1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Những hạn chế.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (353.39 KB, 74 trang )


Bảng 12 : Khả năng trả nợ của các doanh nghiệp xây lắp giai đoạn 2004 – 2006.
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 31122004
31122005 31122006
Tổng dư nợ 2.689.447
2.432.180 3.468.425
Dư nợ đối với doanh nghiệp xây lắp 1.882.612
1.702.526 2.427.897
Nợ quá hạn đối với xây lắp 86.062
72.965 93.647
Tỷ lệ NQH xây lắp Tổng dư nợ 3,2
3 2,7
Tỷ lệ NQH xây lắp Dư nợ xây lắp 4,6
4,3 3,9
Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh Ngân hàng ĐT PT HN Báo cáo thẩm định được thực hiện theo mẫu quy định của Ngân hàng
ĐT PT VN. Nhờ vậy đảm bảo tính nhất quán, khoa học trong việc trình bày, thể hiện kết quả thẩm định .
Thời gian thẩm định cũng được rút ngắn hơn. Trước đây, nhiều dự án thẩm định kéo dài ảnh hưởng đến việc giải ngân, làm chậm tiến độ của dự án.
Hiện nay theo quy định của ngân hàng thời gian thẩm định được thực hiện trong vòng 15 ngày. Quy định này giúp cho doanh nghiệp sớm nhận được quyết định
của ngân hàng và bản thân ngân hàng cũng sẽ phải làm việc hiệu quả hơn.

2.6.2. Những hạn chế.


Mặc dù cơng tác thẩm định đã có những chuyển biến theo chiều hướng tốt, tuy nhiên để có được những quyết định kịp thời và chính xác thì vẫn còn
rất nhiều hạn chế cần khắc phục. a. Nguồn thông tin về dự án cung cấp cho phòng thẩm định còn chưa
chính xác và kịp thời. Tính chính xác và kịp thời của thông tin là yếu tố cực kỳ quan trọng
trong thẩm định. Thực chất thẩm định là kiểm tra, đánh giá và dự đoán dựa
Nguyễn Thị Vinh Kinh tế đầu tư 45B
trên những thơng tin đã có. Vì vậy với thông tin sai lệch sẽ dẫn đến hậu quả là đưa ra kết quả khơng chính xác và cuối cùng là đi đến quyết định sai lầm.
Hiện nay nguồn thông tin về dự án hầu hết là do doanh nghiệp cung cấp. Những thơng tin này mang tính một chiều nên khó đánh giá chính xác về
dự án. Khi doanh nghiệp xin vay vốn tất nhiên họ sẽ muốn ngân hàng cho vay, do vậy chắc chắn doanh nghiệp sẽ chỉ muốn cung cấp những thơng tin
thuận lợi. Ngồi những hồ sơ mà khách hàng cung cấp, cán bộ thẩm định cũng
tiếp xúc trực tiếp với doanh nghiệp và đi thực tế để lấy thêm thông tin. Tuy nhiên hình thức này cũng chỉ là phỏng vấn người đại diện của bên đi vay. Do
đó hầu như khơng thu được thêm nhiều thông tin khác so với hồ sơ. Ngân hàng có thể lấy thêm thông tin từ trung tâm thơng tin tín
dụng CIC của ngân hàng nhà nước nhưng cũng chỉ là thơng tin về doanh nghiệp còn về dự án thì thường khơng được cập nhật.
Hiện nay việc lưu trữ thông tin ở ngân hàng cũng hạn chế nên nhiều khi có những dự án xây dựng ở nhiều giai đoạn , vay vốn nhiều lần nhưng mỗi lần
vay ngân hàng đều phải thẩm định lại từ đầu. Tại đây cũng chưa có một phòng chức năng nào chun trách việc thu thập và lưu trữ thông tin phục vụ
cho công tác thẩm định. b.Đối với một số dự án, nội dung và phương pháp thẩm định còn sơ sài.
Hiệu quả của dự án được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu như NPV, IRR, T, BC… nhưng ngân hàng thường chỉ quan tâm chủ yếu đến NPV và
IRR thơi. Các chỉ tiêu tính tốn được chỉ dưới dạng liệt kê mà chưa có sự phân tích, so sánh liên kết một cách khoa học. Cũng chưa có sự đối chiếu với
tiêu chuẩn của ngành và của nền kinh tế. Quyết định cho vay của ngân hàng còn dựa vào tài sản bảo đảm nên đơi
khi thẩm định còn sơ sài, mang tính hình thức. Nhiều khi khách hàng vay vốn
Nguyễn Thị Vinh Kinh tế đầu tư 45B
là những khách hàng thân thiết nên ngân hàng chỉ dựa vào quan hệ tín dụng trong quá khứ để cho vay còn dự án đầu tư thì chỉ được xem xét đại khái.
Thẩm định hiệu quả dự án mới chỉ ở trạng thái tĩnh, chưa đánh giá được sự biến động của dự án. Phân tích độ nhạy cũng chỉ trong phạm vi một
yếu tố biến đổi trong khi đó xây lắp là lĩnh vực có nhiều biến động phức tạp. Đánh giá rủi ro có thể xảy ra với dự án còn chưa hiệu quả, chưa sử dụng các
mơ hình phân tích rủi ro. Mặc dù trong quy trình thẩm định đưa ra rất nhiều nội dung, nhưng
trong quá trình thực hiện thì một số nội dung khơng được xem xét đến hoặc chỉ được đề cập rất ít như trong việc phân tích thị trường và khả năng tiêu thụ
sản phẩm của dự án còn khá sơ sài khơng đủ để đánh giá chính xác thị trường mục tiêu, những khó khăn trong việc tiêu thụ.
Có rất nhiều phương pháp thẩm định mà ngân hàng có thể áp dụng linh hoạt nhưng thực tế thì chủ yếu ngân hàng sử dụng phương pháp thẩm định
theo trình tự. Đối với nhiều dự án có tính chất phức tạp thì nếu chỉ đơn thuần áp dụng phương pháp này thì khơng thực sự hiệu quả.
c. Xây dựng dòng tiền chưa hợp lý. Khi xây dựng dòng tiền, việc tính tốn vốn đầu tư ban đầu chưa hợp lý.
Đối với các dự án xây dựng thì vốn đầu tư ban đầu là rất lớn nhưng lại không tập trung ở một thời điểm mà rải rác theo tiến độ thi công nên nếu tính tất cả
vào một năm là khơng hợp lý. Ngân hàng cần xem xét thời gian giải ngân của mình để quy đổi vốn đầu tư cho phù hợp. Có như vậy thì mới đảm bảo rằng
vốn đầu tư bỏ ra ở năm 0 thực tế là bao nhiêu. Thẩm định tổng vốn đầu tư ban đầu là rất quan trọng vì nó khơng chỉ tính tốn mức vốn mà dự án phải bỏ ra
mà còn giúp ngân hàng xác định được mức tài trợ cần thiết. Dòng chi phí của dự án khơng đánh giá sát với thực tế. Chi phí xây
dựng các cơng trình bao gồm chi phí nhân cơng, chi phí vật liệu, máy thi
Nguyễn Thị Vinh Kinh tế đầu tư 45B
cơng, chi phí quản lý…nhưng các chi phí này ở các thời điểm khác nhau thì được tính tốn khác nhau. Đặc biệt là các chi phí biến đổi như giá cả của vật
liệu xây dựng, nhiên liệu, điện… luôn biến động theo thị trường và bị ảnh hưởng bởi lạm phát. Phần lớn cán bộ thẩm định mới chỉ quan tâm đến những
chi phí trực tiếp mà chưa để ý đến những chi phí gián tiếp như các chi phí quản lý phân bổ cho dự án.
Đặc biệt là cán bộ thẩm định thường bỏ qua giá trị còn lại của dự án. Nó ảnh hưởng nhiều đến việc tính tốn các chỉ tiêu hiệu quả sau này vì làm
sai lệch dòng tiền. Đối với các doanh nghiệp xây lắp thì dòng thu hồi từ tài sản cố định vào năm cuối là khá lớn. Khoản thu này là từ các máy móc thi
cơng cơng trình. d. Trang thiết bị của ngân hàng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu
trong thời đại mới. Mặc dù như đã nói ở trên ngân hàng cũng đầu tư mua sắm nâng cấp
điều kiện cho các phòng làm việc. Tuy nhiên những trang thiết bị hiện có của ngân hàng chưa thể thỏa mãn là một ngân hàng hiện đại. Trong phòng đảm
bảo mỗi người một máy tính nhưng chỉ có một số máy được quy định kết nối internet vì ngân hàng sợ việc truy cập có thể dẫn đến khả năng máy tính bị
nhiễm virút ảnh hưởng đến dữ liệu của ngân hàng. Điều này làm giảm sự nhanh nhậy trong thu thập thông tin.
e. Khâu tổ chức và quản lý thẩm định chưa khoa học. Chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa phòng tín dụng và phòng thẩm
định. Trong ngân hàng có hai phòng cùng thực hiện cơng tác thẩm định là phòng thẩm định và phòng tín dụng. Tuy nhiên sự phối hợp này chưa được
thực hiện tốt. Bởi vì phòng tín dụng sẽ cung cấp những thơng tin về dự án cho phòng thẩm định nhưng hai phòng lại có những đánh giá hồn tồn độc lập,
khơng có sự trao đổi thảo luận trong quá trình làm việc. Mỗi phòng đứng trên
Nguyễn Thị Vinh Kinh tế đầu tư 45B
quan điểm khác nhau để đánh giá dự án. Thẩm định là cơng việc khó đòi hỏi sự liên kết trong tồn hệ thống ngân hàng. Trong cơng tác thẩm định sẽ phát
sinh nhiều vấn đề nếu có những trao đổi thường xuyên thì chắc chắn những kết luận đưa ra tăng thêm độ chính xác. Thực chất hiện nay cả hai phòng cùng
làm cơng việc thẩm định là khơng hợp lý vì như vậy chỉ có theo chiều rộng mà không theo chiều sâu. Nên tốt nhất ngân hàng nên tập trung vào một đầu
mối và tạo ra sự liên kết giữa đầu mối đó với các phòng khác trong hệ thống. Hiện nay ngân hàng chưa có một nguồn kinh phí nào để thanh tốn cho
những chi phí phát sinh trong công tác thẩm định. Đối với các dự án thuộc lĩnh vực xây lắp muốn thẩm định tốt cần có những thơng tin về nhiều lĩnh vực
như luật đất đai, luật xây dựng, luật đấu thầu… mỗi dự án khác nhau được thiết kế và xây dựng riêng, vì vậy chi phí phát sinh theo sẽ khác nhau. Nguồn
kinh phí thẩm định hiện nay chỉ là trả lương cho cán bộ, những khoản chi phí khác như mua thơng tin và đi lại thì cán bộ tự chi. Với kinh phí như vậy thì
khó có thể đảm bảo tốt cho chất lượng thẩm định.

2.6.3. Nguyên nhân.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (74 trang)

×