1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Những tồn tại và nguyên nhân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (564.7 KB, 75 trang )


47
làm cơng tác tín dụng phải chấn chỉnh hoạt động, đi vào kỷ cương tuân thủ chặt chẽ theo quy định cho vay. Với phương châm cho vay an toàn, hiệu qủa
và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro phát sinh nhằm từng bước nâng cao chất lượng tín dụng, việc thẩm định, phê duyệt cho vay đã từng bước được cải tiến
đáp ứng nhu cầu của khách hàng, trách nhiệm của cán bộ tín dụng dần dần được nâng cao. Do vậy hoạt động tín dụng của chi nhánh NHNT Hà Nội đã đạt
được một số kết quả nhất định góp phần vào kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, thể hiện ở một số mặt sau:
- Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt về cả lãi suất cũng như giành giật khách hàng của các Ngân hàng hoạt động trên địa bàn thủ đô, chi nhánh luôn
quan tâm đặc biệt tới công tác khách hàng, bên cạnh việc duy trì ưu đãi với khách hàng truyền thống và khách hàng vay có giá trị lớn, chi nhánh đã quan
tâm phát triển sản phẩm mới như ngân hàng trực tuyến,ATM…mở rộng thêm khách hàng mới với mục đích an tồn, hiệu quả. Do vậy tín dụng tăng trưởng
mạnh. Đến ngày 31122002 doanh số cho vay phục vụ XNK đạt
1502593
triệu đồng, chiếm 44.57 tổng dư nợ cho vay và tăng 61 so với năm 2001. - Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn ngoại tệ tăng 7.75 so với năm 2001.
Chi nhánh đã bám sát yêu cầu thực tế của các doanh nghiệp để đầu tư kịp thời vào các ngnàh kinh tế then chốt cuả thủ đô. Trong năm 2002 đã cho vay được
24 dự án, các dự án đều phát huy hết hiệu quả trả nợ gốc và lãi đúng hạn. - Với phương châm luôn mang đến cho khách hàng sự thành đạt với
trang thiết bị hiện đại, giờ đây chi nhánh đã có khả năng đáp ứng cho khách hàng các loại sản phẩm với chất lượng cao nhất, các dịch vụ của chi nhánh
ngày càng phong phú. Đặc biệt chi nhánh đã áp dụng dịch vụ trọn gói từ mở tài khoản, cho vay, mua bán ngoại tệ đến thanh toán XNK... cho khách hàng
lớn của mình, điều này đã được đông đảo khách hàng trong và ngoài nước hoan nghênh.

2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân


1 Những tồn tại
48
Bên cạnh những thành công đã đạt được thì cơng tác tín dụng tài trợ XNK của NHNT Hà Nội vẫn còn một số tồn tại cần phải khắc phục:
- Doanh số cho vay các doanh nghiệp ngồi quốc doanh vẫn nhỏ, có thể thấy trong doanh số cho vay cả ngắn hạn, trung và dài hạn thì doanh nghiệp
quốc doanh chiếm tỷ lệ lớn trung bình trên 90 tổng doanh số cho vay. Đành rằng rủi ro cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là rất
cao, việc định hướng chiến lược cho vay XNK đối với DNNN là khá hợp lý vì nó đảm bảo mục tiêu an toàn và lợi nhuận cho Ngân hàng. Tuy nhiên, trong
thời gian gần đây, số lượng DNNN có nợ quá hạn tại Ngân hàng cũng khá lớn. Điển hình là trong năm 2000, có ba DNNN phát sinh nợ quá hạn tại NHNT Hà
Nội: Công ty thiết bị vật tư du lịch Hà Nội. Công ty vận tải biển XNK Seaprodex Hà Nội, công ty lâm đặc sản Hà Nội. Bên cạnh đó, số lượng các
doanh nghiệp thuộc khu vực ngồi quốc doanh rất đơng đảo và không phải doanh nghiệp nào cũng có tình hình tài chính khơng lành mạnh. Một số doanh
nghiệp làm ăn rất có hiệu quả như các doanh nghiệp liên doanh, 100 vốn nước ngồi là nhóm khách hàng mà Ngân hàng chưa có đủ tin tưởng để loi
cuốn và chiếm lĩnh được. Chính vì vậy, tiềm năng của loại khách hàng này khá lớn, Ngân hàng cần phải tìm ra nhiều giải pháp để khai thác triệt để các doanh
nghiệp kinh tế ngoài quốc doanh. - Tồn tại lớn nhất, khó khăn và lâu dài nhất cho hoạt động tín dụng của
chi nhánh đó là nợ tồn đọng bao gồm nợ khoanh, nợ chờ xử lý rất lớn mà chưa có biện pháp giải quyết hữu hiệu. Phần lớn các khoản nợ khoanh đều bị
giảm, xố, khơng có nguồn hỗ trợ bù đắp, ngoài việc bán tài sản thế chấp. Q trình hồn thiện thủ tục đưa tài sản thế chấp ra bán đấu giá tại trung tâm bán
đấu giá thuộc sở tư pháp Hà Nội vẫn còn nhiều vướng mắc như hồ sơ thế chấp khơng đầy đủ hoặc giả mạo; con nợ chây ỳ cản trở Ngân hàng bán tài sản, thời
hạn khởi kiện đã hết, các tranh chấp dân sự phát sinh cản trở viẹc phát mại tài sản để thu nợ; thủ tục bán đấu giá còn gây phiền hà cho khách hàng như mức
lệ phí đấu giá, tiền đặt cọc, tình trạng buôn ép giá kiếm lời làm ảnh hưởng đến
49
tâm lý khách hàng không muốn đưa tài sản thế chấp ra bán tại các trung tâm. Bên cạnh đó, phần lớn các DNNN chưa được cấp giấy chứng từ nhận chủ
truyền tài sản thuộc quản lý của doanh nghiệp. Mặt khác, việc đảm bảo bằng tài sản của các DNNN chỉ mang tính hình thức, nên khi doanh nghiệp khơng
có khả năng hồn trả được nợ thì việc xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng sẽ rất khó khăn, khơng để giải quyết nhanh chóng và thời gian kéo dài, dẫn đến ứ
đọng vốn trong kinh doanh của Ngân hàng. - Các hình thức cho vay tài trợ xuất nhập khẩu còn quá đơn điệu chủ yếu
là tổ chức cổ điển, chưa áp dụng hình thức cho vay mới như bao thanh tốn, cho th tài chính,... làm giảm tính hấp dẫn đối với khách hàng. Hơn nữa, tron
gkhi cho vay lại q tập trung vào khâu lưu thơng vì vậy rủi ro rất lớn. - Chi nhánh vẫn chưa có cơ sở bảo quản hàng hố, chưa nắm được các
lô hàng thế chấp một cách chắc chắn. Do vậy, khi khách hàng cố tình khơng hồn trả nợ thì chi nhánh đành chịu.
- Cơng tác đào tạo cán bộ còn chưa kịp với yêu cầu và nhiệm vụ mới, các cán bộ xử lý nghiệp vụ còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm như cho vay vượt
quá quyền hạn giải quyết, cho vay không thẩm định kỹ không có tài sản thế chấp hoặc nếu có lại khơng tự quản lý mà để khách hàng quản lý, thậm chí mở
LC khơng đưa hết các điều kiện hợp đồng..., nắm bắt thông tin chưa nhanh nhạy theo kịp biến động của thị trường dẫn đến tình trạng chi nhánh ln phải
đối phó với sự lừa dảo khi thực hiện hợp đồng tín dụng tài trợ XNK. Đây là một trng những nguyên nhân dẫn đến những thiếu sót, những vụ việc đổ vỡ
gây ảnh hưởng đến uy tín của chi nhánh. - Bên cạnh đó, phương thức quản lý các món vay XNK ở Ngân hàng
chưa hợp lý. Quyết định và quản lý các món vay ở NHNT Hà Nội là phân công đều cho các cán bộ tín dụng. Điều này có lợi là mở rộng tầm hiểu biết
cho các cán bộ tín dụng sang lĩnh vực XNK. Nhưng như thế sẽ gây cản trở lớn cho các món vay được thực hiện có hiệu quả vì để thực hiện một khoản vay
tín dụng XNK đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có hiểu biết sâu về thị trường, luật
50
pháp quốc tế của các nước về hoạt động XNK. Ngoài ra, chi nhánh vẫn chưa hạch toán độc lập kết quả tín dụng XNK với hoạt động tín dụng khác mặc dù
hoạt động tín dụng tài trợ XNK là nhiệm vụ chính của Ngân hàng. Điều này cũng ảnh hưởng phần nào đến việc đánh giá kết quả kinh doanh và vạch ra
phương hướng của hoạt động tín dụng tài trợ XNK tại Ngân hàng trong thời gian tới.
- Hiện nay, Đảng và Nhà nước đang có xu hướng chuyể dịch các nghiệp vụ tài trợ XNK sang các Ngân hàng nước ngoài, các Ngân hàng liên doanh,
Ngân hàng cổ phần thương mại. Do vậy, chi nhánh phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt. Nhiều dự án có hiệu quả trong lĩnh vực xuất khẩu cà phê, hải sản...
đã rơi vào chi nhánh Ngân hàng nước ngồi. Điều dó đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động tín dụng tài trợ XNK của NHNT Hà Nội.
2 Nguyên nhân a- Nguyên nhân khách quan
Hệ thống NHNT ra đời tư cơ chế quản lý kinh tế quan liêu bao cấp, cơ chế thị trường đang hình thành với nhiều thử thách và phức tạp. Hậu quả của
khủng hoảng kinh tế xã hội, sự đổ vỡ của các tổ chức tín dụng năm 1989 đã để lại trong xã hội một tư tưởng nặng nề về tâm lý. Lưu thơng hàng hố tiền tệ
chậm, một loạt doanh nghiệp phá sản. Các chính sách Nhà nước thiếu đồng bộ, mơi trường pháp lý khơng đảm bảo an tồn kinh doanh. Từ sau đổi mới, bên
cạnh các nhân tố tích cực, hàng loạt các yếu tố tiêu cực xuất hiện cùng với sự bung ra của sản xuất xã hội, nhiều cơng ty, xí nghiệp hữu danh vơ thực ra đời
tìm mọi thủ đoạn chiếm đoạt tài sản Ngân hàng.
Thứ nhất: Môi trường pháp lý. Môi trường pháp lý chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ nên đã gây ra những
khó khăn vướng mắc cho chi nhánh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Các NHNT hiện nay hoạt động dưới sự điều chỉnh của luật Ngân hàng và các tổ
51
chức tín dụng, hệ thống luật và dưới luật của chính phủ. Một số quy định trong luật còn xa rời với thực tiễn như:
- Thể lệ tín dụng của các Ngân hàng còn nhiều vướng mắc. Thứ nhất, không cho phép doanh nghiệp có nợ quá hạn vay. Đối với các doanh nghiệp
khi gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh thì vốn là vấn đề giải quyết mọi ách tắc lại không được đáp ứng. Ngân hàng cho vay để cứu doanh nghiệp nếu
thành cơng thì có thành tích, còn nếu rủi ro thì bị truy tội cố ý làm trái hoặc ít nhất cũng là thiếu tinh thần trách nhiệm. Thứ hai, theo quy định, nếu NHNT
nào thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh mở LC mà phát sinh nợ q hạn thì sẽ khơng được thực hiện nghiệp vụ này cho đến khi giải quyết song số nợ quá
hạn đó. Chính vì vậy, trong năm 1991, NHNT Hà Nội có nợ quá hạn phát sinh từ nghiệp vụ này nên đến nay Ngân hàng vẫn chưa được thực hiện các nghiệp
vụ bảo lãnh mở LC trả chậm do chưa thu hồi được nợ. - Quy chế chính sách của Nhà nước trong việc xử lý tài sản thế chấp còn
nhiều bất cập như Ngân hàng khơng thể tự đứng ra bán tài sản thế chấp để thu nợ mà phải được sự đồng ý và có giấy uỷ quyền của tài sản. Trên thực tế, khi
gặp con nợ chây ỳ khơng hợp tác thì Ngân hàng chỉ còn cách khởi kiện tại toà án. Việc xử lý sẽ kéo dài thậm chí đi đến chỗ bế tắc nếu con nợ liên quan đến
vụ án hình sự hoặc bỏ trốn. Theo quy định thì Ngân hàng chỉ được giải chấp tài sản nếu người vay trả hết nợ hoặc có tài sản thế chấp bổ sung cho khoản nợ
còn thiếu. Tuy nhiên, đại đa số khách hàng yêu cầu Ngân hàng giải chấp để họ tự bán tài sản trả nự Ngân hàng, trong khi trị giá bán tài sản trả nợ Ngân hàng,
trong khi trị giá bán tài sản thế chấp thấp hơn nhiều so với nợ vay và nguồn vay khơng có tài sản nào khác để thế chấp cho Ngân hàng, hoặc họ đã ngừng
sản xuất kinh doanh chuẩn bị phá sản. + Quy chế lập quỹ dự phòng rủi ro khơng phù hợp. Quỹ dự phòng rủi ro
được hình thành từ lợi nhuận ròng, tổ chức tín dụng trong khi lợi nhuận của Ngân hàng còn thấp chưa kể một số Ngân hàng bị thua lỗ. Tỷ lệ này là 10 thì
q tháp khơng hể đủ bù đắp rủi ro tín dụng và sự mất mát của các tài sản có
52
của Ngân hàng. Mặt khác, theo quy định, quỹ rủi ro chỉ được bù đắp cho các nguyên nhân khách quan, trong khicác kết hợp khoản rủi ro do nguyên nhân
khách quan thì phần lớn khơng thu hồi đủ vốn sau khi truy cứu trách nhiệm bồi thường dẫn đến mất vốn của Ngân hàng mà thực chất là tiền gửi khách hàng
và khả năng thanh toán của Ngân hàng. + Hoạt động tín dụng tài trợ XNK liên quan đến nhiều ban ngành trong
nước như Bộ Thương mại, Tổng cục hải quan, Bộ cơng nghiệp Việt Nam... Vì vậy, nó chịu sự điều chỉnh của nhiều luật mà các luật ở nước ta còn có sự đan
chéo, gây nhiều khó khăn cho các quyết định của trọng tài quốc tế trong nước và vụ kiện.
+ Chính sách ngoại thương của Nhà nước chưa thực sự nhất quán. Nhiều hình thức cấp bách ban hành chưa lâu đã thay đổi, lúc thì khuyến khích nhập
khẩu mặt hàng này, lúc thì cấp hạn ngạch thuế cao để hạn chế nó. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó dẫn đến những
rủi ro cho hoạt động Ngân hàng như ứ đọng vốn, không thu hồi được vốn về.
Thứ hai: Chính sách lãi suất và tỷ giá Lãi suất cho vay vẫn là vấn đề bức xúc khiến hệ thống Ngân hàng ta
phải tập trung giải quyết. Mặc dù đã tổ chức được nhiều cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề này song cho đến nay lãi suất cho vay của hệ thóng Ngân hàng
nước ta vẫn còn cao so với chi phí lạm phát và lãi suất trên thị trường khu vực. Trong điều kiện tỷ giá ổn định nhiều doanh nghiệp đã chấp nhận nợ quá hạn
ngoại tệ để sử dụng ngoại tệ ngồi sự kiểm sốt của Ngân hàng. Ngoại tệ thông qua NHTM đã biến thành nội tệ. Doanh nghiệp kiểm soát của Ngân hàng.
Ngoại tệ NHTM đã biến thành nội tệ. Doanh nghiệp lợi dụng điều này để kinh doanh trên lưng Ngân hàng với hình thức tinh vi như cho doanh nghiệp khác
vay thậm chí là cho chính Ngân hàng vay lại một nội tệ với lãi suất cao để hưởng chênh lệch. Tất cả điều này đều tạo ra rủi ro tiền mặt cho nguồn vốn
hoạt động của Ngân hàng, kết quả là ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng.
53
Thứ ba: Mơi trường kinh doanh Hiện nay, điều kiện Việt Nam chưa cho phép mở rộng các hình thức tín
dụng XNK: + Thương phiếu là công cụ cổ điển được sử dụng lâu đời trong quan hệ
thương mại ở các nước phát triển, nhưng đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa được sử dụng.
+ Thị trường hối đoái chưa phát triển, các nghiệp vụ mà các Ngân hàng, nhà xuất khẩu có thể tham gia để phòng tránh rủi ro như forward, options,
future chưa hình thành. + Nhà nước chưa có chính sách, chiến lược đủ mạnh ủng hộ hoạt động
XNK như cung cấp thông tin, phát triển mạng lưới tin học, viễn thông tạo tiền đề cho hoạt động XNK.
Bên cạnh đó, trong năm 2002, hoạt động kinh tế của cả nước nói chung và thủ đơ Hà Nội nói riêng tiếp tục chịu ảnh hưởng của những khó khăn của kinh tế
thế giới. Thị trường trong nước có sức mua giảm sút, hàng hoá chậm luân chuyển tạo ra nguy cơ giảm phát trong nền kinh tế. Kinh tế đơi ngoại có một
số khó khăn mới: thị trường XNK giá cả giảm sút, đầu tư nước ngoài bị thu hẹp... đã tác động lớn đến hoạt động Ngân hàng. Đặc biệt đối với NHNT Hà
Nội, điều này còn khó khăn hơn nhiều vì hầu hết các doanh nghiệp đều là kinh tế địa phương với quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, khả năng hấp thụ vốn
thấp... Tỷ giá một đồng ngoại tệ thay đổi thất thường, đặc biệt tỷ giá đồng đô la
tăng nhanh ảnh hưởng đến nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước. Mặt khác một số mặt hàng nông sản xuống giá liên tục cũng ảnh hưởng lớn đến xuất
khẩu và kết quả kinh doanh của các đơn vị xuất khẩu gặp khó khăn. Thứ tư: Thiên tai lũ lụt
Thiên tai lũ lụt hạn hán cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro bất khả kháng cho doanh nghiệp, nó đem lại thiệt hại về kinh tế và e ngại về tâm lý cho các tổ
54
chức kinh doanh và cá nhân. Những thiệt hại này khiến cho các doanh nghiệp vốn đã làm ăn không hiệu quả để trả gốc lẫn lãi cho khoản vay khi đến lại càng
gặp khó khăn nghiêm trọng hơn. Do vậy tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng tăng lên làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng.
Thứ năm: Về phía doanh nghiệp XNK + Vốn tự có của doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ: phần lớn các doanh
nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tồn tại và hoạt động dựa vào nguồn vón Ngân hàng là chính. Vì vậy, khi được Ngân hàng cho
vay thì lợi nhuận sinh lời không đủ trả lãi cho Ngân hàng. Ngồi ra còn vì nhiều doanh nghiệp có vốn tự có thấp nhưng Ngân hàng bắt buộc phải cho vay
để thực hiện các mục tiêu của chính phủ. Và khi các doanh nghiệp này làm ăn khơng có hiệu qủa thì Ngân hàng phải tự ganh chịu rủi ro.
+ Phương án kinh doanh của nhiều doanh nghiệp không hợp lý: Sự bất hợp lý thể hiện qua việc nghiên cứu thị trường, dự đoán mức tiêu thụ khơng
chính xác, đán giá lại cơng suất, máy móc khơng khớp với ngun liệu đầu vào dẫn đến khơng hồn thành lịch trả nợ cho Ngân hàng. Các doanh nghiệp nhập
máy móc thiết bị bằng trả chậm còn nhiều vốn xây dựng cơ bản do ngân sách Nhà nước cấp. Song do nguồn vốn này được cấp không đúng hạn hoặc bị cắt
giảm nên không đảm bảo đúng tiến độ thi công, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng han của doanh nghiệp.
+ Do mới chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, kiến thức của doanh nghiệp về hoạt động tín dụng, về hợp đồng thương mại còn hạn chế gây
bất lợi cho Ngân hàng doaNgân hàng nghiệp bị ép mua với giá cao, chất lượng không đảm bảo, công nghệ lạc hậu thiếu đồng bộ, quy định phương án
trả nợ không hợp lý dẫn đến nguồn thu không được bù đắp và trả nợ Ngân hàng. Ngoài một số doanh nghiệp còn khơng thực hiện đúng cam kết khi vay
vốn như không mua bảo hiểm tài sản, sử dụng vốn sai mục đích. b- Nguyên nhân chủ quan
55
Thứ nhất : Năng lực cho vay của Ngân hàng Do NHNT Hà Nội là chi nhánh trực thuộc NHNT Việt Nam nên phần
lớn những dự án cho vay tài trợ XNK của Ngân hàng đều phải thôngqua NHNT Việt Nam xem xét và quyết định. Đồng thời theo quy định, NHNT Hà
Nội chỉ được cho vay đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thủ đô. Nhưng phần lớn những doanh nghiệp này lại là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên cũng rất
hạn chế quy mô cho vay của Ngân hàng.
Thứ hai: Trình độ bất cập của cán bộ Ngân hàng trong kinh tế thị trường Nhận thức về bản chất tín dụng khơng đầy đủ dẫn đến đơn giản, sơ sài trong
chấp hành quy định. Cán bộ tín dụng thiếu trình độ hiểu biết về pháp luật, thể lệ tập bán thương mại và thanh toán quốc tế, trình độ ngoại ngữ khơng đáp ứng
được nhu cầu nghiệp vụ. Một cán bộ quản lý tín dụng XNK nếu tính theo dư nợ thì bằng hàng chục cán bộ quản lý cho vay hộ sản xuất năm 2000, dư nợ
cho vay XNK tại chi nhánh chiếm 71 tổng dư nợ, điều đó thể hiện hiệu quả đầu tư XNK nhưng trái lại cũng thể hiện khả năng rủi ro lớn nếu như cán bộ
tín dụng đó khơng được trang bị đầy đủ kiến thức tổng hợp và kinh nghiệm đạo đức kinh doanh. Ngân hàng chưa có đội ngũ chuyên gia giỏi về lĩnh vực
khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nên lúng túng trong việc thẩm định các dự án lớn, nhất là các dự án năng suất có vốn đầu tư và nhập khẩu thiết bị nước
ngồi. Thực trạng đội ngũ cán bộ tín dụng NHNT Hà Nội hiện nay là vấn đề đáng được lưu tâm, số cán bộ có thâm niên trên 10 năm thì chưa được đào tạo
lại để có đủ kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường, số cán bộ mới vào thì còn thiếu kinh nghiệm và tri thức thực tế trong thị trường chằng chịt những
mối quan hệ phức tạp.
Thứ ba: Chấp hành thể lệ tín dụng và quy trình nghiệp vụ Những trường hợp rủi ro trong tín dụng có ngun nhân quan trọng là
việc chấp hành không nghiêm chỉnh thể lệ tín dụng và quy trình nghiệp vụ của
56
cán bộ Ngân hàng. Thể hiện trong việc thẩm định và lập hồ sơ vay vốn. Có trường hợp cán bộ lập hồ sơ giải khai tăng tài sản thế chấp để rút vốn Ngân
hàng và vay ké, là kết quả của hai nguyên nhân sâu xa sau đây: + Việc xác định giá trị tài sản thế chấp do cán bộ Ngân hàng t hực hiện
mang tính chủ quan. + Việc lập hồ sơ cho vay và hồ sơ tài sản thế chấp không được tách độc
lập với chức năng tín dụng. Quản lý nợ vay còn thể hiện và hồ sơ tài sản thế chấp không được tách
độc lập với chức năng tín dụng.Quản ý nợ vay còn thể hiện thiếu trách nhiệm, gia h ạn nợ, chuyển nợ q hạn khơng đúng quy trình nghiệp vụ, đảo nợ nội tệ
với ngoại tệ vay đồng tiền này để trả nợ đồng tiền khác, dẫn đến tình trạng nợ xấu chạy vòng quanh, nguy cơ mất vốn Ngân hàng ngày càng lớn.
Thứ tư: Cơ sở vật chất và giờ làm việc Chi nhánh NHNT Hà Nội xây dựng trụ sở năm 1992. Sang năm 2001,
trụ sở đã trở nên chật chội. Điều này trước tiên sẽ ảnh hưởng đến tâm lý khách hàng. Khách hàngđến với Ngân hàng sẽ tin cậy hơn nếu Ngân hàng có cơ sở
vật chất tốt. Song ở đây phòng tín dụng khơng đủ diện tích để kê bàn tiếp khách. Hơn nữa, cơ sở vật chất như vậy sẽ ảnh hưởng đến điều kiện làm việc
của Ngân hàng. Bên cạnh đó, giờ làm việc của chi nhánh sẽ không cạnh tranh được với
Ngân hàng nước ngồi. Vì vậy Ngân hàng đóng cửa vào lúc 16 giờ trong khi giờ đóng cửa của hàng nước ngồi là 18 giờ.
Trong thời gian tới, nếu chi nhánh NHNT Hà Nội khắc phục được những tồn tại sau đây thì chi nhánh sẽ luôn là người bạn tin cậy của khách
hàng trong lĩnh vực tài trợ XNK nói riêng và lĩnh vực kinh doanh nói chung
57
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP V À KIẾN NGHỊ NHẰM MỞ
RỘNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NHNT HÀ NỘI

3.1 Phương hướng hoạt động công tác nhiệm vụ công tác năm 2003 của NHNT H


à Nội
1 Phương hướng chung Để có được kết quả kinh doanh tốt hơn trong năm 2003, chi nhánh sẽ
tiếp tục đổi mới và phát triển theo các định hướng sau: a- Tiếp tục bám sát định hướng phát triển của NHNT Việt Nam cũng
như định hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố. Tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn thơng qua nhiều hình thức:Đa dạng hố sản phẩm với chất lượng
cao,mở rộng phát triển màng lưới,duy trì việc đánh giá phân loại khách hàng tiền gửi để có những biện pháp thu hút khách hàng,khuyếch trương và quảng
bá các sản phẩm mới.Phấn đấu tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động tăng 15 so với năm 2002, đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ.
b- Đẩy mạnh công tác sử dụng vốn của chi nhánh. Mở rộng tín dụng để đổi mới nâng cao chất lượng đầu tư tín dụng nhiều biện pháp và ln đảm bảo
phương châm “an tồn, hiệu quả”. Tập chung xử lý nợ quá hạn, hạn chế tối đa rủi ro trong kinh doanh, giải quyết tốt mua bán ngoại tệ, đáp ứng cơ bản nhu
cầu của khách hàng theo đúng hướng hoạt động và sản xuất kinh doanh trong nước. Phấn đấu mức dư nợ tới năm 2002 tăng 26 so với năm 2000. Tiếp tục
bám sát các đơn vị có nợ quá hạn và các cấp chủ quan của đơn vị để cùng xử lý thu hồi nợ. Mục tiêu của năm 2001 là mức dư nợ quá hạn xuống dưới 2,5.
58
c- ổn định tổ chức và vận hành theo mơ hình mới - Ngân hàng bán lẻ. Tiếp tục quan tâm đào tạo và đào tạo lại cán bộ kết hợp với việc nghiên cứu
khoa học. Bổ sung thêm cán bộ mới tuyển dụng vào các phòng nghiệp vụ và thực hiện tốt các giao dịch trong chương trình mới.
Tạo điều kiện cho cán bộ học thêm kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ và trình độ để thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh.
d- Triển khai đầu tư xây dựng mới: Xúc tiến việc cải tạo sửa chữa nhà 344 Bà triệu,để chuyển hoạt động của chi nhánh về đây và triển khai dự án xây
dựng mới lại trụ sở chính 78 Nguyễn Du,đáp ứng nhu cầu phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong thiên niên kỷ mới.
2 Phương hướng trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu Một Ngân hàng muốn thành công trong hoạt động kinh doanh thì mọi
hoạt động của Ngân hàng phải nỗ lực, chung sức góp phần tạo uy tín cho Ngân hàng. Khi đó Ngân hàng sẽ có nhiều khách hàng quen. Các khách hàng này sử
dụng dịch vụ của Ngân hàng từ đó sẽ mang lại lợi ích cho từng lĩnh vực mà Ngân hàng kinh doanh.
Tại NHNT Hà Nội cũng vậy, một định hướng chung như thế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng tài trợ XNK. Để hoàn thiện hoạt động
này chi nhánh đề ra định hướng: Đẩy mạnh đầu tư cho nhóm khách hàng chiến lược, mở rộng tìm kiếm các dự án có hiệu quả, phục vụ kinh doanh XNK và
kinh tế đối ngoại của thủ đô để đầu tư. Tiến tới đa dạng hố các loại hình tính dụng tài trợ XNK nhằm khai thác tối ưu nguồn vốn hiện có.

3.2. Giải pháp hồn thiện hoạt động tín dụng tài trợ XNK tại NHNT Hà Nội


Qua việc nghiên cứu thực trạng hoạt động tín dụng XNK của chi nhánh NHNT Hà Nội trong vài năm gần đây, chúng ta thấy rằng bên cạnh những hoạt
động đạt được hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng tài trợ XNK nói riêng vẫn tồn tại những vướng mắc cần giải quyết. Căn cứ vào mục
tiêu chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, dựa vào phương
59
hướng nhiệm vụ hoạt động trong những năm tới của chi nhánh và từ thực tiễn hoạt động của NHNT Hà Nội, em xin mạnh dạn nêu ra một số giải pháp và đề
xuất sau.

3.2.1. Nhóm giải pháp về quản trị điều hành


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

×