toán
ngoại bảng và nhập thông tin giải chấp tài sản bảo đảm tiền vay vào hệ thống IPCAS theo quy định hiện hành.
2.2.3. Phân tích tình hình cho vay NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi Tỉnh Kon Tum đối với HND.
Tình hình nguồn vốn và cho vay nói chung. - Tình hình cho vay hộ nơng dân.
Tình hình cho vay hộ nông dân qua 2 năm 2009 – 2010 cho thấy :
Bảng 3 : Số liệu tổng thể về cho vay, thu nợ, dư nợ bình quân năm 2009 – 2010.
Đơn vị : Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm
2010 Tăng giảm so 2009
Số tiền
1.Doanh số cho vay
96.801 142.811
46.01 48
2.Doanh số thu nợ
87.972 123.12
35.148 40
3.Dư nợ bình qn
95.698 115.389
19.691 21
Trong đó: Nợ xấu
3.975 1.917
-2.058 -52
Nguồn : Báo cáo tín dụng 2009 – 2010 NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum. Năm 2009, chi nhánh đã cho vay được 142.811 triệu đồng, thu nợ 123.120 triệu
đồng, tổng dư nợ là 95.698 triệu đồng. Trong đó, nợ quá hạn là 3.975 triệu đồng. Năm 2010, chi nhánh cho vay được 165.322 triệu đồng, thu nợ 144.565 triệu
đồng, tổng dư nợ là 115.389 triệu đồng. Trong đó, nợ quá hạn là 1.917 triệu đồng. Từ năm 2009 – 2010, chi nhánh tăng dư nợ lên 19.691 triệu đồng, chiếm 21,
doanh số cho vay tăng 22.511 triệu đồng, chiếm 16 và doanh số thu nợ cũng tăng lên 19.691 triệu đồng, chiếm 21. Đồng thời từ năm 2009 đến năm 2010 chi nhánh đã
giảm nợ quá hạn phát sinh giảm 52 tương ứng với 2.058 triệu đồng.
Mức tăng trưởng này đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong cơng tác tín dụng nông nghiệp của NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum. Nhưng
so với tiềm năng về đất đai và dân số nơng nghiệp của tỉnh nhà thì đây vẫn còn là một lĩnh vực để tập trung đầu tư, phát huy thế mạnh tại địa phương.
Để thấy rõ tình hình hoạt động tín dụng của NHNo PTNT chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum qua 2 năm ta có thể biểu thị qua đồ thị sau :
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 33
Đồ thị 4 : Tình hình cho vay, thu nợ, dư nợ qua 2 năm 2009 – 2010. Phân tích tình hình cho vay theo thời hạn.
Bảng 4: Tình hình cho vay hộ nơng dân.
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2009
Năm 2010 Tăng giảm so 2009
Số tiền Tỷ trọng
Số tiền Tỷ trọng
Số tiền Tỷ trọng

1. Doanh số cho vay 90.930


100 134.320
100 43.390
47,72
Ngắn hạn 67.706
74 96.201
72 28.495
42,09 Trung, dài hạn
23.224 26
38.119 28
14.895 64,14

2. Doanh số thu nợ 77.257


100 110.574
100 33.317
43,12
Ngắn hạn 68.044
88,07 87.582
79,21 19.538
28,71 Trung, dài hạn
9.213 11,93
22.992 20,79
13.779 149,56

3. Dư nợ bình quân 82.175


100 105.921
100 23.746
28,90
Ngắn hạn 54.277
66,05 62.896
59,38 8.619
15,88 Trung, dài hạn
27.898 33,95
43.025 40,62
15.127 54,22
Trong đó :
Nợ xấu 2.750
100 1.217
100 -1.533
-55,75
Tỷ lệ nợ xấu bình quân 29.882
87.035 57.153
191.26 Theo thời hạn vay vốn chia các loại cho vay : cho vay ngắn hạn từ 12 tháng trở
xuống, cho vay trung dài hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm và cho vay dài hạn trên 5 năm.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 34
Năm 2009, phát sinh cho vay là 90.930 triệu đồng, trong đó cho vay ngắn hạn là 67.706 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 74; cho vay trung, dài hạn là 23.224 triệu đồng,
chiếm tỷ trọng 26 trong số tổng cho vay. Bên cạnh công tác cho vay thì việc thu nợ cũng là một cơng tác quan trọng trong hoạt động tín dụng. Doanh số thu nợ năm 2009 là
77.257 triệu đồng, trong đó thu nợ ngắn hạn là 68.044 triệu đồng, chiếm tỷ trọng là 88,07; thu nợ trung, dài hạn là 9.213 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 11,93.
Đến cuối năm 2009, tổng dư nợ là 83.175 triệu đồng, với dư nợ ngắn hạn là 54.277 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 66,05. Dư nợ trung, dài hạn là 27.898 triệu đồng,
chiếm tỷ trọng 33,95 trong tổng dư nợ. Đến năm 2010, chi nhánh vẫn chú trọng cho vay ngắn hạn hơn cụ thể là : cho
vay ngắn hạn là 96.201 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 72; cho vay trung, dài hạn là 38.119 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 28 trong tổng doanh số cho vay.
Doanh số thu nợ năm 2010 là 110.574 triệu đồng, trong đó doanh số thu nợ ngắn hạn là 87.582 triệu đồng chiếm 72,21tổng thu nợ, và doanh số thu nợ trung, dài
hạn là 22.992 triệu đồng, chiếm 20,79. Dư nợ năm 2010 là 105.921 triệu đồng, trong đó dư nợ ngắn hạn là 62.896 triệu
đồng, chiếm 59,38 tổng dư nợ; dư nợ trung, dài hạn là 43.025 triệu đồng, chiếm 40,62 tổng dư nợ.
• Qua 2 năm 2009 – 2010 :
Cho vay tăng dần qua 2 năm 2009 – 2010 là 43.390 triệu đồng chiếm 47,72, trong đó: cho vay ngắn hạn tăng 42,09 tương ứng với 28.495 triệu đồng; cho vay
trung, dài hạn tăng 64,14 tương ứng với 14.895 triệu đồng. Doanh số thu nợ tăng 33.317 triệu đồng chiếm 43,12. Cho vay ngắn hạn
chiếm 28,71 tổng thu nợ tương ứng 19.538 triệu đồng; còn cho vay trung, dài hạn chiếm 149,56 tổng thu nợ tương ứng 13.779 triệu đồng.
Dư nợ tăng lên 23.746 triệu đồng, chiếm 28,90, trong đó: dư nợ ngắn hạn chiếm 15,88 tổng dư nợ tương ứng 8.619 triệu đồng; dư nợ trung, dài hạn chiếm
54,22 tổng thu nợ tương ứng 15.127 triệu đồng. Đối với nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn giảm dần qua 2 năm. Năm 2009, nợ quá
hạn là 2.750 triệu đồng. Qua năm 2010 nợ quá hạn giảm còn 1.217 triệu đồng giảm 55,75 tương đương với 1.533 triệu đồng.
Tình hình chung cho vay hộ nơng dân được biểu diễn dưới dạng đồ thị sau:
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 35
Đồ thị 5 : Tình hình chung về cho vay hộ nông dân.
Tăng trưởng dư nợ là cần thiết, từ năm 2008 đến cuối năm 2009 chi nhánh đã tăng trưởng được dư nợ là 1.201 triệu đồng, chiếm 1,2. Nhưng nợ quá hạn lại tăng lên
1.558 triệu đồng. Tiếp đó, từ năm 2009 đến cuối năm 2010, chi nhánh đã tăng được dư nợ là 185.446 triệu đồng, tức l183,5. Những bên cạnh đó chi nhánh cũng để lại nợ quá
hạn tăng 2.399 triệu đồng, chiếm 23,7. Điều này phản ánh tín dụng khơng được bảo đảm trong q trình mở rộng tín dụng qua 2 năm 2009 – 2010
Tình hình nợ quá hạn theo nguyên nhân từ năm 2009 – 2010 được biểu diễn dưới dạng đồ thị sau:
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 36
Đồ thị 6 : Nợ quá hạn theo ngun nhân. Phân tích tình hình cho vay theo đối tượng đầu tư.
Hộ nông dân tham gia sản xuất ở nhiều ngành nghề nên đối tượng cho vay rất đa dạng và phong phú. Ở Kon Tum các đối tượng cho vay chính là:
- Đối tượng cho vay trong ngành trồng trọt: ở đây chủ yếu là chi phí trồng các cây lâu năm hoặc cây lưu gốc. Do nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới nên cây
trồng rất đa dạng, chủ yếu ngân hàng đầu tư vào hai hướng: cây công nghiệp và cây ăn trái. Mở rộng đầu tư phát triển các loại cây này phụ thuộc vào chính sách phát triển của
ngành công nghiệp chế biến, thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Đối tượng cho vay ngành chăn nuôi: yếu tố thức ăn phải được quan tâm đúng mức, đặc biệt là thức ăn thiên nhiên đồng cỏ, bãi chăn đối với chăn ni như chăn thả
bò, dê… Trong chăn ni, yếu tố phòng dịch bệnh cũng cần được quan tâm, vì vậy những chi phí như tiêm phòng,... cũng phải được xem xét khi cho vay.
- Ngồi những nhóm đối tượng trên, những đối tượng khác còn lại là những nhu cầu phục vụ cho xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng của nhà nông cũng được ngân hàng
xem xét cho vay đó là: + Xây dựng chuồng trại, nhà kho, sân bãi.
+ Mua sắm máy móc phục vụ cơ khí hóa nơng nghiệp như: máy cày, máy bơm nước, máy tuốt lúa,…
+ Máy móc sơ chế biến nơng sản đảm bảo nâng cao tính hàng hố của nơng phẩm.
Cho vay theo đối tượng cây trồng, vật nuôi được xây dựng các định mức cho vay làm cơ sở để tính tốn số tiền cho vay cụ thể đối với từng khách hàng. Việc cho vay
dựa trên cơ sở định mức sẽ giúp cho ngân hàng tiết kiệm được chi phí và thời gian liên quan đến việc xét duyệt cho vay.
Định mức cho vay là xác định mức cho vay tối đa trên cơ sở diện tích canh tác, đầu tư gia súc.
Ngân hàng dựa vào chi phí sản xuất để xác định mức vốn mà người đi vay phải tham gia và ngân hàng chỉ cho vay phần thiếu hụt. Mức vốn tự có của người đi vay tham
gia được tính tốn dựa trên cơ sở định mức chi phí sản xuất. Từ đó xác định những đối tượng thuộc vốn tự có tham gia đối tượng khơng
được vay và những đối tượng ngân hàng sẽ cho vay. Trong sản xuất nông nghiệp, những đối tượng sau đây thường ngân hàng không cho vay: ngày công lao động, phân
hữu cơ, những chi phí bảo quản và tiêu thụ, các đối tượng cho vay của ngân hàng là các yếu tố mua ngoài.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 37
Từ đó, phân loại các đối tượng nói trên, ngân hàng sẽ rút ra tỷ lệ phần trăm trung bình về mức vốn tự có tham gia và mức cho vay của ngân hàng.
Bảng 5: Suất đầu tư một số cây trồng , vật ni ở Kon Tum. Đối tượng
Đơn vị Tổng
chi phí Trong đó
Vốn ngân hàng Vốn tự có
Cà phê 1 ha
28.000 21.500
75 7.000
25 Mía
1 ha3 năm 27.800
19.460 70
8.340 30
Sắn Mỳ 1 ha
10.500 5.250
50 5.250
50 Ngô Bắp
1ha 10.200
6.018 59
4.182 40
Lúa 1 havụ
7.500 4.500
60 3.000
40 Bò
3 con 15.000
10.500 70
4.500 30
Heo 5 con
12.500 6.250
50 6.250
50 Ngoài các đối tượng đầu tư phổ biến trên, ngân hàng còn cho vay một số đối
tượng khác như: cho vay các dự án ươm trồng cây bời lời, cao su, cây keo lá tram; cho vay dự án chăn nuôi dê, nuôi cá, nuôi gà…
Trong nhiều năm qua, giá cà phê hạ thấp người dân không trồng mới cây cà phê nữa, ngân hàng chỉ cho vay một số ít các hộ chăm sóc cà phê, vốn tín dụng đọng ở đối
tượng này rất lớn chiếm 40 tổng dư nợ. Phân tích tình hình cho vay theo phương thức cho vay.
Cho vay hộ nông dân thường được tổ chức cho vay theo hình thức cho vay trực tiếp và cho vay qua tổ vay vốn.
-
Cho vay trực tiếp : là quan hệ tín dụng trong đó khách hàng có nhu cầu về
vốn giao dịch trực tiếp với ngân hàng để vay vốn và trả nợ. Trong cho vay trực tiếp việc cấp tín dụng có thể tồn tại dưới dạng song phương hoặc đa phương thường hay gặp ở
ba bên.
Với thể thức cấp tín dụng song phương, ngân hàng giải ngân hoặc thu nợ trực tiếp với khách hàng vay. Với thể thức cấp tín dụng song phương, hợp đồng tín dụng có
nhiều bên tham gia, trong đó bên thứ ba ngồi ngân hàng và khách hàng vay là những tổ chức có trách nhiệm cung ứng vật liệu, hàng hóa thuộc đối tượng vay sẽ được ngân
hàng giải ngân để thanh toán trực tiếp cho các tổ chức này; hoặc bên thứ ba là đơn vị bao tiêu mà họ có trách nhiệm thanh tốn nợ cho ngân hàng nhân danh khách hàng đi
vay phương thức cho vay này tạo điều kiện cho ngân hàng giám sát chặt chẽ sswr dụng vốn vay. Thông thường áp dụng phương thức này đối với các hộ vay trung, dài hạn để
trồng cây công nghiệp, cây ăn quả dài ngày, đối với các trang trại sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 38
Tại NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum trong những năm qua chỉ áp dụng phương thức cho vay song phương, người nông dân trực tiếp vay vốn, trả nợ tại
ngân hàng. Số tiền cho hộ nông dân vay trực tiếp đến thời điểm 31122010 là 294.344 triệu
đồng.
- Cho vay qua tổ vay vốn: Để mở rộng và nâng cao hiệu quả cho vay hộ nông dân, ngân hàng NHNo
PTNT Việt Nam đã có những văn bản và kí những Nghị quyết liên tịch với các cấp hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh về thành lập và cho vay qua tổ vay vốn.
Cho vay qua tổ vay vốn có nhiều ưu điểm: + Khi thành lập tổ thực hiện triển khai họp dân để tuyên truyền phổ biến chính
sách, việc này đã làm cho đa số dân có điều kiện, thủ tục vay vốn và là cơ hội cho họ tiếp cận với ngân hàng. Ngân hàng tuyên truyền tiếp thị, phổ biến chính sách trong cuộc
họp với dân sẽ đạt hiệu quả cao.
+ Việc xét duyệt cho vay được tổ nhóm bình xét, hộ vay được sơ tuyển lần đầu, việc bình xét lại được thực hiện dân chủ, công khai nên việc đánh giá cho vay ngày càng
thêm chuẩn xác, người vay có ý thức nêu cao trách nhiệm. + Việc điều tra thẩm định nắm bắt nhu cầu vay vốn, đôn đốc thu lãi, thu nợ
được tổ nhóm hỗ trợ nên cán bộ tín dụng có thời gian để cho vay được nhiều, giải quyết nhanh nên khách hàng ít khi phải chờ đợi, khi có nhu cầu là là vay được ngay khơng
phải vay ngồi, uy tín ngân hàng ngày được nâng cao.
Kết quả cho vay thơng qua tổ, nhóm, hội, đồn thể tại NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum đến cuối năm 2010 là 12.048 triệu đồng, cụ thể:
+ Thực hiện Nghị quyết số 2308: Tổng số thành viên đã họp tổ là 2.363 thành viên, số thành viên còn dư nợ là 1.549 thành viên với số dư nợ là: 8.991 triệu đồng.
+ Thực hiện Nghị quyết liên tịch số 02: Tổng số thành viên đã họp tổ là: 1.707 thành viên, số thành viên đã vay là: 590 thành viên với dư nợ là 3.057 triệu đồng.
Hiện nay, nhu cầu vốn trong kinh tế nông nghiệp của bà con nơng dân còn rất lớn, NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum đang tập trung chỉ đạo sẵn sàng
vốn để đáp ứng nhu cầu này. Việc hướng dẫn nông dân làm các thủ tục lập dự án vay vốn, nghiên cứu nuôi trồng con gì? cây gì? cho có hiệu quả và phù hợp với thổ nhưỡng,
điều kiện kinh tế của từng vùng, vừa nâng cao đời sống của nông dân, vừa đảm bảo trả nợ vay ngân hàng đang là việc làm hết sức cần thiết cà cấp bách.
Sơ đồ 2: Qui trình xét duyệt cho vay của ngân hàng:
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
K.Hàng T.Quỹ
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 39
- Bước 1: CBTD được phân công giao dịch với khách hàng có nhu cầu vay vốn,
có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn và tiến hành thẩm định các điều kiện vay vốn theo qui định.
- Bước 2: Trưởng phóng tín dụng có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp
của hồ sơ và báo cáo thẩm định do CBTD lập, tiến hành xem xét, tái thẩm định nếu cần thiết, ghi ý kiến vào báo cáo thẩm định, tái thẩm định nếu có và trình giám đốc quyết
định.
- Bước 3: Giám đốc căn cứ báo cáo thẩm định, tái thẩm định nếu có do phòng
tín dụng trình, quyết định cho vay hoặc khơng cho vay: + Nếu cho vay thì nhân hàng cùng khách hàng lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng
bảo đảm tài sản. + Khoản vay vượt quyền phán quyết thì thực hiện theo qui định hiện hành của
NHNo PTNT Việt Nam.
- Bước 4: Hồ sơ sau khi được hồn tất, được chuyển cho kế tốn thực hiện
nghiệp vụ hạch toán kế toán, thanh toán, chuyển thủ quỹ để giải ngân cho khách hàng nếu cho vay bằng tiền mặt.
- Bước 5: Sau khi giải nhân, CBTD có trách nhiệm tiến hành kiểm tra sử dụng
vốn vay và đơn đốc thu hồi nợ. Qua qui trình tín dụng trên, ta thấy qui trình xét duyệt cho vay của ngân hàng
được tiến hành khá nhanh chóng, thuận lợi cho khách hàng vay vốn. Nguyên tắc tín dụng của ngân hàng trên thế giới theo tiêu chuẩn 3 chữ cái “ C”
Capacity: năng lực, Character: uy tín, Capital: vốn. Tuy khơng phải là ngân hàng có nguồn vốn lớn nhưng nâng lực và uy tín NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon
Tum luôn được đặt lên hàng đầu, nguyên tắc của ngân hàng là “đi vay để cho vay”, nhờ đó mà khách hàng ln đặt niềm tin vào ngân hàng.
Phân tích tình hình cho vay theo hình thức đảm bảo.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
CBTD KTCV
TPTD
GIÁM
ĐỐC
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 40
Hộ nông dân cũng như các thành phần kinh tế khác đều có vay vốn có đảm bảo bằng tài sản và khơng có đảm bảo bằng tài sản.
Dân số trên địa bàn ước có khoảng 340 ngàn người trong đó dân tộc thiểu số là 182 ngàn người tương đuông với 64 ngàn hộ. Số hộ vay vốn NHNo còn dư nợ là
33.686 hộ, chiếm tỷ trọng 52,63số hộ trên địa bàn, số dư nợ là 381.372 triệu đồng.
- Cho vay khơng có đảm bảo tài sản: Theo Quyết định số 671999QĐ-TTg ngày 30031999, hộ gia đình sản xuất
nơng, lâm, ngư, diêm nghiệp có đất sản xuất được vay đến 10 triệu đồng không phải thế chấp bằng tài sản. Tại NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum, hầu hết các hộ
nơng dân đều vay khơng có thế chấp bằng tài sản. Các khách hàng vay vốn nộp kèm với giấy đề nghị vay vốn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có hoặc xác nhận của
Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền về đất đang sử dụng khơng có tranh chấp.
Đối với kinh tế trang trại, theo Nghị quyết số 032000NQ-CP ngày 02022000 và theo Nghị định 1781999NĐ-CP ngày 29121999 thỉ chủ trang trại được vay vốn
đến 20 triệu đông, không phải áp dụng biện pháp áp dụng tiền vay và được dung tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay.
Tổng số trang trại trên địa bàn tỉnh Kon Tum là 398 trang trại, trong đó có 173 trang trại trồng cây hàng năm, 102 trang trại trồng cây lâu năm, 20 trang trại lâm nghiệp
và 3 trang trại tổng hợp. Trong đó, 255 hộ có quan hệ tín dụng với NHNo, chiếm 64 tổng số trang trại. Dư nợi cho vay thuộc loại hình này là 9.764 triệu đồng, chủ yếu là
cho vay khơng có bảo đảm đến 20 triệu đồng.
- Cho vay có đảm bảo tiền vay: Hộ nơng dân vay số tiền lớn hơn mức vay không bảo đảm bằng tài sản thì
phải thực hiện thế chấp tài sản. Tài sản bảo đảm tiền vay của hộ nông dân là đất thổ cư và tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, hộ nơng dân vay vốn có bảo đảm bằng tài sản.
2.3. Đánh giá chung…. 2.3.1. Thành công và nguyên nhân.
Thành công.
Qua 2 năm 2009 - 2010, hoạt động tín dụng đối với hộ nơng dân của NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum đã tăng trưởng ở mức 15. Dư nợ năm 2009 là
100.656.142.950 đồng, nợ xấu từ nhóm 3 đến nhóm 5 là 1.975.157.000 đồng, chiếm tỷ lệ 1,96 tổng dư nợ. Ước tổng dư nợ đến 31122010 là 121.000.000.000 đồng, nợ xấu
từ nhóm 3 đến nhóm 5 là 1.290.156.000 chiếm tỷ lệ 1,07tổng dư nợ. Trong đó:
- Nhóm III: 767.366.833 đồng, chiếm 0,63tổng dư nợ, chiếm 59,48tổng dư nợ xấu.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 41
- Nhóm IV: 319.553.126 đồng, chiếm 0,31tổng dư nợ, chiếm 24,77tổng dư nợ xấu.
- Nhóm V: 202.236.827 đồng, chiếm 0,17tổng dư nợ, chiếm 15,68 tổng dư nợ xấu.
- Công tác cho vay hộ nông dân đã giải quyết nhanh hơn, thuận lợi hơn. Hộ nông dân khi cần vốn đã có thể đến ngân hàng để được hướng dẫn vay vốn, từ đó đẩy
lùi được tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn. - Nông dân, hộ nông dân đã gắn kết với ngân hàng; xã hội hóa hoạt động ngân
hàng; đặc biệt là làm chuyển biến hôn nông dân từ tư duy, nếp nghĩ, cách làm ăn tự cung, tự cấp sang hạch tốn, tính tốn tới hiệu quả và yêu cầu của thị trường, tự mình
nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh.
- Vốn tín dụng của ngân hàng đã tạo đà cho hộ nông dân thốt khỏi đói nghèo và cùng làm xuất hiện nhiều hộ giàu, nhiều ông chủ mới ở nông thôn.
- NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum góp phần làm đổi mới hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương: từ chỗ chủ yếu làm cơng tác giáo
dục chính trị, tư tưởng đơn thuần, sang trực tiếp giúp đỡ các hội viên vay vốn, hướng dẫn kỹ thuật làm ăn,…vươn lên thốt khỏi cuộc sống khó khăn, túng thiếu. Vai trò của
các đoàn thể được nâng lên, các hội viên gắn bó với tổ chức liên minh cơng nơng ở nơng thôn. Không những thế, hoạt động của ngân hàng đã thu hút được sự quan tâm của
cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, góp phần hồn thành được nhiệm vụ chính trị - xã hộ ở địa phương.
- Hoạt động cho vay hộ nơng dân đã góp phần thúc đẩy nền công nghiệp địa phương chuyển dần sang nền sản xuất hàng hóa, thay đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn,
tạo công ăn, việc làm, tăng thu nhập, thúc đẩy phân công lao động xã hội mới ở nông thôn.
Nguyên nhân. - Cơ chế cho vay nông nghiệp nơng thơn đã thơng thống hơn, tạo điều kiện cho hộ
nông dân vay vốn được dễ dàng.
Nghị định 14CP tạo mơi trường pháp lý chính thức đầu tiên cho vay tới hộ sản xuất. Tiếp đến Nghị định 67TTg ngày 27031999 của Thủ tướng chính phủ về một số
chính sách tín dụng phát triển nơng nghiệp nơng thơn, qui định hộ nông dân vay tới 30 triệu đồng với điều kiện phải có mơ hình nơng trang còn khơng chỉ được vay từ 10 đến
20 triệu đồng không phải thế chấp đã tạo ra các “bước ngoặc”, đẩy mạnh cho vay vốn ở nông thôn.
Ngày 22092000, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quyết định số 4232000QĐ-NHNN1 quy định các chủ trang trại vay đến 20 triệu đồng; hoặc vay dưới
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 42
50 triệu đồng đối với chủ trang trại vay vốn đếản xuất giống thủy sản không phải thế chấp tài sản.
Áp dụng những qui định về cho vay đó, NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum đã tăng trưởng được dư nợ, đáp ứng được nhu cầu về vốn của nơng dân.
Đặc biệt sau khi có Quyết định 67TTg đã thúc đẩy xã hội hóa hoạt động ngân hàng, khắc phục được nhiều trở ngại trong quan hệ tín dụng giữa nông dân với ngân
hàng. NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum đã niêm yết công khai qui
trình, qui định về cho vay để “nơng dân biết, nông dân làm và nông dân kiểm tra”. Các thủ tục, điều kiện vay vốn,… được nới lỏng, mạng lưới ngân hàng mở rộng đến tận
thôn, xã. Chi nhánh đã tích cực triển khai Quyết định 67TTg sâu rộng đến cơ cở, đến hộ nông dân vay vốn thông qua công tác thông tin tuyên truyền, báo cáo xin ý kiến chỉ
đạo của cấp ủy, chính quyền và sự phối hợp với các ban ngành đưa vốn tín dụng đến nhanh với đồng ruộng, nương rẫy, bản làng.
- NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum đã ký kết văn bản phối hợp liên ngành với hộ nông, hội cựu chiến binh,… mở ra mơ hình cho vay qua tổ vay vốn.
Chi nhánh đã vận dụng sang tạo, linh hoạt để tạo ra một mạng lưới chân rết rộng rãi, đủ mạnh để giúp ngân hàng từ khâu thẩm tra, giải ngân, kiểm soát việc sử dụng vốn vay,
xử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh, thông tin kịp thời các hiện tượng tiêu cực nếu có tới ngân hàng để có biện pháp giải quyết ngay, khơng để những khiếm khuyết nhỏ trở thành
những thiếu sót lớn.
- Chủ trương cho vay phát triển nông nghiệp, nông thơn đã được nhân dân các cấp chính quyền địa phương đồng tình ủng hộ, tạo “năng lượng” cho hoạt động tín dụng
của NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum trong tiến trình đổi mới. Chi nhánh xác định nông nghiệp, nông thôn và nông dân là thị trường tiêu thụ và cung ứng
vốn lâu dài, là khách hàng thủy chung với ngân hàng. Với thị trường to lớn này Chi nhánh đã tạo điều kiện mở rộng mạng lưới, gắn bó với nơng dân, thúc đẩy kinh tế phát
triển.
- Một nguyên nhân không thể không kể đến đó là sự lãnh đạo và chỉ đạo của Ban lãnh đạo NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum. Là những người lãnh
đạo trẻ, nhiệt tình, có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có trình độ chun mơn nghiệp vụ cao, Ban lãnh đạo đã tập hợp được toàn thể cán bộ
nhân viên trong cơ quan thành một khối thống nhất, đoàn kết trên dưới một long, kề vai sát cánh, hồn thành tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương cũng như nhiệm vụ kinh
doanh của Chi nhánh. 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 43
Hạn chế. Bên cạnh những ưu điểm mà NHNo PTNT Chi nhánh Lê Lợi tỉnh Kon Tum đã đạt
được, thực trạng cho vay hộ nông dân trong 3 năm qua còn tồn tại một số vấn đề cần phải quan tâm và khắc phục như:
- Dư nợ của Chi nhánh trong 2 năm 2009 - 2012, tăng 19.691 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 20,58.
- Nợ quá hạn năm 2009 là 3.975 triệu đồng, đến năm 2010 giảm còn 1.917 triệu đồng, giảm 52 tương ứng 2.058 triệu đồng.
- Công tác huy động vốn đạt mức kế hoạch năm nhưng vẫn còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư tín dụng, sử dụng vốn TW nhiều; vì thế các biện pháp tiếp cận, thu
hút khách hàng, các giải pháp để huy động vốn vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến mức tăng trưởng huy vốn không cao.
- Đội ngũ cán bộ tín dụng khơng đồng đều, có những trường hợp chưa đáp ứng nhu cầu hiện tại. Chi nhánh phải dành thời gian để tập huấn cho cán bộ, CBTD ngay vào
đầu năm tới. - Tín dụng hộ nơng dân chưa được mở rộng, chưa có nhiều dự án mới, cơ hội
đầu tư còn hạn chế. Hầu như Chi nhánh chỉ cho vay những đối tượng truyền thống như chăn ni bò, lợn, trồng và chăm sóc cà phê… Vì vậy, chưa xây dựng được các dự án
mới khả thi, số dư nợ hộ nông dân chủ yếu thông qua dự án phục hồi nông nghiệp từ nguồn vốn tài trợ ủy thác đầu tư của Ngan hàng Thế giới.
Công tác thẩm định cho vay của cán bộ tín dụng còn nhiều bất cập, chưa được lượng hóa vào một số chỉ tiêu cơ bản, cụ thể. Hầu hết các cán bộ tín dụng đều áp dụng
cho vay từng lần đối với hộ nông dân, không linh hoạt trong việc định kỳ gia hạn nợ. Việc xác định vốn tự có tham gia của khách hàng vay vốn rất chung chung dựa trên giới
hạn tối thiểu về mức vốn tự có mà NHNo PTNT Việt Nam ban hành tại quy chế cho vay.
- Việc gia hạn nợ đôi lúc còn chưa sát sao chặt chẽ. Khi có nợ đến hạn, nếu còn thời hạn để gia nợ là là cán bộ tín dụng và khách hàng tiến hành gia nợ chứ không xem
xét tới nguyên nhân của việc gia hạn nợ. - Vấn đề kiểm tra giám sát quá trình sử dụng vốn vay đối với khách hàng của
NHNo PTNT Việt Nam không qui định nhiệm vụ của cán bộ tín dụng được phép trực tiếp thu nợ gốc, thu tiền lãi vay của khách hàng, trong thực tế phổ biến hiện nay là cán
bộ tín dụng trực tiếp thu lãi từ các hộ vay sau đó mới mang tiền về nộp cho ngân quỹ, điều này tại nên những bất lợi dễ dẫn đến rủi ro đáng kể.
Đối với cho vay qua tổ, nhóm, theo qui định văn bản số 2684NHNo PTNT VN-06 ngày 15111999 và số 1850NHNo-TD ngày 11062002, ngân hàng nông
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 44
nghiệp nơi cho vay thực hiện giải ngân, thu nợ, thu lãi trực tiếp đến từng tổ viên theo lịch hẹn trước hoặc vào ngày sinh hoạt định kỳ của tổ. Tuy nhiên, tại địa phương chưa
thực hiện được quy định này, thêm vào đó một số nơi hộ vay chưa thực sự tự nguyện muốn vào tổ vay vốn.
- Hộ nông dân vay vốn đến 30 triệu đồng không phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản chỉ nộp giấy đề nghị vay vốn xác nhận của UBND có thẩm quyền về
việc đất đang sử dụng khơng có tranh chấp. Trên thực tế đã có những trường hợp xác nhận trùng lập dẫn đến hộ nông dân vay vốn ở nhiều tổ chức tín dụng khác nhau như
vay ở cả ngân hàng nông nghiệp và cả ở quỹ tín dụng nhân dân, hoặc sau khi xác nhận về vay vốn nhưng đến khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại không nộp cho
ngân hàng.
- Thực tế cho thấy hầu hết nông dân vay vốn của ngân hàng được rồi thì việc sử dụng vốn lại khơng dễ dàng gì. Do đó, người nơng dân khơng dám vay vốn vì sợ làm ăn
thua lỗ, có những trường hợp lại sử dụng vốn sai mục đích. Nguyên nhân.
- Việc qui định cho hộ nông dân vay tới 30 triệu đồng không phải thế chấp là một giải pháp tốt nhưng bên cạnh đó còn có những mặt hạn chế là: việc xác nhận đất đang sử
dụng khơng có tranh chấp có tình trạng chồng chéo khi cho vay; khi đến hạn trả nợ nếu có rủi ro khách hàng khơng trả được nợ xảy ra thì cơ chế xử lý chưa có, dẫn đến việc
cán bộ tín dụng ngần ngại trong việc cho vay. Từ đó, cho vay hộ nông dân thường là cho vay trung hạn. Bên cạnh đó, ngân hàng quá chú trọng đến đầu tư cho các dự án lớn,
mang tính dài hạn mà vơ tình qn đi những nhu cầu trước mắt thiết thực của người nơng dân. Thêm vào đó, liên tiếp trong những năm qua thời tiết trở nên bất thường, giá
cả hạ thấp quá mức làm cho vốn đầu tư vào một đối tượng như cà phê, cao su không đạt hiệu quả, khi đến hạn hầu như khách hàng khơng có khả năng trả nợ, dẫn đến việc thu
hồi nợ trung gian và dài hạn trở nên khó khăn.
- Nợ quá hạn của Chi nhánh tăng lên qua hai năm một phần lớn là do thiên tai, dịch bệch, hạn hán mất mùa. Có vụ cà phê giá hạ xuống thấp, có những mùa hạn hán,
sâu bệnh, trâu, bò bị lỡ mồm long móng… làm cho nơng dân bị thất thu, khơng có nguồn trả nợ ngân hàng. Có những trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay sai mục
đích, làm ăn khơng có hiệu quả, xảy ra rủi ro dẫn đến nợ quá hạn.
- Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của khí hậu, thời tiết nên khả năng rủi ro còn cao, thiên tai hạn hán ln rình rập mà khả năng khắc phục lại hạn chế,
giá cả các mặt hàng nông sản thường xun biến động trong khi đó Chính phủ chưa có chính sách cụ thể khuyến khích sản xuất cho người nơng dân. Chính vì thế tín dụng hộ
nơng dân chưa được mở rộng, chưa có nhiều dự án mới, cơ hội đầu tư còn hạn chế.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 45
- Tỉnh Kon Tum chưa chú trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ chế biến sau thu hoach, nhằm tăng giá trị sản phẩm nơng sản, khuyến khích đầu tư hàng hóa hàng hóa
của hộ nơng dân cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong những năm qua, việc đầu tư cơng nghệ chế biến sau thu hoạch chưa có
hiệu quả: nhà máy mỳ vo viên đã giải thể, nhà máy đường đang hoạt động thua lỗ, công nghệ chế biến cà phê, cao su chưa được đẩy mạnh đầu tư.
- Thiếu đồng bộ trong việc phối hợp tìm biện pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn, còn tình trạng ngành nào ngành ấy làm, chưa có chương trình, mục
tiêu hành động đồng bộ nên nơng nghiệp nơng thơn phát triển chậm, còn nặng tính tự phát.
- Kinh tế nông hộ rất phong phú, đa dạng; đối tượng cho vay mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều lĩnh vực; mức độ và hiệu quả sử dụng vốn của từng loại, hộ cũng
khác nhau. Chính vì vậy nội dung thẩm định cho vay đối với hộ nông dân vẫn là những món vay nhỏ, lẻ, địa bàn rộng, cán bộ tín dụng vì muốn giải quyết nhanh cho ngân hàng
nên nhiều lúc cơng tác thẩm định còn chưa chặt chẽ.
- Sự phối hợp giữa các ban, ngành liên quan đến ngân hàng chưa đi vào các nội dung cụ thể. Công tác xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật cho các loại cây trồng,
vật nuôi theo từng vùng cụ thể chưa hoàn chỉnh, ảnh hưởng đến công tác thẩm định cho vay củ ngân hàng.
- Vấn đề gia hạn nợ vay đang trở thành thủ tục phổ biến trong cho vay của hộ nông dân, nó khơng phản ánh đúng thực chất tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của
hộ vay. Qua thực tế cho thấy rất nhiều trường hợp hộ vay xin gia hạn nợ và ngân hàng xét duyệt cho gia hạn nợ không phải do nguyên nhân khách quan như chế độ quy định,
mà thực chất là do hồ sơ, thủ tục rườm rà phức tạp và do thời gian cho vay chưa phù hợp với thời gian sinh trưởng, phát triển thực tế của cây trồng, vật nuôi.
- Phần lớn hộ nơng dân có nhu cầu vốn thường xun, nhưng phương thức cho vay tại chi nhánh còn đơn điệu, chủ yếu cho vay từng lần, nhiều khi chưa phù hợp với
đặc điểm sản xuất kinh doanh của hộ vay. - Khi xét duyệt thời gian cho vay, ngân hàng thương cho hộ vay với thời gian
tối đa của chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây trồng vật ni mà khơng xem xét đến tình hình thực tế, đối tượng vay nhiều khi đã có một thời gian sinh trưởng nhất định rồi
thì hộ vay mới đến vay vốn ngân hàng. Vì thế, dễ dẫn đến tình trạng hộ vay khơng có khả năng trả nợ khi vốn vay đến hạn, vì vốn vay đang được sử dụng quay vòng lần thứ
hai, hoặc hộ vay đã tiêu thụ sản phẩm nhưng lại sử dụng tiền vay đầu tư vào đối tượng khác khi chưa đến kỳ trả nợ ngân hàng. Như vậy, một phần nguyên nhân dẫn đến việc
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 46
ngân hàng phải cho gia hạn nợ cũng xuất phát chính việc thực hiện quy trình nghiệp vụ tín dụng của bản thân ngân hàng tạo ra.
- Hiện nay, bình qn mỗi cán bộ tín dụng phải quản lý khoản 1000 hộ vay; món vay lại nhỏ, phân tán trên địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn nhất là cho vay
ở các vùng sâu, vùng xa… Bên cạnh đó trong quy định về cho vay hiện hành của NHNo PTNT Việt Nam không quy định cụ thể. Cán bộ tín dụng phải kiểm tra, giám sát
khách hàng sử dụng vốn vay khi nào? Kiểm tra bao nhiêu lần trong thời gian cho vay? Từ đó hiện tượng “kiểm tra trên giấy” vẫn có thể xảy ra, nhất là đối với những hộ vùng
sâu, vùng xa. Thực tế cho thấy trong hồ sơ tín dụng hầu hết chỉ có một biên bản kiểm tra của cán bộ tín dụng sau khi phát tiền vay và một biên bản kiểm tra khi cho gia hạn nợ,
nhưng nội dung biên bản kiểm tra ghi rất chung chung, sơ sài mang tính chất đối phó để khơng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định 202000NĐ-CP của Chính phủ
“Vv xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng” mà chưa phản ánh được sát thực tình hình sử dụng vốn vay của hộ nơng dân. Bên cạnh đó,
đối với những hộ vay vốn qua tổ vay vốn thì cán bộ tín dụng thường có tâm lý ỷ lại vào việc đôn đốc, giám sát sử dụng vốn vay của các tổ trưởng.
- Việc cán bộ trực tiếp thu lãi của khách hàng là do đặc thù của tín dụng hộ nơng dân: món vay nhiều, nhỏ, lẻ, phân tán trên địa bàn rộng lại xa các điểm giao dịch
của ngân hàng, đường xá đi lại khó khăn, đồng thời các hộ vay lại rất ngại đến ngân hàng làm thủ tục trả lãi hàng tháng, nhất là các món vay với số tiền nhỏ, vào những thời
điểm mùa vụ bận rộn. Bên cạnh đó việc làm này đáp ứng việc hoàn thành các chỉ tiêu thụ lãi hàng tháng, hàng quý và đảm bảo nhu cầu tài chính cho ngân hàng.
- Đối với cho vay qua tổ vay vốn, do công tác khuyến nông, khuyến lâm chưa triển khai mạnh mẽ đến tận người vay nên tính hấp dẫn của hộ gia đình vào tổ vay vốn
của ngân hàng còn bị hạn chế. - Đã có một số nơi hộ vay vốn chưa thực sự tự nguyện vào tổ vay vốn vì họ có
sự so sánh giữa lợi ích của việc vay vốn qua tổ vay vốn và vay vốn trực tiếp tại ngân hàng. Mặt khác do công tác tuyên truyền, vận động quần chúng chưa làm tốt, có nơi chỉ
“phát” nhưng chưa “động” tại cơ sở.
- Việc thành lập tổ vay vốn chưa được phổ biến rộng rãi trong hội viên. Nhận thức về tổ vay vốn còn chưa được đúng trong nhiều hội viên như là tư tưởng chỉ khi cần
vay vốn mới xin gia nhập vào tổ. Việc thành lập tổ lại không kịp thời nên ảnh hưởng rất lớn đến việc vay vốn của hộ viên, kể cả việc xử lý nợ đến hạn của ngân hàng.
- Cán bộ hội viên còn e ngại, sợ mất lòng, đụng chạm tới việc bình xét của tổ cho hội viên vay vốn còn chưa thực chất, kết quả chưa cao, việc tái thẩm định của cán
bộ tín dụng còn nặng nề hơn do số lượng khách hàng tăng lên.
GVHD: TS. Hồ Hữu Tiến SV: Nguyễn Thị Phương Thảo
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 47
- Hộ nông dân vay vốn đến 30 triệu đồng không phải thế chấp là một qui định thuận lợi cho nông dân. Tuy nhiên, khi chưa có quyền sử dụng đất, khách hàng chỉ phải
nộp xác nhận của chính quyền địa phương về đất đai đang sử dụng, khơng có tranh chấp mà khơng phải cam kết thêm điều gì ví dụ khơng vay vốn ở các tổ chức tín dụng khác
hoặc khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ nộp vào ngân hàng…. Chính vì vậy đã xảy ra những trường hợp vay vốn nhiều nơi, gây khó khăn cho ngân hàng
trong việc xử lý thu hồi nợ.
- Thực tiễn cho thấy, một bộ phận không nhỏ người nông dân thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp. Một số cơ quan và cán bộ
khuyến nông, khuyến lâm đôi khi chỉ quan tâm đến việc đầu tư vốn mà không chú ý đến việc hướng dẫn phương hướng sản xuất, phổ biến kỹ thuật sản xuất, khơng tính tốn cụ
thể khâu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Chính vì thế nơng dân đã gặp khó khăn trong việc sử dụng vốn, phát huy nội lực của tiền vốn và các tiềm năng khác. Việc vay và sử dụng
vốn vay có hiệu quả trong thực tế sản xuất là trách nhiệm và là nỗi lo của người nơng dân. Vấn đề này đòi hỏi sự quan tâm, hổ trợ của nhiều ngành, nhiều cấp.

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI HND TẠI CHI NHÁNH


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

×