1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Căn cứ vào phương thức thanh toán:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (564.7 KB, 75 trang )


14
cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và ngược lại nhờ nguồn tín dụng của ngân hàng nhà nhập khẩu thực hiện được những nhập khẩu quan trọng trong khi
khả năng tài chính của họ chưa đáp ứng được. Thứ năm, ngân hàng là một đầu mối tiếp nhận các nguồn tài trợ của nước
ngoài cho hoạt động xuất nhập khẩu. Bởi vì hiện nay phần lớn các nguồn tài trợ của các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào đó được
thực hiện qua các ngân hàng nước sở tại. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu càng có
ý nghĩa hơn khi ngân hàng thực hiện các chính sách của Nhà nước, trong đó có chính sách hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngân hàng sẽ cung cấp
cho các nhà xuất nhập khẩu những khoản tín dụng lớn với lãi xuất ưu đãi mà nhờ đó họ có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hoạt động kinh doanh của
mình.
1.2.2. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại.
Thương mại quốc tế bao gồm những mối quan hệ rất đa dạng,phức tạp. Với tư cách là trung gian tài chính,ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong
việc đảm bảo cho hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra liên tục nhanh chóng,thuận lợi cho cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu.Dựa trên các tiêu chí ta có thể chia
tín dụng xuất nhập khẩu ra thành các hình thức như sau:

1.2.2.1. Căn cứ vào phương thức thanh tốn:


a cho vay trong khn khổ thanh tốn bằng LC. Thư tín dụng LC là một văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng cam
kết sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân
15
hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với quy định đề ra trong thư tín dụng.
 Đối với LC trong thanh toán hàng nhập khẩu: +Cho vay ký quỹ LC
Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh trong trường hợp khách hàng xin được bảo lãnh,khách sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào
tài khoản của họ tại ngân hàng mà họ xin được bảo lãnh và khoản tiền đó se được phong toả cho đến khi nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng chấm
dứt.Thông thường khoản tiền này được tính tỷ lệ với giá trị hợp đồng mà khách hàng xin được bảo lãnh.Trong trường hợp thiếu sự tin cậy hoặc thương
vụ tiềm ẩn rủi ro cao ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ 100 giá trị hợp đồng.Đối với những khách hàng đáng tin cậy hoặc có quan hệ thường
xun thì ngân hàng có thể chấp nhận mức ký quỹ thấp hơn so với giá trị họp đồng.
Thông thường mức ký quỹ LC phụ thuộc vào các yếu tố sau. -Khả năng thanh toán của khách hàng.
-Đối tượng khách hàng -Loại LC: LC trả chậm thì mức ký quỹ thấp,loại LC trả ngay thì bắt buộc
mức ký quỹ cao hơn. -Loại hàng hoá nhập khẩu,khả năng tiêu thụ.
Trên cơ sở các yếu tố trên,ngân hàng sẽ quyết định mức ký quỹ,nếu như khách hàng khơng có đủ số dư trên tài khoản thì phải tiến hành làm đơn xin
vay ngoại tệ ký quỹ LC. + Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu hoặc tài trợ thanh tốn tồn bộ
chứng từ giao hàng.
16
Theo hình thức này khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanh mang tính khả thi cho lơ hàng nhập về phục vụ sản xuất kinh doanh .Đồng thời
khách hàng phải lên kế hốch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến,xác định khoản thiếu hụt với ngân hàng tài
trợ. Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phản ánh của khách hàng,ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức ngân hàng chấp nhận
tài trợ.  Đối với LC trong thanh toán hàng xuất khẩu
+ Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo LC đã mở trên cơ sở LC đã được chấp nhận do ngân hàng mở LC phát hành theo yêu cầu của nhà nhập
khẩu .Ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu để tiêu thụ sản phẩm và có thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
+Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước tiền hàng xuất khẩu : Để đáp ứng nhu cầu vốn,nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể
thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền cho mình trước khi bộ chứng từ được thanh toán.
b Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ. +Nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất khẩu:Ngân hàng cho vay thu
mua,sản xuất hàng xuất khẩu,chiết khấu hoặc ứng trước bộ chứng từ hàng xuất khẩu.
+Nhờ thu đến trong thanh toán hàng nhập khẩu :Ngân hàng tiếp nhận chứng từ từ ngân hàng nước ngồi,xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà nhập
khẩu.Nếu nhà nhập khẩu khơng đủ khả năng thanh tốn,thì cần phải có sự tài trợ của ngân hàng cho vay thanh toán hàng nhập khẩu .
c Cho vay trên cơ sở hối phiếu: Trong kinh doanh ngoại thương hối phiếu đóng vai trò rất quan
trọng,trên cơ sở hối phiếu ngân hàng có các hình thức cho vay sau:
17
+ Chiết khấu hối phiếu: Chiết khấu hối phiếu là một loại tín dụng ngân hàng cung cấp cho khách
hàng dưới hình thức mua lại hối phiếu trước khi nó đến hạn thanh toán,tức là ngân hàng mua lại khoản nợ phải đòi.Chiết khấu hối phiếu tạo điều kiện cho
nhà xuất khẩu nhận được tiền sớm hơn nhằm đáp ứng được nhu cầu về vốn đối với khoản tín dụng cung ứng hàng mà anh ta cấp cho nhà nhập khẩu.
Cơ sở để xác định khối lượng tín dụng này là giá trị của hối phiếu sau khi đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu mà ngân hàng chiết khấu
hưởng.Các ngân hàng sẽ xác định khối lượng tín dụng cấp ragiá trị chiết khấu theo cơng thức sau:
Tck=M1-Lckt3600-P Trong đó:
Tck :Giá trị chiết khấu M :Mệnh giá hối phiếu
Lck : Lãi suất chiết khấu t :Thời hạn chiết khấungày
P : lệ phí Có 2 hình thức chiết khấu:
-Chiết khấu miễn truy đòi: Ngân hàng mua lại bộ chứng từ của người xuất khẩu,giá mua sẽ thấp
hơn giá trị bộ chứng từ,do ngân hàng tính trừ lại chi phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhà nhạap khẩu nước ngoài.Chiết khấu miễn
truy đòi có nghĩa là người xuất khẩu bán hãn bộ chứng từ cho ngân hàng,nhạn tiền và khơng còn trách nhiệm hoàn trả,trách nhiệm thu tiền và quyền sữ dụng
số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng. ở Việt Nam các ngân hàng ít sữ dụng hình thức chiết khấu này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng.
18
-Chiết khấu được phép truy đòi: Cũng tương tự như hình thức trên nhưng trách nhiệm thanh tốn hối
phiếu vẩn còn đối với người chiết khấu hối phiếunhà xuất khẩu và giá trị chiết khấu cao hơn.
+Chấp nhận hối phiếu: Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký chấp
nhận hối phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu và khoản vay chỉ là một hình thức, một sự đảm bảo về tài chính. Thực chất ngân
hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên khi đến hạn, nếu nhà nhập khẩu khơng đủ khả năng thanh tốn thì người cho vay ngân hàng -
người đứng ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay. Tín dụng chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên bán thiếu tin
tưởng khả năng thanh toán của bên mua. Họ có thể đề nghị bên mua yêu cầu một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát. Nếu
ngân hàng đồng ý, điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận một khoản tín dụng cho bên mua để họ thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến
hạn. Đối với ngân hàng, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng chính
là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu như bên mua không có tiền thanh tốn cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán.
Đương nhiên nếu đến hạn thanh tốn hối phiếu, bên mua có đủ tiền thì ngân hàng thực sự không phải ứng tiền ra. Như vậy, khoản tín dụng này chỉ là
hình thức, là một sự đảm bảo về tài chính. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ chỉ nhận được một khoản phí chấp nhận, khoản tiền bù đắp cho chi phí gánh
chịu rủi ro tín dụng mà thôi.

1.2.2.2. Căn cứ v ào thời hạn cho vay:


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

×