1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Cấu thành của thị trường tài chính Vai trò của thị trường tài chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (207.42 KB, 20 trang )


Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho thấy một nền kinh tế tài chính lành mạnh theo hướng tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội, sẽ tạo
ra cơ sở kinh tế-xã hội vững chắc cho việc củng cố liên minh cơng-nơng-trí thức, nền tảng cho việc tăng cường vai trò của nhà nước và an ninh quốc
phòng. [ 1 ,trg 206 – 208 ] [5, trg 547]
1.1.2 Thị trường tài chính 1.1.2.1 Định nghĩa: “Thị trường tài chính là nơi diễn ra hoạt động giao
dịch và mua bán quyền sử dụng những khoản vốn thông qua các phương thức giao dịch và những công cụ tài chính nhất định”
Đối tượng được mua bán trên thị trường tài chính là các khoản vốn Để mua bán các khoản vốn này, người ta sử dụng các công cụ giao dịch nhất
định. [14 , web ]

1.1.2.2 Phân loại thị trường tài chính


Có nhiều cách đến phân loại thị trường tài chính:  Nếu phân loại theo cơng cụ tài chính trên thị trường thì ta có:
- Thị trường nợ - Thị trường chứng khoán
 Nếu phân loại theo thời gian luân chuyển vốn, ta có: - Thị trường tiền tệ: thị trường có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm
- Thị trường vốn: thị trường có thời gian luân chuyển vốn trên 1 năm trở lên  Nếu phân loại theo hình thức phát hành, thì ta có:
- Thị trường sơ cấp: thị trường phát hànhc chứng khoán lần đầu tiên - Thị trường thứ cấp: thị trường mua đi bán lại các chứng khoán
Tuy nhiên, trong thực tế việc sử dụng các hình thức phân loại nào thì sẽ tuỳ thuộc vào vấn đề mà người ta muốn nghiên cứu đến. Thơng thường, khi
nói đến thị trường tài chính người ta thường phân ra theo 2 cách dưới. [ 14, web ]

1.2 Cấu thành của thị trường tài chính


Trong một thị trường tài chính hiện đại, ln có ba thành phần cơ bản sau đây tham gia: Người sử dụng cuối cùng,các định chế tài chính trung gian, và
các nhà đầu tư.
1.2.1Người sử dụng cuối cùng Những doanh nghiệp, tư nhân khi cần đầu tư vốn cho kế hoạch kinh
doanh của mình. Họ có thể huy động nguồn vốn này trên thị trường tài chính, bằng nhiều hình thức khác nhau thơng qua các định chế tài chính trung gian.
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Quang Hội
5
Họ là những người sử dụng nguồn vốn này để thực hiện các kế hoạch kinh doanh, tạo ra lợi nhuân. Đồng thời, họ cũng có những nghĩa vụ của người vay
nợ đối với người cho vay.
1.2.2Các định chế tài chính trung gian
 Các tổ chức nhận ký gửi Các tổ chức nhận ký gửi bao gồm các ngân hàng thương mại, các hợp tác xã
tín dụng. Các tổ chức này có đặc điểm chung là nhận tiền gửi và sau đó đem cho vay trực tiếp tới các cá nhân, tổ chức cần vốn và một phần khác đem đầu
tư vào chứng khoán. Như vậy, thu nhập của tổ chức này có được từ 2 nguồn: thu nhập từ tiền lãi cho vay và đầu tư chứng khốn; thu nhập từ các khoản phí
dịch vụ.
 Các tổ chức không nhận ký gửi Loại tổ chức này bao gồm các tổ chức như: công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí,
quỹ đầu tư [ 14 , web ]
1.2.3Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những ngưòi sẵn sang bỏ vốn ra để đầu tư cho các dự án kế hoạch. Trong lĩnh vực tài chính,họ chính là thành phần đầu vào tạo ra nguồn
vốn cho các doanh nghiêp. Họ là những người gửi tiết kiệm ngân hàng, mua cổ phiếu,trái phiếu. Mong muốn của các nhà đầu tư là số vốn của mình bỏ ra
tạo ra được lợi nhuận.

1.3 Vai trò của thị trường tài chính


Thị trường tài chính có 3 chức năng kinh tế cơ bản sau:

Thứ nhất, hình thành giá các tài sản tài chính. Thơng qua tác động qua lại giữa những người mua và những người
bán, giá của tài sản tài chính chứng khốn được xác định, hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản tài chính được xác định. Yếu tố
thúc đẩy các doanh nghiệp gọi vốn chính là mức lợi tức mà các nhà đầu tư yêu cầu; và với đặc điểm này của thị trường tài chính đã phát tín hiệu cho
biết vốn trong nền kinh tế cần được phân bổ như thế nào giữa các tài sản tài chính. Q trình đó được gọi là q trình hình thành giá.

Thứ hai, cung cấp một cơ chế để cho các nhà đầu tư bán một tài sản tài chính.
Với đặc tính này, thị trường tài chính là thị trường tạo ra tính thanh khoản. Thiếu tính thanh khoản, các nhà đầu tư phải nắm giữ tài sản tài chính cho đến
khi nào đáo hạn, hoặc đối với cổ phiếu cho khi nào công ty tự nguyện thu hồi hoặc nếu khơng tự nguyện thì phải chờ thanh lý tài sản. Mặc dù tất cả các thị
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Quang Hội
6
trường tài chính đều có tính thanh khoản, nhưng mức độ thanh khoản sẽ là khác nhau giữa chúng.

Thứ ba, giảm bớt chi phí tìm kiến và chi phí thơng tin.
Để các giao dịch có thể được diễn ra thì những người mua và người bán phải tìm được nhau. Họ phải mất rất nhiều tiền và thời gian cho việc tìm kiếm
này, ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của họ. Chi phí đó là chi phí tìm kiếm. Bên cạnh đó, để tiến hành đầu tư họ cần có các thơng tin về giá trị đầu tư như
khối lượng và tính chắc chắn của dòng tiền kỳ vọng. Thị trường tài chính nhờ có tính trung lập này – là nơi để người mua, người bán đến đó tìm gặp nhau,
là nơi cung cấp các thông tin một cách công khai và đầy đủ - nên có khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch lớn vì thế nó cho phép giảm đến mức thấp
nhất những khoản chi phí trên.
Thị trường tài chính phát triển cùng với trình độ phát triển của nền kinh tế, đi từ đơn giản đến phức tạp. Ở trình độ phát triển ngày càng cao, thị trường tài
chính ngày càng có nhiều loại trung gian tài chính tham gia. Các trung gian tài chính ngày càng tạo ra nhiều loại sản phẩm tài chính đa dạng, đáp ứng
ngày càng đầy đủ nhu cầu của các bên tham gia thị trường. [ 2 , trg 23 ]
Chương II: Thực trạng hoạt động của thị trường tài chính ở nước ta thời gian qua
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường tài chính 1991 tới nay
Với sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam vào tháng 7 năm 2000. Ta có thể dựa vào cột mốc đó để chia ra làm hai giai đoạn hình thành và
phát triển của thị trường tài chính
2.1.1 Giai đoạn từ 1990 đến 2000 Đây là giai đoạn đầu, phơi thai cho một thị trường tài chính hoạt động
theo cơ chế thị trường. Do chịu ảnh hưởng của một thời kỳ chiến tranh lâu dài, và thời kỳ trước đổi mới, nền kinh tế ta hoạt động một cách quan liêu và
bao cấp kém hiệu quả. Sau đổi mới năm 1986, một thị trường tài chính Việt Nam đã dần dần thành hình. Điển hình là qua những sự kiện như:
 Tháng 51990, Hội đồng Nhà nước đã thông qua và công bố hai pháp lệnh về Ngân hang: Pháp lệnh ngân hang nhà nước và Pháp lệnh ngân
hang, Hợp tác xã tín dụng và Cơng ty tài chính. Hai pháp lệnh nói trên đã tạo cơ sở pháp lý để đổi mới cơ bản tổ chức và hoạt động của hệ
thống ngân hang, được coi là mũi đột phá mở đầu cho sự nghiệp đổi mới hệ thống ngân hang, chính sách tiền tệ, tín dụng trong giai đoạn
1990- 2000.
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Quang Hội
7
 Về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: nhằm thu hút thêm các nguồn vốn, tạo nên động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có
hiệu quả. Văn kiện đại hội Đảng VII khẳng định “ cần thực hiện các hình thức cổ phần hố có mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản
xuất- kinh doanh “
 Hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam ra đời và bước vào hoạt động từ 1101995 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong định hướng phát
triển của Đảng và Nhà nước  Các chính sách và quản lý thuế được đưa ra và sửa đổi liên tục nhằm
đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển của đất nước  Về tổ chức thị trường tiền tệ: trong những năm này, chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước đã rất chú trọng tạo dựng hệ thống thị trường tiền tệ bao gồm thị trường tiền gửi, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, thị
trường trái phiếu kho bạc, nghiệp vụ mở… . Tuy chưa có điều kiện phát triển nhưng hệ thống thị trường tiền tệ đã góp phần tích cực trong
việc khắc phục tình trạng ách tắc của lưu thơng, thanh tốn, phân phối và điều chỉnh các nguồn vốn ở một mức độ nhất định; đồng thời mở ra
nhiều cơ hội kinh doanh cho các chủ thể kinh tế.
Trong giai đoạn này, thị trường tài chính đã dần dần có những bước đột phá và thành công nhất đinh. Nhưng mức độ huy động vốn trong dân, và
từ nước ngoài vẫn chiếm một tỷ lệ chưa cao.
2.1.2 Giai đoạn từ năm 2000 cho đến này Cột mốc đánh dấu đáng chú ý nhất, có ảnh hưởng lớn nhất và đáng tự
hào nhất của thị truờng tài chính Viêt Nam. Đó chính là sự ra đời của thị trường chứng khoán, một thị trường vốn- một kênh huy động vốn hiệu quả
nhất cho nền kinh tê. Từ khi thị trường chứng khoán ra đời, đã tạo nên những bước chuyển đổi và nhảy vọt quan trọng. Thị trường tài chính lớn mạnh hơn,
giúp đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.
Sau sở giao dich chứng khốn TP.Hồ Chí Minh, rồi đến lượt trung tâm giao dich chứng khoán Hà Nội ra đời. Thị truờng tài chính lại bùng nổ, với
hàng loạt quỹ đầu tư trong nước và nước ngoài ra đời, các ngân hàng thương mại cổ phần nhiều hơn, mức độ huy động vốn lớn hơn, tạo ra một súc mạnh
lớn cho nền kinh tế. Uớc tính mức vốn hố của thị trường chứng khoán hiện nay đã là 40 GDP. Con số này sẽ ngày càng được tăng lên trong những thời
gian tới. Có thể nói rằng, chưa bao giờ thị truờng tài chính Việt Nam lại phát triển manh mẽ như lúc này. [ 4 , trg 331 - trg 337 ] [10, web] [9, web ]
2.2 Vai trò thị trường tài chính trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta những năm qua
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Quang Hội
8
Thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người
kinh doanh . giúp cho việc chuyển vốn từ người khơng có cơ hội
đầu tư sinh lợi đến những người có cơ hội đầu tư sinh lợi. Hiện nay, nguồn
vốn đầu tư đóng góp khoảng 50 - 55 tăng trưởng kinh tế hằng năm. Bởi vậy, huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội là một khâu cốt yếu
của toàn bộ hệ thống các ngân hàng nước ta.
Trong điều kiện vốn ngân sách nhà nước có hạn, vốn tự có của doanh nghiệp và người sản xuất còn ít ỏi, thì vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh chủ
yếu dựa vào vốn tín dụng ngân hàng. Để có vốn cho vay, các ngân hàng thương mại NHTM đã huy động vốn trong xã hội, vốn trong dân, vốn nước
ngoài. Hệ thống ngân hàng huy động vốn cho đầu tư phát triển bằng đa dạng các phương thức, như: giải tỏa vốn đọng trong số nợ xấu, phát hành cổ phiếu
và trái phiếu tăng vốn điều lệ, thu hút tiền gửi tiết kiệm và phát triển dịch vụ ngân hàng.
Tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng tồn quốc trong 5 năm qua đạt tốc độ tăng khoảng 20 - 25năm, gấp hơn 3 lần
tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể năm 2000 vốn huy động của hệ thống ngân hàng tăng 26,5 so với năm trước, năm 2001 tăng 25,53, năm 2002 tăng
17,7, năm 2003 tăng 24,94, năm 2004 tăng 30,39, năm 2005 tăng 18 và 6 tháng đầu năm 2006 tăng hơn 12.
Có thể khẳng định, hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ lực đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Đáng chú ý là các NHTM nhà nước chiếm trên
70 thị phần huy động vốn; thị phần của các NHTM cổ phần tuy còn khiêm tốn, nhưng đang có xu hướng tăng nhanh. Bên cạnh các kênh huy động vốn
nói trên hệ thống ngân hàng còn là đầu mối đàm phán và ký kết, tổ chức tiếp nhận vốn và cho vay nhiều dự án của WB, ADB,... về điện lực, giao thơng
nơng thơn, cải thiện mơi trường, xóa đói giảm nghèo.
Huy động vốn của ngân sách chủ yếu bằng hình thức phát hành tín phiếu Kho bạc nhà nước qua đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước, với sự tham
gia của các ngân hàng, tổ chức bảo hiểm, quỹ đầu tư...; phát hành trái phiếu Chính phủ trong và ngồi nước, phát hành công trái và vốn của Công ty dịch
vụ tiết kiệm Bưu điện, vốn của Bảo hiểm xã hội chuyển cho Quỹ hỗ trợ phát triển nay là Ngân hàng Phát triển. Thêm vào đó còn có nguồn vốn ODA do
Ngân hàng Phát triển cho vay lại.
Trong giai đoạn 2001 - 2005, Chính phủ đã phát hành khoảng gần 60.000 tỉ đồng trái phiếu; trong đó 50.000 tỉ đồng phát hành qua Kho bạc Nhà
nước, 8.000 tỉ đồng phát hành qua đấu giá trên Trung tâm Giao dịch chứng khốn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh... Cuối năm 2005, Chính phủ cũng
lần đầu tiên phát hành 750 triệu USD trái phiếu ra thị trường quốc tế, thời hạn trái phiếu là 10 năm. Giá bán cuối cùng của trái phiếu cho các nhà đầu tư
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Quang Hội
9
nước ngoài bằng 98,223 mệnh giá, với lãi suất là 6,875năm, tính ra theo lãi suất của nó, lãi suất của 100 mệnh giá trái phiếu là 7,125năm. So với
một số nước có mức độ tín nhiệm tương đương Việt Nam thì lãi suất trái phiếu của Việt Nam thấp hơn. Cụ thể, lãi suất trái phiếu cùng kỳ hạn của Phi-
lip-pin là 8,075năm, của In-đơ-nê-xi-a là 7,75năm. Tồn bộ số vốn phát hành trái phiếu Chính phủ nói trên được Bộ Tài chính để Tổng công ty Công
nghiệp tàu thủy Việt Nam vay lại đầu tư cho các dự án đóng tàu.
Đến ngày 31-12-2005, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước đã tham gia với tư cách vốn mồi để thực hiện trên 6.600 dự án thuộc đối tượng hỗ trợ theo quy định của Chính phủ với tổng số vốn theo hợp đồng
tín dụng đã ký khoảng 160.000 tỉ đồng, đã giải ngân gần 110.000 tỉ đồng, dư nợ 79.578 tỉ đồng. Cùng với hình thức hỗ trợ trực tiếp, hình thức bảo lãnh tín
dụng và hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cũng được đẩy mạnh. Đến nay đã có 1.846 dự án được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư với tổng số vốn hỗ trợ theo hợp đồng là
1.550 tỉ đồng và 5 dự án được bảo lãnh tín dụng đầu tư với tổng số vốn gần 30 tỉ đồng; với hai hình thức hỗ trợ gián tiếp này đã tạo vốn để huy động hàng
chục ngàn tỉ đồng từ các nhà đầu tư, tổ chức tín dụng cho đầu tư phát triển. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã huy động gần 7.000 tỉ đồng trái phiếu
địa phương; riêng Hà Nội cũng huy động được hàng trăm tỉ đồng qua phát hành trái phiếu xây dựng cầu Thanh Trì. Đây là một giải pháp rất quan trọng
để huy động vốn cho đầu tư phát triển, giảm sức ép về cung ứng vốn từ hệ thống ngân hàng, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Để giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng và được phép của Chính phủ, một số loại trái phiếu doanh nghiệp cũng được phát hành để huy động
vốn trong xã hội, như: trái phiếu của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, trái phiếu của Tổng công ty Dầu khí... Tính đến nay, số vốn trái phiếu doanh
nghiệp phát hành cũng lên tới vài nghìn tỉ đồng. [ 7, web][9, web][12, web]
Một kênh huy động vốn quan trọng khác là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo hình thức bán đấu giá và bán cổ phần của Nhà nước trong các
doanh nghiệp cổ phần hóa mà cổ phiếu có tính thanh khoản cao, lợi nhuận hấp dẫn, như: Vinamilk, Công ty Cao su miền Nam, một số nhà máy điện...
đã thu được hàng nghìn tỉ đồng cho ngân sách nhà nước. Đó là chưa kể hàng chục ngàn tỉ đồng đã được huy động trong doanh nghiệp tư nhân.

2.3 Thành tựu và những vấn đề cần đặt ra


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

×