1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Căn cứ v ào thời hạn cho vay: Căn cứ v ào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: Một số hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu khác

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (564.7 KB, 75 trang )


18
-Chiết khấu được phép truy đòi: Cũng tương tự như hình thức trên nhưng trách nhiệm thanh toán hối
phiếu vẩn còn đối với người chiết khấu hối phiếunhà xuất khẩu và giá trị chiết khấu cao hơn.
+Chấp nhận hối phiếu: Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký chấp
nhận hối phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu và khoản vay chỉ là một hình thức, một sự đảm bảo về tài chính. Thực chất ngân
hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên khi đến hạn, nếu nhà nhập khẩu khơng đủ khả năng thanh tốn thì người cho vay ngân hàng -
người đứng ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay. Tín dụng chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên bán thiếu tin
tưởng khả năng thanh tốn của bên mua. Họ có thể đề nghị bên mua yêu cầu một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát. Nếu
ngân hàng đồng ý, điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận một khoản tín dụng cho bên mua để họ thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến
hạn. Đối với ngân hàng, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng chính
là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu như bên mua khơng có tiền thanh tốn cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán.
Đương nhiên nếu đến hạn thanh toán hối phiếu, bên mua có đủ tiền thì ngân hàng thực sự khơng phải ứng tiền ra. Như vậy, khoản tín dụng này chỉ là
hình thức, là một sự đảm bảo về tài chính. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ chỉ nhận được một khoản phí chấp nhận, khoản tiền bù đắp cho chi phí gánh
chịu rủi ro tín dụng mà thơi.

1.2.2.2. Căn cứ v ào thời hạn cho vay:


a-Tín dụng ngấn hạn:
19
Tín dụng ngấn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm,thường được sử dụng cho vay bổ sung vốn lưư động phục vụ sản xuất kinh doanh của
các đơn vị,chiếm tỷ trọng lớn tại ngân hàng,cho vay để nhập khẩu nguyên liệu,vật tư,máy móc thiết bị,để thu mua chế biến hàng xuất khẩu ..
b-Tín dụng trung và dài hạn Thời hạn của tín dụng trung và dài hạn tuỳ theo quy định của mổi
nước,ở Việt Nam tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1-5 năm,tín dụng dài hạn từ 5 năm trở lên.Hình thức tín dụng này được cung cấp để đầu tư mua sắm tài sản
cố định,xây dựng mới,cải tạo mở rộng,khôi phục,cải tiến thiết bị..

1.2.2.3. Căn cứ v ào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:


a-Tín dụng có bảo đảm: Đây là hình thức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn vốn cho vay của ngân
hàng.Các doanh nghiệp muốn được vay vốn của ngân hàng phải có vật tư tài sản cầm cố,thế chấp,bảo lãnh của người thứ 3 đối với khoản vay.Những tài sản
này là cơ sở đảm bảo cho ngân hàng có khả năng thu hồi vốn cho vay trong trường hợp doanh nghiệp khơng có khả năng trả được nợ.
b-Tín dụng khơng có đảm bảo. Đây là hình thức ngân hàng cho vay mà không cần tài sản thế chấp cầm
cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba.Cơ sở để cho vay mà không cần đảm bảo là dựa vào uy tín,quy mơ,hiệu quả kinh doanh,phương án trả nợ.

1.2.2.4. Một số hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu khác


 Bao thanh tốn tồn phần và bao thanh tốn từng phần Bao thanh tốn tồn phần factoring: là một hình thức tài trợ chính
trong hoạt động xuất khẩu. Đó là hoạt động mua bán những khoản thanh toán chưa tới hạn và ngắn hạn từ những hoạt động xuất khẩu, cung ứng hàng hoá
dịch vụ.
20
Khác với hoạt động mua bán lại chứng từ thanh toán ở phần trên, hoạt động factoring chỉ sử dụng cho những hoạt động xuất khẩu thường xuyên theo
định kỳ, theo hợp đồng ngắn hạn và cho nhiều nhà xuất khẩu khác nhau trong cùng một nước hoặc nhiều nước trong cùng một thời điểm. Chỉ có những
khoản thanh toán đáp ứng những điều kiện sau mới được phép mua bán: - Những khoản mua bán phải tồn tại một cách hợp pháp, phải có đủ tư
cách pháp lý độc lập với quyền một người thứ ba. - Hàng hoá đã được cung ứng đầy đủ và đảm bảo chất lượng cho những
khoản thanh toán này. - Thời hạn thanh toán này tối đa là 180 ngày.
- Khơng có quyền cấm chuyển nhượng các khoản thanh toán này của người nhập khẩu hoặc nước nhập khẩu.
Bao thanh toán từng phần forfaiting: cũng là nghiệp vụ mua bán những khoản thanh toán chưa tới thời hạn như factaring nhưng khác ở một số
điểm sau: - Forfaiting chỉ bao những khoản thanh toán cụ thể riêng lẻ trong tồn
bộ q trình XNK dài hạn và cho từng đối tượng nhập khẩu riêng. - Thời hạn thanh toán của factoring tối đa là 6 tháng trong khi thời hạn
đối với forfaiting là 6 tháng đến 10 năm. Forfaiting được coi là hình thức tín dụng trung và dài hạn.
- Factaring phục vụ cho những hoạt động XNK khơng sử dụng tới tín dụng chứng từ còn forfaiting lại dựa vào chúng và sự bảo đảm của ngân hàng.
 Tín dụng thuê mua Thuê mua là hình thức tài trợ vốn, ra đời ở Mỹ vào năm 1952, sau đó
nhanh chóng thâm nhập vào Châu Âu đầu những năm 1960 và dần dần hiện nay đang được các nước trên thế giới áp dụng.
Thuê mua là hình thức thuê tài sản dài hạn mà trong thời gian đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người đi thuê sử dụng.
Người th có trách nhiệm thanh tốn tiền th trong suốt thời gian thuê và khi
21
kết thúc thời hạn họ có thể được quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được mua lại tài sản thuê hay là được quyền thuê tiếp. Điều này tuỳ thuộc vào thoả thuận
của hai bên khi ký hợp đồng th. Có hai loại hình thức th mua. Đó là: cho thuê vận hành và cho thuê tài chính.
- Cho thuê tai chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác. Bên đi thuê được
chuyển quyền sở hữu hoặc tiếp tục thuê khi kết thúc thời hạn thuê. - Cho thuê vận hành: bên đi thuê thuê máy móc, thiết bị trong thời gian
ngắn để sử dụng vào mục đích tạm thời. Mọi rủi ro và lợi ích đem lại đối với quyền sở hữu tài sản cho thuê vẫn thuộc người cho thuê.
So với hình thức cho vay truyền thống, hình thức thuê mua này có những ưu điểm sau:
+ Các doanh nghiệp sẽ không phải bỏ tiền mua thiết bị ngay lập tức mà trả tiền thuê thiết bị theo định kỳ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động
hơn về vốn để tập trung cho sản xuất. Hình thức này có ý nghĩa nhất đối với doanh nghiệp không đủ vốn nhưng vẫn có thể đi thuê thiết bị thiết bị để sản
xuất và dùng một phần lợi thu được từ sản xuất để trả tiền thuê định kỳ. + So với đi vay ngân hàng, việc thế chấp để được thuê máy móc thiết bị
đơn giản hơn nhiều do thiết bị thuê thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê trong suốt thừoi gian thuê, nên khi bên thuê khơng trả được nợ, bên cho th có thể
lấy lại toàn bộ tài sản cho thuê. Ngày nay các ngân hàng thường lập cơng ty tài chính riêng để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp và làm phong phú thêm hoạt
động của mình.  Tài trợ bảo lãnh và tái bảo lãnh
Trong thương mại quốc tế, rủi ro là một yếu tố luôn luôn xuất hiện trong các thương vụ khác nhau rủi ro thanh tốn, rủi ro khơng thực hiện hợp đồng.
Từ đó nảy sinh nhu cầu bảo lãnh để hạn chế rủi ro. Trong mua bán quốc tế, đôi khi nhà xuất khẩu khơng nắm chắc được
khả năng tài chính để thanh tốn và mức độ tín nhiệm của nhà nhập khẩu. Do
22
vậy, nhà xuất khẩu sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu phải có một tổ chức thường là ngân hàng đứng ra bảo lãnh thanh toán. Ngược lại, do không biết rõ hoặc
không tin tưởng nhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu nhà xuất khẩu có ngân hàng đứng ra bảo lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Ngân hàng nhận bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng, dùng để vay vốn nước ngồi dưới hình thức tín dụng thương mại hoặc tín dụng tài chính. Trách
nhiệm của ngân hàng bảo lãnh là đảm bảo thi hành đúng cam kết với nước ngoài trong trường hợp người xin bảo lãnh không thực hiện đủ nghiệp vụ nào
đó với nước bên ngồi. Bảo lãnh cũng có nhiều hình thức khác nhau:
+ Mở thư tín đụng trả chậm + Ký bảo lãnh hay ký chấp nhận trên các hối phiếu
+ Phát hành thư bảo lãnh với người nước ngoài + Lập giấy cam kết trả nợ với nước ngoài....
Các lợi thế của các bên liên quan trong nghiệp vụ này - Đối với nhà nhập khẩu bên được bảo lãnh: được hưởng một khoản
vốn của bên xuất khẩu mà không phải trả lãi thực chất có thể giá bán đã tính lãi rồi chi trả một khoản phí cho người bảo lãnh.
- Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm rằng đến hạn sẽ được thanh toán nợ. Nếu cần tiền, nhà xuất khẩu cũng có thể đem bộ chứng từ chiết khấu
tại một ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu vốn của mình. - Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất kì ngân hàng nào, khi tiến hành
bảo lãnh, nghĩa là được sự tín nhiệm, được sự tin tưởng về phía bên xuất khẩu, bên nhập khẩu. Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho vay trừu
tượng nghĩa là ngân hàng không bỏ ra một khoản vốn nào cả, mà chỉ lấy uy tín, danh dự của ngân hàng ra cho vay, làm cơ sở cho vay.
Thủ tục bảo lãnh cho vay ngắn hạn theo phương thức cho vay thông thường nghĩa là khi bảo lãnh cho khách hàng thì khách hàng phải có mục đích
xin vay, có khả năng thanh tốn và có tài sản thế chấp. Khi đến hạn, nếu nhà
23
nhập khẩu khơng có đủ khả năng thanh tốn, thì cần phải làm thủ tục xin vay tại ngân hàng. Như vậy, mục đích bảo lãnh đã được thực hiện, nghĩa là ngân
hàng bảo lãnh muốn khách hàng của mình vay nhằm thu thêm được một khoản lãi, có khách hàng mới về mặt tín dụng và chi phí bảo lãnh.
1.3.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Do việc cho vay có liên quan chặt chẽ đến cả ngân hàng và khách hàng mà nó phục vụ, các chính sách cho vay phải được phác hoạ một cách cẩn thận
sau khi đã xem xét nhiều yếu tố. Sau đây là một số yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tín dụng tài trợ XNK của ngân hàng thương mại.
1 Chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước Các hoạt động kinh tế nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng chịu tác
động rất lớn bởi chính sách chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước.
- Về mặt tích cực: chính sách vĩ mơ của Nhà nước có thể tạo điều kiện cho vay XNK của ngân hàng được mở rộng và phát triển. Nếu Nhà nước dùng
chính sách tiền tệ mở rộng thì NHTM được cấp thêm vốn dự trữ, khả năng cho vay của ngân hàng sẽ gia tăng. Các ngân hàng có thể có chính sách cho vay tự
do hơn. Chính sách lãi suất linh hoạt, lãi suất thực dương ln là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động tín dụng của ngân hàng. Hoạt động tín dụng tài trợ XNK chủ
yếu diễn ra theo hình thức cho vay bằng ngoại tệ. Vì vậy nếu Nhà nước cho phép tập trung ngoại tệ vào ngân hàng, quản lý ngoại tệ một cách chặt chẽ thì
ngân hàng sẽ có nhiều nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập máy móc, thiết bị, nguyên liệu của nhà nhập khẩu.
- Về mặt tiêu cực: Chính sách kinh tế vĩ mơ của Nhà nước có thể gây ra nhiều rủi ro cho hoạt động tín dụng XNK của ngân hàng. Nếu Nhà nước khơng
có chiến lược hướng về xuất khẩu thì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp XNK rất hạn chế. Từ đó dẫn đến hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ ít
đi lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm xuống. Khi Nhà nước áp đặt một hàng rào
24
thuế quan, phi thuế quan thì nó sẽ dẫn đến tăng giá của một số loại hàng nhập khẩu, lượng hàng nhập khẩu giảm dẫn đến nhu cầu vay vốn giảm.
Ngoài ra, việc thay đổi nhỏ trong chính sách lãi suất, tỷ giá hối đoái cũng tác động khơng ít đến hoạt động tín dụng tài trợ XNK của Ngân hàng.
Môi trường pháp không ổn định, cơ chế chính sách hay thay đổi làm ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, làm đảo lộn chính sách
tín dụng của từng ngân hàng. Đây chính là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cho các NHTM.
2 Mơi trường kinh tế chính trị, xã hội trong và ngồi nước Đất nước, khu vực mà có nền kinh tế bị rơi vào khủng hoảng hoặc luôn
luôn bị chao đảo, biến động mạnh về kinh tế, chính trị dễ dẫn đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng bị thu hẹp. Ngược lại, nếu kinh tế ổn định sẽ dẫn đến
chính sách cho vay tự do hơn. Thực tiễn cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 ở khu vực Đơng Nam Á đã chứng minh điều đó. Tất cả hoạt động
của các ngành các lĩnh vực của các quốc gia trong khu vực, đặc biệt hoạt động của hệ thống ngân hàng đã bị ảnh hưởng sâu sắc. Hàng loạt ngân hàng của Hàn
Quốc, Nhật Bản, Malaysia bị tàn phá do không thu lại được các khoản nợ, không cho vay được để bù đắp chi phí khi nhu cầu tín dụng của khu vực giảm.
Tình hình chính trị xã hội chiến tranh cũng như thiên tia, dịch hoạ cũng là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro bất khả kháng đối với các khoản
cho vay của Ngân hàng. 3 Khả năng ý thức thanh toán của doanh nghiệp XNK
Nhu cầu tín dụng của ngân hàng là yếu tố quyết định đến hoạt động tín dụng ngân hàng được mở rộng hay thu hẹp. Song nếu có nhu cầu vay vốn để
nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài để sản xuất hàng xuất khẩu nhưng khả năng hồn trả của doanh nghiệp khơng cao thì ngân hàng cũng sẽ không cho
vay. Mặt khác, khi ngân hàng cấp vốn cho vay các doanh nghiệp XNK, nhưng vì một nguyên nhân nào đó các ngân hàng này gặp rủi ro trong quá trình hoạt
động kinh doanh bị huỷ bỏ hợp đồng, hàng bị mất cắp giảm giá trị... làm cho
25
họ không thu hồi đủ vốn để trả lại các khoản vay cho ngân hàng. Đối với ngân hàng khi mà có quá nhiều khách hàng đến hạn trả mà khơn có khả năng thanh
tốn hoặc cố ý chây ỳ thiếu ý thức tôn trọng các điều khoản thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thì ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán của mình thậm
chí ngân hàng còn rơi vào tình trạng phá sản. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và của doanh
nghiệp hoạt động XNK nói riêng với thái độ ý thức thanh toán của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động tín dụng của ngân hàng.
4 Năng lực cho vay của ngân hàng Khả năng huy động vốn của năng lực cho vay phụ thuộc vào vốn tự có
của ngân hàng. Do đó nếu doanh nghiệp kinh doanh XNK có nhu cầu vốn lớn, trong khi nguồn vốn của ngân hàng nhỏ thì sẽ khơng thoả mãn yêu cầu của
doanh nghiệp. Tín dụng XNK của ngân hàng thương mại gắn liền với nguồn vốn ngoại tệ. Do đó làm thế nào để huy động đủ ngoại tệ đáp ứng nhu cầu vay
của doanh nghiệp nhập khẩu đang là vấn đề lớn đối với nhiều NHTM. 5 Các nhân tố khác.
Trình độ quản lý kinh doanh, quản lý vốn cũng như trình độ chun mơn của đội ngũ nhân viên tín dụng khơng phải là khơng có ý nghĩa đối với
hoạt động cho vay XNK của ngân hàng. Với một đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, có trình độ trong thẩm định dự án, xem xét đơn vay vốn của khách
hàng thì chất lượng tín dụng sẽ cao và ngược lại. Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng tài trợ XNK của NHTM cũng luôn phải
đối mặt với rủi ro lãi suất hay tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đối ln ln biến động, sự biến động này có thể diễn ra hàng ngày. Nếu tỷ giá hối đối hợp lý sẽ
khuyến khích cả nhập khẩu và xuất khẩu, tạo điều kiện cho nền kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói riêng sẽ phát triển.
Hoạt động cho vay của ngân hàng chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Có nhân tố tác động tích cực khuyến khích mở rộng hoạt động cho vay.
Song cũng có khơng ít những nhân tố kìm hãm, gây rủi ro cho hoạt động này
26
của ngân hàng. Các ngân hàng khi cấp tín dụng cho doanh nghiệp XNK phải lường trước mọi rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động ngoại thương để từ đó có
những quyết định đúng đắn, kịp thời, đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG T ÀI TRỢ XUẤT


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

×