1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Chính sách khách hàng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (564.7 KB, 75 trang )


69
Tuyển chọn và sử dụng cán bộ là những nội dung quan trọng trong tiêu chuẩn hoá và trẻ hoá cán bộ. Khác với những năm đầu thập kỷ 90, càng khác
xa với thời kỳ kinh tế bao cấp, hầu hết số người được đào tạo trong trường chưa thể có đủ ngay kiến thức tổng hợp, thậm chí chưa đáp ứng được công
việc trong điều kiện hiện đại, chưa nói đến sự phát triển tron tương lai. Việc tuyển chọn cán bộ trẻ thay thế lớp người sắp nghỉ hưu có ý nghĩa quyết định
trong tương lai phát triển của ngân hàng. Kinh nghiệm từ các doanh nghiệp nước ngồi cho thấy, hình thức tài trợ cho sinh viên và các cơ sở đào tạo:
trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đào tạo,... đã mang lại kết quả tốt cho Ngân hàng về đội ngũ nhân tài trẻ có năng lực và yêu cầu.
Ngân hàng cần thực hiện tốt chế độ thi tuyến để có lớp người mới thực sự về chất. Những năm qua, việc thi tuyển chủ yếu tập trung vào ngoại ngữ cần
phải đưa ra các môn thi chuyên ngành khác để lựa chọn cho cán bộ có đủ năng lực tồn diện về chun mơn và nhận thức xã hội. Có được lớp người mới, số
người cũ sẽ tự đào thải nếu khơng có ý thức vươn lên và thiếu ý thức trong công việc. Làm tốt công tác tuyển chọn cán bộ, chi nhánh sẽ dần khắc phục
tình trạng vừa thừa vừa thiếu cán bộ như hiện nay. Thứ ba: Đối với cán bộ làm tín dụng XNK thì các yêu cầu và tiêu dùng
chuẩn về năng lực cao hơn không những kiến thực nghiệp vụ mà cần trang bị cho họ trình độ cơ bản về thương mại, pháp luật, ngoại ngữ... nơi nào chưa có
đủ điều kiện về cán bộ thì kiên quyết không cho thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế.

3.2.4. Chính sách khách hàng


Khách hàng là nguyên nhân tồn tại và phát triển của NHTM. Nên khách hàng quyết định cơ cấu, quy mô nguồn vốn và sử dụng vốn của ngân hàng, thể
hiện uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường trong và ngoài nước. Để thực hiện tốt chính sách khách hàng, ngân hàng có thể vận dụng các
hình thức, biện pháp sau đây: Thứ nhất: Phân loại khách hàng
70
Đánh giá đúng khách hàng trước hết dựa vào quan hệ tín dụng của họ với Ngân hàng. Căn cứ chủ yếu để phân loại khách hàng là năng lực tài chính
và kinh doanh. Cần phải phân tích khách quan và đúng đắn các loại nợ quá hạn để phân loại khách hàng, nhưng quan trọng nhất vẫn là việc thực hiện của các
chi nhánh ngân hàng cơ sở cho từng đối tượng phù hợp với thực tiễn sinh động. Sử dụng cơ chế lãi suất ưu đãi cho cả đối tượng khách hàng lớn, truyền
thống cũng như khách hàng đang gặp khó khăn. Thứ hai: Tổ chức hội nghị khách hàng
Đây là hình thức tổ chức hoạt động có hiệu quả cho cả ngân hàng và khách hàng. Thông qua các hội nghị khách hàng, khách hàng có điều kiện tiếp
xúc và trao đổi thông tin với nhau, đồng thời tạo cơ hội cho họ và ngân hàng hiểu về khó khăn vướng mắc để có các giải pháp cùng nhau tháo gỡ.
Tổ chức một hội nghị khách hàng cũng cần phải coi trọng về khâu chất lượng, trước hết là công tác thẩm định lựa chọn khách hàng, thăm dò và xây
dựng nội dung hội nghị để có đề tài trọng tậm, đồng thời tạo được khơng khí cởi mở để thơng qua khách hàng mà đánh giá năng lực, phẩm chất của cán bộ
ngân hàng. Một hình thức hội nghị phổ biến hiện nay của các ngân hàng nước ngoài
là hội thảo chuyên đề do một ngân hàng chủ trì với sự tham gia của các bạn hàng là ngân hàng và doanh nghiệp với nhiều nội dung phú như: trao đổi kinh
nghiệm, tổ chức thảo luận về nghiệp vụ mới và về biện pháp quản lý rủi ro. Thứ ba: Từ tư vấn tiếp thị đến hợp tác kinh doanh.
Ngân hàng là người tư vấn có hiệu quả nhất về phương diện tài chính cho dự án kinh doanh của khách hàng. Trong ngoại thương, vai trò tiếp thị của
ngân hàng rất quan trọng, giúp khách hàng tìm kiếm thị trường, bạn hàng và sản phẩm mới. Tham gia cấp tín dụng và bảo lãnh tín dụng hàng hoá xuất
khẩu. Trong các nước tư bản, từ lâu tư bản ngân hàng đã thâm nhập vào tư bản
cơng nghiệp và thương nghiệp, quản lý khép kín tồn bộ các khâu sản xuất và
71
lưu thơng. Sự sát nhập đó tạo nên sức mạnh tổng hợp của tập đồn về tài chính, kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá.
3.3. Kiến nghị 3.3.1 Đối với các cơ quan quản lý vĩ mô
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có một
mơi trường pháp lý ổn định và đồng bộ, đảm bảo cho các doanh nghiệp kinh doanh bình đẳng trước pháp luật, các quan hệ kinh tế xã hội được điều chỉnh
theo định hướng XHCN. Thứ nhất: Hồn thiện mơi trường pháp lý ổn định đồng bộ và nhất quán
Trách nhiệm về hành chính và kinh tế cần được quy định rõ ràng đối với các cơ quan, cá nhân ban hành văn bản, ra quyết định như quyết định thành lập
doanh nghiệp, cấy giấy phép kinh doanh, thẩm định phê duyệt các dự án đầu tư ký xét duyệt các hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn, cấp vốn... Từng bước đưa ra
các văn bản quy phạm pháp luật vào thực tiễn sản xuất xã hội bằng việc triển khai nghiệm minh và đồng bộ giữa các cơ quan hành pháp, bắt đầu từ cơng an,
hải quan, biên phòng, thuế vụ. Triệt để ngăn chặn các hoạt động buôn lậu trốn thuế, làm hàng giả gây hậu quả trực tiếp và gián tiếp đến tín dụng ngân hàng.
Theo điều 12 NĐ 178 về việc giữ tài sản và giấy tờ của tài sản cầm cố thế chấp có quy định Nếu tài sản có đăng ký quyền sở hữu... tổ chức tín dụng
phải giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Thực tế hiện nay, các tổ chức tín dụng chưa nắm rõ được danh mục các tài sản theo quy định
phải đăng ký quyền sở hữu và cơ quan chức năng cấp chứng nhận quyền sở hữu đó. Vì vậy, Chính phủ cần ban hành văn bản pháp lý quy định cụ thể về
đăng ký quyền sở hữu tài sản. Để đảm bảo tín dụng tài trợ XNK của NHTM có hiệu quả, trước hết
chính sách XNK cần được hồn thiện đồng bộ với chiến lược phát triển và kế hoạch của nền kinh tế quốc dân. Rà soát lại khả năng của các doanh nghiệp có
giấy phép kinh doanh XNK và cho phép các doanh nghiệp có hàng XNK ổn
72
định được phép XNK trực tiếp. Bộ thương mại cần quy định trách nhiệm cho các cơ quan cấp giấy phép đối với chất lượng và giá cả hàng hoá nhập khẩu,
đặc biệt là thiết bị cơng nghệ. Thứ hai: Chính sách trợ giá và bảo hiểm XNK
Có thể nói, một số hàng xuất khẩu của ta hiện nay chịu thua thiệt nhiều do thiếu vốn và cơ chế chính sách, đặc biệt là mặt hàng nông sản: gạo, cà phê,
hạt điều,... Những dự án nhập khẩu thiết bị đòi hỏi phải được đầu tư đồng bộ tránh tình trạng như nhiều dự án do chi nhánh cho vay đều chậm tiến độ thi
công, các nguồn đầu vào nguyên liệu, nhân lực, cán bộ chuyên gia lành nghề chưa được quy hoạch hợp lý trong khi hạn vay của các khoản tín dụng trong
nước đã hết hạn, gây khó khăn cho ngân hàng. Nhằm bảo hiểm và khuyến khích hố XNK Việt Nam, nhất là đối với
hàng nông sản cần nhanh chóng thành lập tổ chức bảo hiểm xuất khẩu với các thành viên chủ yếu từ Chính phủ, các ngân hàng, Bộ Thương mại và các bộ
ngành liên quan thực hiện hai chức năng cơ bản sau: + Tư vấn và thông tin tiếp thị cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
XNK + Cấp tín dụng người mua và bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu của Việt
Nam Thứ ba: Nhà nước cần nhanh chóng thực thi các biện pháp xử lý tài sản
thế chấp Hiện nay số lượng tài sản thế chấp ở ngân hàng khó lớn, gây khó khăn
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Theo nghị định 1781999NĐ-CP, khi khách hàng không trả được nợ thì tổ chức tín dụng được xử lý tài sản thế
chấp thu hồi vốn. Tuy nhiên, hiện nay việc xử lý tài sản thế chấp theo đúng trình tự pháp luật để ngân hàng thu hồi vốn hiện còn rất phức tạp, nên hầu hết
việc xử lý tài sản thế chấp đều được thực hiện theo phương thức thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay, để khách hàng tự nguyện bán tài sản
thế chấp trả nợ ngân hàng... song số lượng này không nhiều. Nhà nước cần
73
thường xuyên giám sát, thanh tra các hoạt động tín dụng của ngân hàng từ khâu đầu cho đến khâu tháo gỡ những vướng mắc trong xử lý tài sản thế chấp.
Cần đơn giản hoá các thủ tục hành chính pháp lý để tạo điều kiện cho tài sản được mua bán chuyển nhượng dễ dàng, góp phần giảm nợ quá hạn của ngân
hàng xuống đến mức cho phép tài sản mang tính hình thức thủ tục trong việc vay vốn của ngân hàng.

3.3.2. Đối với NHNT Việt Nam


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

×