1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Nhóm giải pháp về quản trị điều hành

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (564.7 KB, 75 trang )


59
hướng nhiệm vụ hoạt động trong những năm tới của chi nhánh và từ thực tiễn hoạt động của NHNT Hà Nội, em xin mạnh dạn nêu ra một số giải pháp và đề
xuất sau.

3.2.1. Nhóm giải pháp về quản trị điều hành


1 Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn Định hướng tín dụng XNK của chi nhánh phải phù hợp với chính sách
phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước và nằm trong chiến lược kinh doanh của Ngân hàng.
Điều kiện kiên quyết đảm bảo tăng trưởng tín dụng là tăng trưởng nguồn vốn. Có huy động vốn được nhiều thì Ngân hàng mới có thể cho vay hoặc đa
dạng hố hoạt động kinh doanh phục vụ khách hàng và ngược lại, việc sử dụng vốn khuyến khích Ngân hàng đẩy mạnh đa dạng các hình thức huy động.
Chính vì vậy, chi nhánh phải tiếp tục mở rộng khai thác các nguồn vốn theo các hướng:
- Xây dựng đề án phát hành kỳ phiếu ra nước ngoài trên thị trường vốn quốc tế: NHNTHà Nội đã có uy tín trong hệ thống Ngân hàng quốc tế và thị
trường trong và ngoài nước. Đây là cơ sở quan trọng nhất để huy động vốn bằng kỳ phiếu và kinh doanh trên thị trường chứng khoán quốc tế. Vấn đề
quyết định thành công trong nghiệp vụ này là đội ngũ nhân viên có đủ trình độ kinh nghiệm nghề nghiệp. Trước hết nên phát hành kỳ phiếu trung gian với các
Ngân hàng đại lý có uy tín. Mặc dù thực hiện mua mỗi giới hiệu quả chưa cao nhưng nghiệp vụ đảm bảo an toàn và làm tiền đề cho chiến lược kinh doanh
lâu dài. Sau khi thâm nhập vào thị trường tiền tệ, lựa chọn và thử nghiệm, Ngân hàng sẽ từng bước thành lập văn phòng đại diện và chi nhánh tại các thị
trường này để nhanh chóng hồn hập với cộng đồng Ngân hàng quốc tế. - Tiếp tục khuyến khích dân cư gửi tiền vào chi nhánh bằng các chính
sách tăng lãi xuất tiền gửi cả VNĐ lẫn ngoại tệ, cả ngắn hạn lẫn trung và dài
60
hạn. Đối với khách hàng truyền thống, Ngân hàng nên có các phần thưởng xứng đáng, có chính sách ưu đãi riêng.
- Chi nhánh cần sử dụng thế mạnh uy tín của mình để tranh thủ nguồn vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước dành cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các
hoạt động kinh doanh XNK.. và thông qua mối quan hệ đối ngoại của hệ thống NHNT, chi nhánh nên đẩy mạnh vốn vay dài hạn ở các tổ chức quốc tế.
2 Định hướng chiến lược tài trợ Chuyển hướng tài trợ từ cho vay thương vụ có tính chất riêng lẻ thụ
đọng sang cho vay theo dự án khép kín chu trình lưu thơng hàng hố từ sản xuất đến tiêu thụ. Việc lựa chọn và thẩm định dự án đầu tư trở thành nhân tố
có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự thành công của Ngân hàng. Một dự án mặc dù đá được các cơ quan chun mơn có thẩm quyền thẩm định và phê
duyệt, nhưng trước khi quyết định cho vay, Ngân hàng cần phải thẩm định xem xét lại:
- Tính pháp lý của bộ hồ sơ bao gồm hồ sơ dự án và hồ sơ xây dựng theo điều kiện xây dựng của Nhà nước, hồ sơ mua sắm thiết bị theo quy chế
đấu thầu và quy định của bộ thương mại nếu có thiết bị nhập khẩu, hồ sơ tín dụng theo quy định của Ngân hàng.
- Phương án vay và trả nợ của dự án tính tốn các nguồn vốn và nguồn tài trợ, dự kiến biến động của các thông số ảnh hưởng đến nguồn trả nợ.
- Thẩm định nhóm chi tiêu hiệu quả: thời gian hồn vốn, hiệu quả ròng NPV, thể lệ hoàn vốn nội bộ, tỷ suất lợi nhuận...
Đối với dự án có giá trị lớn vượt giới hạn tỷ lệ vốn có của doanh nghiệp và Ngân hàng, nên sử dụng hình thức cho vay đồng tài trợ thay bằng việc cho
vay doanh nghiệp có dư nợ tại Ngân hàng hiện nay.
3.2.2 Giải pháp về nghiệp vụ tín dụng tài trợ XNK a-Đổi mứoi nhận thức tín dụng trong cơ chế thị trường
Thực tiễn tín dụng ngân hàng sau 10 đổi mới là bằng chứng chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
61
XHCN. Tuy nhiên như nhiều nhà kinh doanh đánh giá, vẫn còn nhiều biểu hiện tư tưởng bao cấp, nhận thức khơng đúng về tín dụng trong nền kinh tế thị
trường. Theo nguyên tắc của thị trường ngân hàng phải bán những gì thị trường
cần chứ khơng bán những thứ mà ngân hàng có, bởi vậy trước hết là các điều kiện sử dụng vốn quyết định quy mơ, tính chất và thời hạn nguồn vốn. Hay nói
cách khác, xây dựng thị trường đầu ra ổn định lâu dài là quyết định thắng lợi chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Trong thời gian qua, nhiều thời kỳ ngân
hàng đọng vốn hàng tỷ đồng, vốn huy động luân chuyển chậm, vừa gây lãng phí cho nền kinh tế vừa làm mất vốn Việt Nam vì vốn vay phải trả lãi và phí
đầu vào. Do đó giải pháp cơ bản trong nghiệp vụ tín dụng là: - Đổi mới cách tiếp cận khả năng vay vốn của doanh nghiệp. Chỉ có
những pháp nhân, thể nhân có quyền tự chủ về kinh tế, tự chủ về tài chính mới có đủ năng lực pháp lý để vay vốn ngân hàng. Những dự án cho vay chỉ định,
được chính phủ cho phép ưu đãi về các điều kiện vay như miễn thế chấp tài sản, miễn ký quỹ không căn cứ vào tỷ lệ vốn tự có của ngân hàng và doanh
nghiệp cũng phải yêu cầu làm rõ trách nhiệm của cơ quan: + Cơ quan thẩm định dự án
+ Cơ quan phê duyệt cấp các loại hồ sơ giấy phép + Cơ quan bảo hành
+ Hội đồng xét và phê duyệt đấu thầu xây dựng và mua sắm thiết bị Kiên quyết không cho vay các dự án khơng có hiệu quả và khả năng trả
nợ kể cả những khoản có sự chỉ đạo, định hướng của các cơ quan chính quyền, địa phương, bộ ngành.
b- Nâng cao chất lượng thẩm định dự án XNK
Cũng như đối với các loại tín dụng khác, quy trình tín dụng XNK được chia thành 3 giai đoạn theo thời gian và tính chất khoản vay.
Giai đoạn thẩm định trước khi cho vay
62
Đây là giai đoạn khởi đầu và quan trọng nhất thể hiện khả năng tiếp cận dự án và khách hàng của ngân hàng. Đối với những doanh nghiệp truyền thống
có quan hệ uy tín được cán bộ tín dụng thường xun theo dõi thì chỉ cần tập trung thẩm định phương án kinh doanh của khách hàng. Dù là phương án cho
vay vốn lưu động hay cố định thì những nội dung cơ bản cần xem xét là: + Khẳng định thị trường tiêu thụ hàng hoá dịch vụ trong phương án kinh
doanh với các yếu tố khu vực thị trường tiêu thụ, giá cả, chất lượng cạnh tranh, quan hệ của doanh nghiệp trên thị trường, các đối tác bán hàng và mua hàng,
thu thập thông tin của các ngân hàng và các doanh nghiệp khác, sử dụng hệ thống thơng tin phòng ngừa rủi ro bằng phương pháp thống kê, so sánh, tổng
hợp và đánh giá sản phẩm trong mối quan hệ với chính sách Nhà nước có so sánh trên thị trường quốc tế.
+ Thẩm định lại toàn bộ số liệu, dữ liệu và các chỉ tiêu của dự án kinh doanh theo hệ thống các phương pháp và cơng thức có sẵn hoặc nạp dữ liệu
cho máy tính theo chương trình được cài đặt sãn. Giai đoạn phê duyệt và giải ngân
Mặc dù hồ sơ vay được cácn bộ tín dụng thẩm định đầy đủ, nhưng khâu xem xét phê duyệt là khơng thể thiếu. Vì thực tế, khơng thể có một cán bộ tín
dụng lý tưởng lại sự hiểu biết toàn diện được cả nghiệp vụ ngân hàng và kiến thức tổng hợp về thị trường, khoa học kỹ thuật, luật pháp,... nên khả năng đánh
giá của họ khơng thể đầy đủ và hồn tồn đúng. Kế toán là người kiểm soát cuối cùng trước khi giải ngân kiêm tra và lưu
trữ tài sản thế chấp, cầm cố, hợp đồng tín dụng và khê ước vay tiền, trước khi phát tiền vay hoặc chuyển tiền thanh toán và lưu hồ sơ giải ngân như các loại
chứng từ có giá. Giai đoạn kiểm tra sau
Đây là giai đoạn kiểm nghiệm tính chính xác, khách quan của phương án kinh doanh đã được ngân hàng thẩm định:
63
+ Kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay: về nguyên tắc, vốn vay chỉ được sử dụng đúng mục đích trong phương án kinh doanh. Việc phát triển tiền vay
bằng tiền mặt, ngân phiếu, sec, sẽ gây khó khăn cho khả năng kiểm soát của ngân hàng. Giải pháp tốt nhất là giải pháp vốn vay qua tài khoản cho khách
hàng vay là bắt buộc đối với doanh nghiệp và khuyến khích cá nhân hộ sản xuất.
+ Thu hồi và xử lý nợ Đối với nợ quá hạn, số tiền thu nợ từ khách hàng bao gồm trị giá của
phần vốn gốc và phần lãi. Nếu hạch tốn thu gốc tồn bộ tiền thu thì ngân hàng sẽ giảm được dư nợ q hạn nhưng khơng có thu nhập, còn nếu hạch tốn thu
lãi trước thì sẽ mất vốn. Bởi vậy, theo ngun tắc bảo tồn vốn thì ngân hàng cần thu gốc trước, đơn vị ngân hàng nào còn có nợ q hạn thì khơng có thu
nhập. Hiện nay, một số ngân hàng hạch tốn thu nợ quá hạn cả gốc và lãi theo tỷ lệ 5050 là không hợp lý.
c- Quản lý tài sản thế chấp cầm cố
- Xây dựng hệ thống kho tàng đủ tiêu chuẩn quản lý vật tự, hàng hoá... dùng làm tài sản thế chấp. Hoạt động kinh doanh kho bãi được thực hiện theo
các chế độ khốn tài chính của cơng ty thu mua. Về nguyên tắc, tài sản thế chấp cầm cố cho khoản vay phải là những tài sản được hình thành trước và độc
lập với vốn vay. Nhưng nếu ngân hàng có kho bãi đầy đủ điều kiện an tồn, có thể chấp nhận tài sản hình thành từ vốn vay để làm hàng hoá vật tư đảm bảo
việc giải chấp trên cơ sở thanh toán của người vay. - Bảo hiểm tài sản, hàng hoá để phòng ngừa rủi ro bất khả kháng như
thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn,... tài sản do ngân hàng quản lý cần được bảo hiểm. Ngân hàng có thể thực hiện bằng hợp đồng thoả thuận với các tổ chức bảo
hiểm trong nước và ngoài nước buộc người vay phải mua bảo hiểm cho hàng hoá thế chấp cầm cố với ngân hàng.
- Thành lập các công ty mua bán, khai thác tài sản thế chấp tồn đọng của các tổ chức tín dụng. Căn cứ vào thực trạng giá trị của tài sản tồn đọng và khả
64
năng của công ty, tổ chức tín dụng chuyển giao tài sản tồn đọng cho cơng ty dưới hình thức uỷ thác hoặc trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng theo thoả
thuận, giúp tổ chức tín dụng thu hồi vốn và khai thác sử dụng tài sản tồn đọng có hiệu quả. Việc xử lý cần tập trung tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế thủ
tục pháp lý: có cơ chế cho phép ngân hàng được để lại tài sản thế chấp cho doanh nghiệp tiếp tục khai thác theo phương án sản xuất kinh doanh mới, giúp
doanh nghiệp có nguồn trả nợ; ngân hàng được quyền trực tiếp ký hợp đồng uỷ quyền bán tài sản với trung tâm bán đấu giá, không qua các trung gian những
tài sản thuộc diện xử lý của toà án.
d- Quản lý rủi ro trong tín dụng tài trợ XNK
Ngồi những nhân tố rủi ro khách quan và chủ quan trong tín dụng thơng thường, tín dụng tài trợ XNK còn chịu ảnh hưởng lớn của hai nhân tố lãi
suất và tỷ giá của các đồng tiền giao dịch. Sự biến động thường xuyên của hai nhân tố, nếu tạo thêm thuận lợi cho ngân hàng trong nghiệp vụ tín dụng thì sẽ
gây thiệt hại cho khách hàng và ngược lại. Để quản lý rủi ro đối với lãi suất và tỷ giá, các ngân hàng nước ngoài áp
dụng các giải pháp nghiệp vụ kinh doanh hối đoái trên thị trường tiền tệ với các công cụ chủ yếu sau:
+ Hợp đồng mua bán kỳ hạn + Nghiệp vụ SWAP về lãi suất
+ Hợp đồng quyền chọn về lãi suất và tỷ giá Với các điều kiện về con người và cơ sở vật chất, thơng tin và các quan
hệ uy tín trên thị trường quốc tế hiện nay. NHNT Hà Nội có thể áp dụng các hình thức kinh doanh này nhằm tăng thu nhập về dịch vụ, đồng thời quản lý
được các rủi ro về biến động của thị trường tiền tệ. Để triển khai được các nghiệp vụ này, ngân hàng cần có đủ các điều kiện chủ quan sau:
1. Đề án kinh doanh hiệu quả và các giải pháp bảo đảm an toàn phòng ngừa các rủi ro.
65
2. Có quy trình phù hợp với các quy chế của ngân hàng Nhà nước và thực tiễn kinh doanh của ngân hàng. Quan trọng nhất là đảm bảo quản lý chặt
chẽ phán quyết, trạng thái hối đoái, hệ thống kiểm tra, kiểm sốt và thơng tin tiếp thị.
3. Có đủ điều kiện về con người và trang bị kỹ thuật và cơng nghệ ngân hàng
e- Đa dạng hố các hình thức tín dụng tài trợ XNK
Hiện nay, NHNT Hà Nội chưa thực hiện tài trợ XNK dưới các hình thức như phát hành thư bảo lãnh với người nước ngoài, bao thanh tốn, th mua tài
chính.... Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam và giới hạn nguồn vốn kinh doanh của mình, NHNT Hà Nội không thể áp dụng ngay được các hình thức
này. Song, trong những năm tới, ngân hàng nên cố gắng áp dụng tốt hình thức tín dụng bảo lãnh và tín dụng trả góp.
Về tín dụng trả góp: Đối với các doanh nghiệp nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài, thời gian sử dụng khá lâu nên nhu cầu vay vốn trung và dài hạn
lớn. Để giúp cho các doanh nghiệp này chi nhánh cấp tín dụng cho họ theo đó các doanh nghiệp này được phép trả dần theo số tiền vay theo định kỳ. Sở hữu
không nhất thiết phải cùng vốn trung và dài hạn để cho các doanh nghiệp này vay mà có thể dùng vốn ngắn hạn nguồn vốn mà chi nhánh có ưu thế nhất để
cho vay vì các doanh nghiệp sẽ trả định kỳ theo thoả thuận với chi nhánh. Về nghiệp vụ bảo lãnh: Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết định số
196 QĐ-NH14 ngày 1691994 về việc Quy chế và nghiệp vụ bảo lãnh cho các ngân hàng. Quyết định số 196 QĐ-NH14 hướng dẫn thực hiện các loại
bảo lãnh dự thầu, bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo đảm hoàn trả tiền ứng trước, bảo đảm thanh toán, bảo đảm chất lượng sản phẩm theo hợp đồng, đảm
bảo hoàn trả vốn vay. Trong những năm vừa qua thực hiện các loại hình bảo lãnh theo quyết định 196, các ngân hàng thương mại đã bảo lãnh cho rất nhiều
doanh nghiệp tham gia đấu thầu thực hiện hợp đồng.... giúp cho việc triển khai thực hiện dự án, thu hút vốn và công nghệ cho sự phát triển nền kinh tế đất
66
nước. Bên cạnh những mặt được đó, qua hơn 8 năm thực hiện quy chế bảo lãnh theo quyết định 196 NH - QĐ14 đã bộc lộ một số tồn tại bất hợp lý. Với
những kinh nghiệm của các ngân hàng khác trong việc thực hiện nghiệp vụ này và bài học của bản thân mình, NHNT Hà Nội cần phải có nhận thức đúng
về hình thức tín dụng bảo lãnh. Đây là hình thức tín dụng có tầm quan trọng trong việc giải quyết vấn đề
vốn và đẩy mạnh tốc độ lưu thơng hàng hố, nhưng mặt trái của nó là gây ra hậu quả nghiêm trọng nêu khơng hiểu đúng bản chất và tính phức tạp của loại
hình tín dụng này. Khi nghiên cứu về tư bản ngân hàng, C.Mác đã coi tín dụng bảo lãnh là loại đặc biệt - loại tín dụng chữ ký, mặc dù ngân hàng không xuất
tiền vay nhưng lại chịu rủi ro như đối với số tiền vay cùng loại. Thật đáng tiếc là hiện nay vẫn nhiều ngân hàng quan niệm khơng đúng về bảo lãnh, coi đó chỉ
là dịch vụ ngân hàng. Mức chi phí dịch vụ bảo lãnh hiện nay trung bình khoảng 1,2năm tưởng rằng đã cao vì ngân hàng khơng phải bỏ vốn, nhưng
xét về mặt giá trị thì mức phí này thấp hơn so với lãi suất tín dụng, trong khi về mức rủi ro cho vay và bảo lãnh là như nhau. Chưa kể ngân hàng phải bỏ ra
một tỷ lệ vốn nhất định từ nguồn vốn kinh doanh để trích lập quỹ bảo lãnh nhằm phòng ngừa rủi ro.Một số ngân hàng thực hiện bảo lãnh cho doanh
nghiệp nhập khẩu hàng từ nước ngồi, sau đó lại tiếp tục bảo lãnh cho doanh nghiệp mua hàng trong nước, trong khi việc kiểm soát hàng hố khơng thể
chặt chẽ vì q nhiều con nợ từ bán bn đến bán lẻ chịu. Có khi thư bảo lãnh phát hành đi rồi nhưng bị lãng quên khi đến hạn thanh toán mới hay tài sản mà
ngân hàng chịu trách nhiệm trả thay không biết đang nằm ở những đâu.Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại khơng biết hạch tốn trả thay doanh
nghiệp, hạch toán ký quỹ bảo lãnh và quỹ rủi ro bảo lãnh vào tài khoản nào. Do đó, khi NHNT Hà Nội áp dụng hình thức bảo lãnh XNK thì cần lưu
ý các điều trên và thực hiện quy trình nghiêm ngặt như một khoản cho cho vay cùng loại:
+ Thẩm định và lập đủ hồ sơ tín dụng
67
+ Phân kỳ kế hoạch thu nợ + Kiểm tra quản lý vốn như quy trình tín dụng
+ Tổ chức hạch toán nội bảng và ngoại bảng đầy đủ.
3.2.3. Chiến lược con người và công nghệ ngân hàng a- Hiện đại hố cơng nghệ ngân hàng
Cơng nghệ ngân hàng là một yếu tố quan trọng tạo nên sức cạnh tranh của một ngân hàng thương mại, thể hiện:
- Tiết kiệm chi phí, đẩy mạnh tốc độ thanh toán và lưu chuyển tiền tệ, tập trung và sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh.
Thực hiện kế toán giao dịch tức thời tại quầy, kiểm tra kiểm soát từ xa các nghiệp vụ thị trường liên ngân hàng, quản lý thơng tin báo cố thống kê và
thơng tin phòng ngừa rủi ro, quản lý lưu trữ hồ sơ tín dụng, kế tốn ngân hàng. Đảm bảo an tồn hiệu quả nghiệp vụ thanh tốn quốc tế, kinh doanh ngoại tệ.
Công nghệ tin học của thế giới ngày nay đang mở ra những cơ hội thuận lợi cho ngân hàng ngoại thương Hà Nội trong chiến lược hiện đại hoá ngân
hàng. Trong năm tới, ngân hàng cần tập trung thực hiện từng bước chiến lược đó như sau:
Thứ nhất: Triển khai mạnh thanh toán trực tiếp với hệ thống SWIFT, đảm bảo luân chuyển vốn, chứng từ nhanh chóng, chính xác và quản lý vốn
ngoại tệ tập trung, củng cố hệ thống thanh tốn liên hồn nội bộ qua mạng vi tính, đảm bảo thông tin cập nhật. Thực hiện thí điểm nối mạng với một số
doanh nghiệp lớn và dần dần nhân rộng cho mạng lưới khách hàng có điều kiện.
Thứ hai: Từng bước hiện đại hoá các phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền. Sử dụng thẻ thanh toán của ngân hàng và doanh nghiệp, thẻ rút tiền
tự động, đảm bảo cho khách hàng gửi tiền một nơi mà có thể rút tiền bất cứ chi nhánh nào trong cả nước.
Thứ ba: Nâng cấp cơ sở hoạt động và các phương tiện làm việc của ngân hàng
68 b- Đào tạo, tuyển chọn cán bộ tín dụng
Con người ln là nhân tố quyết định thành công mọi hoạt động sản xuất xã hội. Chúng ta chuyển đỏi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và bắt đầu sự nghiệp cơng nghiệp hố đòi hỏi: xây dựng đội ngũ cán bộ ngân hàng có phẩm chất tốt, kến
thức và năng lực về nghiệp vụ ngân hàng, áp dụng được công nghệ hiện đại và có trình độ ngoại ngữ là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động
ngân hàng. Để đạt được yêu cầu đó, NHNT Hà Nội cần tập trung vào chiến lược con người với nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất: công tác đào tạo và đào tạo lại Một trong những nguyên nhân chất lượng tín dụng tồn ngành thấp là do
chun mơn nghiệp vụ chưa cao, nhận thức không đầy đủ về quy luật thị trường và sản xuất hàng hố. Do đó, đây là những mục tiêu để chi nhánh xây
dựng các giải pháp trong bộ trong hoạch định chiến lược đào tạo và đào tạo lại cán bộ nhân viên.
Trước hết là công tác quy hoạch cán bộ các cấp, cần phải trang bị lại kiến thức cơ bản theo hai hình thức đào tạo tập trung và đào tạo định hướng,
giúp cán bộ, công nhân viên ngân hàng tự học để có đủ trình độ phù hợp với cương vị đã đảm nhận. Cần phá bỏ triệt để tư tưởng cho đi học các đối tượng
không nằm trong quy hoạch như sắp xếp nghỉ hưu, sức khoẻ hoặc năng lực không đủ điều kiện làm việc, cán bộ kỷ luật,...
Các đối tượng đào tạo theo hướng tập trung, chuyên ngành. Trước hết ưu tiên cho cán bộ tín dụng, kế tốn và triển khai chương trình phổ cập tin học.
Đào tạo hoặc tuyển dụng tổ chuyên gia tin học có khả năng xây dựng các đề án tin học và lập trình các nghiệp vụ phát sinh của ngân hàng.
Khuyến khích học ngoại ngữ đối với cán bộ chuyên môn, học chuyên môn đối với cán bộ chuyên ngữ và cán bộ nghiên cứu khoa học ngồi giờ bằng
các hình thức khen thưởng vật chất hoặc nâng mức lương. Thứ hai: Công tác tuyển chọn và sử dụng cán bộ
69
Tuyển chọn và sử dụng cán bộ là những nội dung quan trọng trong tiêu chuẩn hoá và trẻ hoá cán bộ. Khác với những năm đầu thập kỷ 90, càng khác
xa với thời kỳ kinh tế bao cấp, hầu hết số người được đào tạo trong trường chưa thể có đủ ngay kiến thức tổng hợp, thậm chí chưa đáp ứng được công
việc trong điều kiện hiện đại, chưa nói đến sự phát triển tron tương lai. Việc tuyển chọn cán bộ trẻ thay thế lớp người sắp nghỉ hưu có ý nghĩa quyết định
trong tương lai phát triển của ngân hàng. Kinh nghiệm từ các doanh nghiệp nước ngồi cho thấy, hình thức tài trợ cho sinh viên và các cơ sở đào tạo:
trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đào tạo,... đã mang lại kết quả tốt cho Ngân hàng về đội ngũ nhân tài trẻ có năng lực và yêu cầu.
Ngân hàng cần thực hiện tốt chế độ thi tuyến để có lớp người mới thực sự về chất. Những năm qua, việc thi tuyển chủ yếu tập trung vào ngoại ngữ cần
phải đưa ra các môn thi chuyên ngành khác để lựa chọn cho cán bộ có đủ năng lực tồn diện về chun mơn và nhận thức xã hội. Có được lớp người mới, số
người cũ sẽ tự đào thải nếu khơng có ý thức vươn lên và thiếu ý thức trong công việc. Làm tốt công tác tuyển chọn cán bộ, chi nhánh sẽ dần khắc phục
tình trạng vừa thừa vừa thiếu cán bộ như hiện nay. Thứ ba: Đối với cán bộ làm tín dụng XNK thì các u cầu và tiêu dùng
chuẩn về năng lực cao hơn không những kiến thực nghiệp vụ mà cần trang bị cho họ trình độ cơ bản về thương mại, pháp luật, ngoại ngữ... nơi nào chưa có
đủ điều kiện về cán bộ thì kiên quyết không cho thực hiện nghiệp vụ thanh tốn quốc tế.

3.2.4. Chính sách khách hàng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

×