1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Thành tựu và những vấn đề cần đặt ra

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (207.42 KB, 20 trang )


nước ngoài bằng 98,223 mệnh giá, với lãi suất là 6,875năm, tính ra theo lãi suất của nó, lãi suất của 100 mệnh giá trái phiếu là 7,125năm. So với
một số nước có mức độ tín nhiệm tương đương Việt Nam thì lãi suất trái phiếu của Việt Nam thấp hơn. Cụ thể, lãi suất trái phiếu cùng kỳ hạn của Phi-
lip-pin là 8,075năm, của In-đơ-nê-xi-a là 7,75năm. Tồn bộ số vốn phát hành trái phiếu Chính phủ nói trên được Bộ Tài chính để Tổng cơng ty Cơng
nghiệp tàu thủy Việt Nam vay lại đầu tư cho các dự án đóng tàu.
Đến ngày 31-12-2005, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước đã tham gia với tư cách vốn mồi để thực hiện trên 6.600 dự án thuộc đối tượng hỗ trợ theo quy định của Chính phủ với tổng số vốn theo hợp đồng
tín dụng đã ký khoảng 160.000 tỉ đồng, đã giải ngân gần 110.000 tỉ đồng, dư nợ 79.578 tỉ đồng. Cùng với hình thức hỗ trợ trực tiếp, hình thức bảo lãnh tín
dụng và hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cũng được đẩy mạnh. Đến nay đã có 1.846 dự án được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư với tổng số vốn hỗ trợ theo hợp đồng là
1.550 tỉ đồng và 5 dự án được bảo lãnh tín dụng đầu tư với tổng số vốn gần 30 tỉ đồng; với hai hình thức hỗ trợ gián tiếp này đã tạo vốn để huy động hàng
chục ngàn tỉ đồng từ các nhà đầu tư, tổ chức tín dụng cho đầu tư phát triển. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã huy động gần 7.000 tỉ đồng trái phiếu
địa phương; riêng Hà Nội cũng huy động được hàng trăm tỉ đồng qua phát hành trái phiếu xây dựng cầu Thanh Trì. Đây là một giải pháp rất quan trọng
để huy động vốn cho đầu tư phát triển, giảm sức ép về cung ứng vốn từ hệ thống ngân hàng, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Để giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng và được phép của Chính phủ, một số loại trái phiếu doanh nghiệp cũng được phát hành để huy động
vốn trong xã hội, như: trái phiếu của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, trái phiếu của Tổng cơng ty Dầu khí... Tính đến nay, số vốn trái phiếu doanh
nghiệp phát hành cũng lên tới vài nghìn tỉ đồng. [ 7, web][9, web][12, web]
Một kênh huy động vốn quan trọng khác là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo hình thức bán đấu giá và bán cổ phần của Nhà nước trong các
doanh nghiệp cổ phần hóa mà cổ phiếu có tính thanh khoản cao, lợi nhuận hấp dẫn, như: Vinamilk, Công ty Cao su miền Nam, một số nhà máy điện...
đã thu được hàng nghìn tỉ đồng cho ngân sách nhà nước. Đó là chưa kể hàng chục ngàn tỉ đồng đã được huy động trong doanh nghiệp tư nhân.

2.3 Thành tựu và những vấn đề cần đặt ra


Việt Nam đã có những bước đi hết sức quan trọng trong việc mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
WTO mở ra nhiều cơ hội mới cho Việt Nam trên con đường phát triển đất nước. Hệ thống pháp luật ngày càng thơng thống được đưa vào áp dụng
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Quang Hội
10
nhằm mở mang chính sách tài chính và ngân hàng đáp ứng với yêu cầu hội nhập
Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện mạnh mẽ, đặc biệt Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư chung có hiệu lực từ tháng 7 năm
2006 là một bước tiến mang tính đột phá. Thực tế đã mở ra nhiều cơ hội mới cho cộng đồng các doanh nghiệp trong và ngồi nước, thị trường hàng hóa
và dịch vụ được mở rộng với những luật lệ rõ ràng và minh bạch hơn.Nước ta mở cửa mạnh mẽ nền kinh tế tạo ra rất nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư và
dòng vốn từ các nền kinh tế lớn chảy vào gia tăng đáưng kể.
Đặc biệt là sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam vào tháng 7 năm 2000 đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự phát triển của thị
trường tài chính. Thị trường chứng khoán ra đời càng lúc càng lớn mạnh, đầu tiên là trung tâm giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh giờ đã chuyển thành
Sở giao dịch chứng khoán ,rồi đến trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội. Mức vốn hóa trên thị trường chứng khốn hiện nay đã chiếm 40 GDP. Đây
là những thành tựu đáng tự hào vì đã đạt được. Tuy nhiên, để nền kinh tế đất nước phát huy được hết tiềm năng, thì việc thiết lập một cơ sở hạ tầng tài
chính hiệu ích là vơ cùng quan trọng.
Trong đó việc cải thiện các yếu tố kinh tế cơ bản và các cải cách chính sách đang thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn tại Việt Nam. Sự phát
triển của thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ có tầm quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước.
Trong đó sự phát triển thị trường trái phiếu cũng như kế hoạch cổ phần hóa có tác động mạnh mẽ đến thị trường cổ phiếu sẽ tạo thêm nhiều cơ hội
cho các nhà đầu tư tham gia lớn hơn. Phát triển hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cũng nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng của tín dụng nội địa một cách
lành mạnh, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hữu hiệu. Trong thực tiễn đã có những tiến bộ đáng kể đối với hệ thống ngân hàng và
hội nhập thị trường vốn quốc tế. Khu vực ngân hàng tiếp tục phát triển mạnh và kế hoạch cổ phần hóa các ngân hàng quốc doanh có ảnh hưởng rất lớn đến
sự phát triển của thị trường này. Do đó cần quan tâm tới các vấn đề cổ phần hóa trong ngành ngân hàng, tình trạng nợ xấu đe dọa đến sự ổn định của hệ
thống tổ chức tín dụng và các ngân hàng nước ngồi đóng vai trò đáng kể trong việc phát triển thị trường tài chính.
Việt Nam đã thực hiện hàng loạt biện pháp cải cách, trong đó có nhiều nỗ lực đối với việc đơn giản hóa các thủ tục đầu tư kinh doanh cho mọi loại
hình doanh nghiệp. Thực tế đòi hỏi tiếp tục tăng cường hơn nữa sự lành mạnh toàn diện để xây dựng một hệ thống ngân hàng có thể đủ sức chống chọi lại
được những biến động trong các dòng vốn đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Đó là một hệ thống ngân hàng phát triển mạnh các
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Quang Hội
11
dịch vụ hiện đại mang lại nhiều tiện ích cho đầu tư và có thể điều phối được nguồn vốn vào Việt Nam một cách có hiệu quả là hết sức cần thiết.
Việt Nam ngày nay phải nỗ lực nhiều hơn nữa nhằm phát triển một thị trường vốn năng động, thiết lập cơ sở hạ tầng tín dụng có thể đáp ứng được
nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Song song đó là xây dựng mạng cơng nghệ thơng tin hồn chỉnh, thiết lập hệ thống đánh giá tín nhiệm đáng tin cậy và những
hành lang pháp lý phù hợp cho việc phát triển mạnh nguồn vốn của doanh nghiệp. Đặc biệt là đẩy mạnh tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
và đưa những doanh nghiệp này tham gia thị trường chứng khoán.
Đây là một cam kết thúc đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của thị trường tài chính rộng lớn và qua đó nâng cao lòng tin đối với các nhà đầu tư. Việt
Nam đang tiếp tục hồn thiện các khn khổ pháp lý theo hướng tiếp cận thông lệ quốc tế, tăng cường các biện pháp chống tham nhũng, chống rửa tiền,
cải cách hành chính, lành mạnh hệ thống tài chính; duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững, thúc đẩy quá trình quản trị doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân
lực, cơ cấu lại các khu vực kinh tế nhà nước và tạo ra sự bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế.
Sự phát triển của Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng là hướng về phía trước và có một lộ trình cụ thể thực hiện điều này với một dân số trẻ
trung đầy lạc quan sẽ gặt hái được thành cơng hậu WTO. Các tập đồn nước ngồi đầu tư mạnh hơn vào Việt Nam chính vì tiềm năng của đất nước và họ
đánh giá tương lai nước ta sớm trở thành một trong những nền kinh tế năng động nhất tại châu Á. TPHCM không thể bỏ lỡ cơ hội nhanh chân xây dựng
nơi đây là một trung tâm tài chính của khu vực Đơng Nam Á, trong đó xác định thu hút đầu tư nước ngồi về lĩnh vực tài chính - ngân hàng là một nhiệm
vụ trọng tâm, tạo động lực cho kinh tế Việt Nam hội nhập hiệu quả vào kinh tế khu vực và thế giới. [9 ,web] [13, web]

Chương III: Giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường tài chính


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

×