1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Những tồn tại trong quá trình phát triển e-banking tại Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (465.23 KB, 102 trang )


ANZ trong hệ thống ngân hàng trong nước. Ơng còn nhấn mạnh rằng sự hợp tác hơn nữa giữa ANZ với các ngân hàng trong nước trong thời gian tới sẽ
thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

3. Ngân hàng HSBC The Hongkong and Shanghai Banking Corporation Limited


Hexagon là tên gọi của dịch vụ ngân hàng điện tử toàn cầu của tập đoàn HSBC. Hexagon được cung cấp riêng cho các khách hàng là công ty.
Hexagon là một trong những dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại và dễ sử dụng nhất trên thị trường hiện nay. Hexagon cho phép các khách hàng có thể
thực hiện giao dịch ở bất cứ đâu, 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần. Với Hexagon giao dịch ngân hàng trở nên hiệu quả hơn, tăng độ chính xác và an
tồn, đồng thời giảm thiểu được rủi ro.
Hiện nay các khách hàng của HSBC ở 60 quốc gia và vùng lãnh thổ đang sử dụng Hexagon, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay HSBC mới chỉ
cung cấp các dịch vụ ngân hàng tại chi nhánh TP Hồ Chí Minh.
Hexagon cũng có thể cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tương tự như hệ thống ANZLink của ANZ.

V. Những tồn tại trong quá trình phát triển e-banking tại Việt Nam hiện nay


Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang có những bước phát triển tích cực trong việc triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử để tứng bước hội nhập với cộng
-
78
-
đồng tài chính trong lộ trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như sau:
Thứ nhất, mặc dù dịch vụ ngân hàng điện tử đã được một số ngân hàng trong nước triển khai nhưng vẫn chưa có một hệ thống pháp lý hồn chỉnh cho
thương mại điện tử nói chung và dịch vụ ngân hàng điện tử nói riêng. Hiện nay đã có một số văn bản pháp luật có liên quan đến thanh tốn điện tử trong
ngân hàng như:

Quyết định 44QĐ-TTg ngày 21032002 về việc sử dụng chứng từ điện
tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của các ngân hàng và các tổ chức khác được thực hiện dịch vụ thanh tốn.

Quyết định 2122002QĐ-NHNN ngày 2032002 về việc ban hành qui
trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh tốn bù trừ điện tử liên ngân hàng.

Quyết định 3492002QĐ- NHNN ngày 1742002 về việc ban hành qui
định về xây dựng, cấp phát, quản lý và sử dụng mã khoá bảo mật trong hệ thống thanh tốn điện tử liên ngân hàng.
• Quyết định 5432002QĐ-NHNN ngày 2952002 về việc ban hành qui
định về xây dựng, cấp phát, quản lý và sử dụng chữ ký điện tử trên chứng từ điện tử trong thanh tốn điện tử liên ngân hàng.
Tuy nhiên vẫn còn thiếu các văn bản pháp luật qui định về quyền và nghĩa vụ của ngân hàng và khách hàng trong các dịch vụ ngân hàng điện tử và những
qui chế giải quyết các tranh chấp nếu xảy ra có liên quan đến loại hình dịch vụ này.
Điều này tương đối dễ hiểu vì dịch vụ ngân hàng điện tử vẫn còn khá mới mẻ ngay cả đối với ngân hàng ở các quốc gia phát triển trên thế giới, việc xây
dựng một hệ thống pháp lý đầy đủ đòi hỏi phải có thời gian.
-
79
-
Thứ hai, dịch vụ ngân hàng điện tử mới chỉ được tập trung triển khai tại một số ít ngân hàng lớn tại Việt Nam. Trong số khoảng hơn 100 ngân hàng bao
gồm 26 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 6 chi nhánh phụ thuộc ngân hàng nước ngồi, 4 ngân hàng liên doanh, 41 văn phòng đại diện tổ chức tín dụng
nước ngồi hoạt động tại Việt Nam, 6 ngân hàng thương mại quốc doanh, gần 50 ngân hàng cổ phần, chỉ có khoảng 15 là thực sự quan tâm đến dịch vụ
ngân hàng điện tử. Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là thiếu vốn. Mọi dịch vụ ngân hàng điện tử đều gắn liền với yếu tố khoa học cơng nghệ và đòi hỏi
phải có sự đầu tư tương đối lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật trong khi lượng vốn của các ngân hàng trong nước còn rất hạn chế.
Sự yếu kém và thiếu đồng bộ trong sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng cũng làm cản trở phạm vi triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt
Nam. Thật khó có thể phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử khi mà internet, truyền hình kỹ thuật số… vẫn còn xa lạ với đa số người dân.
Một lý do nữa khiến cho chưa nhiều ngân hàng triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử là nguồn nhân lực. Để thành công trong việc đưa ra sản phẩm, dịch vụ
mới thì điều quan trọng là đội ngũ nhân viên ngân hàng phải là người nắm vững và có hiểu biết sâu rộng về loại sản phẩm, dịch vụ đó để có đủ khả năng
hướng dẫn, giải thích cho các khách hàng cũng như tránh được rủi ro, sai sót. Hiện nay, đa số nhân viên các ngân hàng trong nước còn có hiểu biết hạn chế
về các ứng dụng khoa học cơng nghệ trong ngân hàng nói chung và dịch vụ ngân hàng điện tử nói riêng. Muốn vậy, các ngân hàng phải bỏ ra một chi phí
khơng nhỏ để đào tạo đội ngũ nhân viên và điều này cũng đòi hỏi phải có thời gian chứ khơng thể thực hiện được ngay trong ngày một ngày hai.
Thứ ba, số lượng khách hàng quan tâm và sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử còn rất ít. Kết quả của một cuộc điều tra gần đây của Phòng Thương mại và
-
80
-
Công nghiệp Việt Nam VCCI cho thấy chỉ có khoảng 10 số doanh nghiệp trong tổng số 90.000 doanh nghiệp tỏ ra quan tâm đến thương mại điện tử và
dịch vụ ngân hàng điện tử trong đó có 3 là thực sự sử dụng dịch vụ này. Hiện nay ở Việt Nam mới chỉ có một số ít người sử dụng dịch vụ rút tiền tự
động, một trong những dịch vụ ngân hàng điện tử đơn giản và phổ biến nhất trên thế giới. Một trong những lý do khiến cho khách hàng e ngại khi sử dụng
dịch vụ này là những phiền toái khi bị máy nuốt thẻ mà nguyên nhân phần lớn là do khách hàng sử dụng chưa đúng cách.
Mọi dịch vụ ngân hàng điện tử đều được cung cấp dựa trên cơ sở khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng trong khi đa số khách hàng chưa có thói quen gửi
tiền vào tài khoản. Tâm lý chung của cả người bán lẫn người mua hiện nay ở Việt Nam vẫn là thích dùng tiền mặt thanh tốn do có thể nhìn thấy, sờ thấy
được. Thu nhập thấp cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng khách hàng ít quan tâm đến mở tài khoản cũng như sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử.
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tại TP Hồ Chí Minh tính đến tháng 112002 có khoảng trên 130.000 khách hàng cá nhân mở tài khoản giao dịch
thanh toán, tăng trên 32.000 tài khoản so với đầu năm 2002.
3
Tuy nhiên so với số lượng dân cư và tình hình phát triển xã hội chung ở TP Hồ Chí Minh thì số
tài khoản cá nhân trên còn q nhỏ.
Nói tóm lại, cở sở hạ tầng kỹ thuật nghèo nàn, thiếu vốn, ngành ngân hàng kém phát triển, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, lượng khách hàng qua
tâm và sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử chưa cao, trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên ngành ngân hàng nói chung còn nhiều hạn chế - đó là những khó
khăn chính của Việt Nam trên con đường áp dụng và phát triển e-banking. Tuy nhiên không vì các khó khăn trên mà Việt Nam khơng định hướng phát
triển e-banking, vì như vậy Việt Nam sẽ càng bị tụt hậu và cô lập hơn.
3 Thời Báo Kinh Tế Việt Nam số ra ng y 13112002 à
-
81
-

Chương III: Các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển e- banking tại Việt Nam


I. Nhóm giải pháp pháp lý


Hiện nay một số ngân hàng đã tiến hành các giao dịch mạng, vậy cơ sở pháp lý cho các giao dịch đó là gì ? Nếu có tranh chấp xảy ra liên quan tới các giao dịch
điện tử thì sẽ giải quyết như thế nào và cơ quan nào sẽ đứng ra làm trọng tài ?
Tổng Thư ký kiêm Phó Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, ông Mai Anh, cho rằng thách thức lớn nhất của thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay là các cơ quan
quản lý chưa thật sự vào cuộc. Ông Mai Anh cũng hối thúc Chính phủ phải thành lập một cơ quan chun trách về thương mại điện tử, theo mơ hình của
một số nước láng giềng như Thái Lan, Malaysia, Singapore.
Năm nay có thể ban hành Pháp lệnh Thương mại điện tử, ơng Nguyễn Hữu Anh, Phó ban soạn thảo Pháp lệnh, đã cho biết như vậy trong buổi hội thảo về
Con đường đi tới thương mại điện tử ở Việt Nam. Ông thừa nhận tranh chấp liên quan đến giao dịch điện tử xảy ra bây giờ sẽ khơng có cơ sở pháp lý để giải
quyết.
Thực ra, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có một số văn bản pháp luật đề cập những vấn đề liên quan đến thương mại điện tử. Như Luật Thương mại quy định
thư điện tử có giá trị pháp lý như văn bản viết, Bộ Luật Hình sự quy định một số tội danh liên quan đến vận hành, khai thác mạng máy tính trái phép, hay mới
đây Chính phủ quyết định cho ngành ngân hàng sử dụng chứng từ điện tử trong thanh tốn nội bộ… Tuy nhiên, các văn bản trên còn sơ sài, chưa tạo khung khổ
pháp lý đầy đủ về thương mại điện tử.
-
82
-

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (102 trang)

×